Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 90 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÝ XUÂN PHONG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BÈN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÝ XUÂN PHONG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BÈN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN ĐÌNH CHÚC


HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám
đốc, các khoa, phòng và quý thầy, cô giáo của Học viện Khoa học Xã hội đã
hỗ trợ, tạo điều kiện giúp đỡ bản thân tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS. Nguyễn Đình
Chúc là người đã hướng dẫn trực tiếp giúp tôi nghiên cứu hoàn thành luận văn
với tinh thần trách nhiệm cao và rất tận tình, chu đáo.
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Ủy ban nhân dân
huyện, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng
Nam và bạn bè, đồng nghiệp đã thường xuyên động viên, hỗ trợ cho tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Tuy có sự cố gắng rất nhiều trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn
này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, bản thân tôi rất mong nhận được sự
góp ý của quý thầy, cô và bạn bè để trong quá trình thực hiện đạt được kết
quả tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng với các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình
bày trong Luận văn Thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay” là
trung thực, khách quan không trùng lắp với các đề tài liên quan trong lĩnh vực
bày.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan này.
Tác giả luận văn


Lý Xuân Phong


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM.............................................. 10
1.1 Khái quát chung về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững................ 9
1.2. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam ........................ 19
1.3. Kinh nghiệm thực hiện giảm nghèo bền vững trong nước và quốc tế ..... 29
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM
NGHÈO BỀN VỮNG Ở HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM ...... 39
2.1. Chính sách giảm nghèo bền vững ở tỉnh Quảng Nam ............................. 39
2.2. Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện
Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam thời gian qua ........................................................ 43
2.3. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam thời gian tới ........................... 57
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM TRONG THỜI GIAN TỚI ..................................... 60
3.1. Bối cảnh thực hiện chính sách sách nghèo bền vững thời gian tới .......... 60
3.2. Quan điểm và mục tiêu giảm nghèo bền vững tại huyện Quế Sơn, tỉnh
Quảng Nam ..................................................................................................... 63
3.3. Các giải pháp thực hiện hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững. ...... 64
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


BHYT

: Bảo hiểm y tế

BLĐTBXH

: Bộ Lao động – Thương binh và xã hội

CNH – HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CSXH

: Chính sách xã hội

KT-XH

: Kinh tế - Xã hội

HĐND

: Hội đồng nhân dân

HS-SV

: Học sinh – sinh viên

MTTQ


: Mặt trận Tổ quốc

NĐ-CP

: Nghị định Chính phủ

NQ-CP

: Nghị quyết Chính phủ

NQ-HĐND

: Nghị quyết – Hội đồng nhân dân

NQ/HU

: Nghị quyết Huyện ủy

NQ/TU

: Nghị quyết/Tỉnh ủy

QĐ-TTg

: Quyết định – Thủ tướng

QĐ-UBND

: Quyết định - Ủy ban nhân dân


THCS

: Trung học cơ sở

TTLT-BTC-BLĐTBXH

: Thông tư liên tịch - Bộ Tài chínhBộ Lao động - Thương binh và Xã hội

TNCS

: Thanh niên cộng sản

THPT

: Trung học phổ thông

TW

: Trung ương

UBND

: Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng hợp các hộ theo thành phần nghèo và phân chia khu vực
tại huyện Quế Sơn qua số liệu nghiên cứu từ kết quả tổng điều tra qua các
năm 2016, 2017, 2018 ..................................................................................... 45

Bảng 2.2. Tổng hợp các hộ nghèo theo nguyên nhân nghèo tại huyện Quế
Sơn qua số liệu nghiên cứu từ kết quả tổng điều tra theo chuẩn nghèo giai
đoạn 2016-2021 ............................................................................................... 48


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại mỗi quốc gia đều tồn tại một bộ phận đói nghèo với tính chất, mức
độ nghèo đói của từng quốc gia có sự khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện tự
nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia đó. Mỗi
quốc gia đều có một khái niệm riêng xác định mức độ đói nghèo và có các
tiêu chí đánh giá mức độ đói nghèo và giới hạn đói nghèo. Xóa đói giảm
nghèo là vấn đề đặt ra đối với toàn thế giới, nằm trong chương trình nghị sự
của Liên hợp quốc và trong các chiến lược phát triển của tất cả các nước, đặc
biệt là các nước đang phát triển. Đối với Việt Nam, xóa đói giảm nghèo là
một nội dung cơ bản, quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta, được cụ
thể bằng chính sách, pháp luật và chương trình phát triển kinh tế - xã hội của
Nhà nước qua các thời kỳ. Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo cho mọi người
dân, hướng đến việc mọi người dân đều có việc làm, có cơm ăn, áo mặc, được
học hành và chăm sóc về thể chất, tinh thần.
Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với tinh thần “Vì người nghèo”
mang đậm chất nhân văn đã lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội, bằng những
nội dung, hình thức thiết thực. Công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam thời
gian qua đã đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, hoàn thành mục tiêu
thiên niên kỷ. Từ giai đoạn 1993 - 2004, tỷ lệ người nghèo giảm từ 58,1%
(năm 1993) xuống còn 19,4% (năm 2004); đến giai đoạn 2011 - 2015, tỷ lệ
người nghèo giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 4,25% (năm 2016). Tính
theo chuẩn nghèo mới, đến năm 2017 tỷ lệ người nghèo giảm xuống còn 7%
(giảm 1,3% so với năm 2016). Tỷ lệ bình quân hộ nghèo ở huyện nghèo giảm
còn dưới 40%; hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển

và hải đảo, xã an toàn khu thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 3% 4% so với năm 2016.

1


Trong thời gian hiện nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn tiếp tục đẩy mạnh
thực hiện công việc xóa đói giảm nghèo để hoàn thành những mục tiêu đã
cam kết, xây dựng xã hội: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn
minh; theo đó trong giai đoạn 2016 – 2020, Chính phủ ban hành Chương trình
mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững. Các địa phương trong cả nước,
trong đó có tỉnh Quảng Nam và huyện Quế Sơn đã ban hành nhiều đề án, kế
hoạch, phương án thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2016 – 2020.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về thực hiện chương trình
mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, phong trào
"Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau" và triển
khai Tháng cao điểm "Vì người nghèo" từ ngày 17/10 đến 18/11 hằng năm,
Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành 03 Nghị quyết chuyên đề về
giảm nghèo, trong đó có Nghị quyết số 13/2017/NQ-HĐND về Quy định
chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững tỉnh Quảng Nam giai đoạn
2017 – 2021. UBND tỉnh Quảng Nam cũng đã ban hành một số Đề án phát
triển kinh tế - xã hội để hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững, từ đó giải
quyết kịp thời các vấn đề cơ bản, bức xúc của hộ nghèo, cận nghèo, thôn, xã
và huyện nghèo. Những chính sách hỗ trợ của tỉnh Quảng Nam tạo ra một
động lực mới cho công tác xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2016 – 2020.
Việc triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững trên địa
bàn huyện Quế Sơn trong những năm qua đã huy động được các nguồn lực xã
hội, góp phần thúc đẩy giảm nghèo nhanh và bền vững, giải quyết các vấn đề,
bức xúc của hộ nghèo, cận nghèo về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, khám, chữa
bệnh, học tập, vay vốn… Với quyết tâm của cả hệ thống chính trị và các tầng

lớp nhân dân, công tác giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 trên địa
bàn huyện Quế Sơn đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Năm 2016 toàn

2


huyện có 2.921 hộ nghèo, tỷ lệ 10,31%, đến cuối năm 2018 đã giảm còn
1.845 hộ nghèo, tỷ lệ 6,36%, giảm 1,7% so với năm 2017 (năm 2017 có 2.309
hộ nghèo, tỷ lệ 8,06%).
Tuy nhiên kết quả giảm nghèo nói chung chưa thực sự vững chắc, tỷ lệ
tái nghèo hàng năm còn cao, những hộ thoát nghèo chưa thực sự bền vững,
chênh lệch giàu - nghèo giữa các nhóm dân cư chưa được thu hẹp; tình trạng
nghèo mới phát sinh do nhiều nguyên nhân vẫn còn xảy ra; đời sống người
nghèo (đối tượng già neo đơn) vẫn còn nhiều khó khăn nhất là nhà ở, đất sản
xuất, nước sinh hoạt và vệ sinh, chăm sóc sức khỏe, thụ hưởng thông tin và
giải trí còn hạn chế. Một số chính sách, chương trình giảm nghèo đã được ban
hành nhưng còn mang tính ngắn hạn, chồng chéo, chưa đúng trọng tâm, thiếu
đôn đốc kiểm tra trong công tác chỉ đạo điều hành, thiếu sự phối hợp chặt chẽ
giữa các bên có liên quan trong thực hiện chính sách giảm nghèo. Công tác
tuyên truyền, nâng cao nhận thức còn hạn chế, một bộ phận hộ nghèo còn thụ
động, có tư tưởng không muốn thoát nghèo, còn trông chờ vào chính sách của
Nhà nước, chưa có tinh thần vượt khó vươn lên thoát nghèo.
Trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo bền
vững cần phải tổ chức nghiên cứu, tổng hợp và đánh giá kết quả triển khai
thực hiện để xem xét tính hiệu quả cũng như những hạn chế cần bổ sung sửa
đổi để chính sách giảm nghèo thực sự hiệu quả. Do đó, phân tích đánh giá
việc thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quế
Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay là rất cần thiết cho công tác lãnh đạo, điều
hành thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững.
Từ tình hình thực tế và xuất phát từ quá trình thực hiện chính sách giảm

nghèo bền vững đang được mọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội quan tâm cùng
với mong muốn đề tài này sẽ góp phần giúp các cấp, các ngành, các địa
phương về phương pháp tiếp cận các lý luận về chính sách giảm nghèo bền

3


vững ở Việt Nam. Đồng thời, qua nghiên cứu đánh giá thực trạng tổ chức
thực hiện các chính sách giảm nghèo từ thực tiễn huyện Quế Sơn, rút ra
những bài học kinh nghiệm, cách làm sáng tạo cũng như những mặt còn hạn
chế, những bất cập (nếu có) từ quá trình triển khai thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững trên địa bàn, nhằm đề xuất các giải pháp tiếp tục thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững trong thời gian tới. Chính vì vậy, tôi chọn
nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn
huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay” làm luận văn cho chương trình
thạc sỹ chính sách công của mình. Những nghiên cứu, đánh giá của đề tài này
hy vọng sẽ đóng góp vào cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nhìn nhận đúng đắn
việc triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại cơ sở, giúp các
nhà hoạch định chính sách kịp thời bổ sung, sửa đổi các chủ trương phù hợp
với tình hình thực tiễn đời sống xã hội. Đồng thời, đóng góp thực chất vào
việc triển khai chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quế Sơn
thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, việc nghiên cứu về tình trạng đói nghèo và thực
hiện chính sách giảm nghèo bền vững đã được nhiều học giả quan tâm với
nhiều công trình nghiên cứu với các bài viết trên các tạp chí, tập san, trang
báo, nhiều luận văn, các đề tài khoa học và các công trình dưới dạng tài liệu
tham khảo như:
- Luận văn của Đỗ Thị Dung (2011) đã nghiên cứu về nội dung lý
luận xóa đói giảm nghèo; thực trạng của việc thực hiện công tác xóa đói

giảm nghèo trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam; nghiên cứu về
kết quả đạt được của mỗi loại chính sách, phân tích và đánh giá những tồn
tại, hạn chế, các nguyên nhân trong thực hiện nhiệm vụ xóa đói giảm nghčo;

4


nêu ra được một số phương hướng và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở huyện
Nông Sơn.
- Luận văn của Nguyễn Minh Định (2011): Luận văn này đã tập trung
nghiên cứu cơ sở lý luận về các chính sách xóa đói giảm nghèo; đánh giá,
phân tích và kết quả thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo; phân tích
và đánh giá kết quả triển khai thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo
trên địa bàn tỉnh Kon Tum; nêu lên được một số tồn tại và nguyên nhân của
từng chính sách; đề ra được một số giải pháp để hoàn thiện chính sách xóa đói
giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
- Luận văn của Mai Tấn Tuân (2015): Tập trung nghiên cứu một số lý
luận chung về chính sách giảm nghèo bền vững; kết quả đạt được của từng
chính sách và những hạn chế, tồn tại trong thực hiện công tác giảm nghèo bền
vững trên địa bàn Quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng. Đề ra các giải pháp
thực hiện tốt hơn các chính sách giảm nghèo cho người dân đô thị.
- Với tập sách “Chính sách xóa đói giảm nghèo - Thực trạng và giải
pháp” của PGS.TS. Lê Quốc Lý chủ biên, xuất bản năm 2012: Tác giả đã tổng
hợp, phân tích cụ thể những vấn đề lý luận và thực tiễn về tình hình nghèo
đói, về công tác xói đói giảm nghèo trên thế giới và ở Việt Nam. Đánh giá
khái quát cao về tình hình và kết quả thực hiện các mục tiêu xóa đói, giảm
nghèo ở nước ta trong thời gian qua và những giải pháp, định hướng lớn của
Đảng và Nhà nước ta trong những năm đến. Đúc kết và trình bày hết sức khoa
học về những kinh nghiệm, cách làm hay, các mô hình hiệu quả trong quá
trình triển khai thực hiện chủ trương, chính sách giảm nghèo. Đây là cuốn

sách bổ sung những luận cứ quan trọng cho công tác hoạch định chính sách
xóa đói, giảm nghèo rất hữu ích cho việc nghiên cứu, học tập và triển khai
thực hiện công tác giảm nghèo ở các địa phương.
Các công trình nghiên cứu kể trên tuy có đề cập đến công tác giảm

5


nghèo nhưng mới chỉ đề cập đến các vấn đề xóa đói, giảm nghèo Việt Nam ở
tầm lý luận. Các vấn đề lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt
Nam còn chưa được đề cập cụ thể, chi tiết và mang tính khái quát. Những
nghiên cứu nêu trên chủ yếu đi sâu phân tích, đánh giá kết quả thực hiện từng
chính sách giảm nghèo từ trước năm 2015.
Rà soát các nghiên cứu trước đây cho thấy, chưa có công trình nghiên
cứu nào đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện các chính sách giảm nghèo đang
triển khai thực hiện trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, đặc biệt kể
từ khi thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/05/2011 của Chính phủ về
định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020. Chính
vì vậy, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài về thực hiện chính sách giảm nghèo
và chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam, trong đó khái quát các vấn
đề về lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay, cũng như kết
quả đạt được của từng chính sách giảm nghèo từ năm 2016 đến năm 2018, từ
đó đề xuất các giải pháp tiếp tục thực hiện có hiệu quả chính sách giảm nghèo
bền vững.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên
địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, kinh nghiệm của các nước và địa
phương khác, đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm thực hiện chính sách

giảm nghèo bền vững hiệu quả trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng
Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững.

6


- Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình triển khai thực hiện các chính
sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tế địa phương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: luận văn tập trung chủ yếu vào các chính sách
giảm nghèo bền vững và thực trạng thực hiện tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng
Nam.
- Phạm vi không gian: luận văn nghiên cứu vấn đề giảm nghèo bền
vững tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi thời gian: luận văn nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách
giảm nghèo bền vững trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trong Luận văn này đã kết hợp các phương pháp phân tích, thống kê,
tổng hợp ; phương pháp thu thập số liệu từ 2 nguồn đó là các tập sách, công
trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học về nông thôn và xóa đói giảm nghèo;

từ các văn kiện, nghị quyết của Đảng, các chương trình, quyết định của Chính
phủ và UBND các cấp, nhất là các kế hoạch, đề án, báo cáo của UBND và các
ngành liên quan đến công tác giảm nghèo bền vững ở nước ta nói chung và
huyện Quế Sơn nói riêng.

7


5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu chung:
Là một phương pháp tổng quát bao gồm quan điểm duy vật biện chứng
duy vật lịch sử giúp cho chúng ta thấy được các hiện tượng kinh tế - xã hội
trong trạng thái vận động và có các mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Phương
pháp này sẽ phân tích, đánh giá một cách khách quan các vấn đề nghiên cứu
như cơ cấu kinh tế, xã hội của địa phương, các điều kiện khác có tác động
gián tiếp hoặc trực tiếp đến quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo
của địa phương trong thời gian qua và những năm đến.
5.2.2. Phương pháp phân tích, thống kê
Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, chọn mẫu điều tra trên địa bàn
toàn tỉnh Quảng Nam và cụ thể là huyện Quế Sơn làm điểm nghiên cứu của
đề tài vì huyện Quế Sơn là huyện có điều kiện sản xuất rất khó khăn, phần lớn
là sản xuất nông nghiệp, là huyện có nhiều hộ nghèo
5.2.3. Phương pháp thu thập số liệu từ 2 nguồn đó là các tập sách, công
trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học về nông nghiệp, nông thôn và xóa đói
giảm nghèo; từ các Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, đại hội
Đảng bộ huyện Quế Sơn và các báo cáo tổng kết hằng năm của UBND huyện
từ 2015 đến năm 2018.
Ngoài ra, Luận văn này còn triển khai thực hiện các phương pháp tổng
hợp lý thuyết; phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết; phương pháp
phân tích tổng kết kinh nghiệm; phỏng vấn, tham vấn cán bộ trực tiếp thực

hiện công tác giảm nghèo…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững;
đồng thời vận dụng các lý thuyết về chính sách công để đánh giá việc thực

8


hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã vận dụng các lý thuyết chính sách công vào nghiên cứu
thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại địa phương và đề xuất
các giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quế Sơn.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm ba phần: mở đầu, nội dung chính về lý luận thực
hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh
Quảng Nam và phần kết luận được trình bày trong 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát chung về thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên
địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
Chương 3: Giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên
địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.

9



CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
1.1. Khái quát chung về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.1.1. Một số khái niệm
Việc nghiên cứu thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững có liên
quan đến các khái niệm, quan niệm về nghèo, nghèo đa chiều, chính sách xóa
đói giảm nghèo, chính sách giảm nghèo bền vững, thực hiện chính sách
công… Trước hết, khái niệm về nghèo được hiểu: Nghèo là sự thiếu thốn cả
về vật chất, lẫn phi vật chất, có chất lượng cuộc sống thấp, nhà cửa tạm bợ,
thiếu phương tiện sinh hoạt, không có vốn để sản xuất, không có điều kiện
tiếp cận với thông tin, không có thời gian và điều kiện để tham gia các hoạt
động vui chơi giải trí. [8, tr.12].
Còn khái niệm về nghèo đa chiều là không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu
uống, hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoạt khác, không tiếp cận thông tin
và dịch vụ mà còn không tiếp cận được đến các nguồn lực hoặc không biết và
không thể tìm ra các giải pháp cho bản thân để thoát ra khỏi tình trạng hiện có
[22, tr.2].
Chính sách xóa đói giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng,
giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động đến các chủ thể kinh
tế xã hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói thực hiện mục tiêu xóa đói giảm
nghèo, từ đó xây dựng một xã hội tốt đẹp [6, tr.19].
“Chính sách công là một tập hợp tất cả các quyết định chính trị có liên
quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể, thiết thực, có khả
năng thực hiện và giải pháp, công cụ, điều kiện để thực hiện những nội dung
mà mục tiêu tổng thể đã xác định lựa chọn đảm bảo thời gian và kết quả đạt
10


được trong một giai đoạn nhất định” (Đỗ Phú Hải, 2014).

Việc thực hiện chính sách công nói chung cũng như việc thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững bao gồm toàn bộ quá trình biến tư tưởng, ý
chính của một tập thể lãnh đạo thành những chủ trương, chính sách cụ thể
nhằm xây dựng xã hội tốt hơn và thực hiện ý tưởng cá nhân cầm quyền. Cho
nên trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách gắn liền với đời sống xã
hội và thực tiễn cuộc sống. Triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo
bền vững là đem đến cho họ nghèo những cơ hội, điều kiện thoát nghèo thiết
thực, hiệu quả nhất.
Qua các khái niệm, quan niệm về “nghèo”, nghèo đa chiều, chính sách
xói đói giảm nghèo theo hướng bền vững, có thể khái quát về chính sách giảm
nghèo bền vững ở nước ta như sau: Đó là tập hợp các quyết định, định hướng
lớn của Chính phủ Việt Nam trong đó xác định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể
cho từng gia đoạn, từng thời kỳ và hệ thống các giải pháp, công cụ chính sách
để giải quyết các vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với
người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống, thụ
hưởng an sinh xã hội giữa khu vực thành thị với nông thôn, giữa các vùng
miền, các dân tộc và cộng đồng dân cư trong quá trình tham gia thực hiện
mục tiêu giảm nghèo bền vững [21, tr.21].
Còn về chuẩn nghèo được hiểu như sau:
- Đó là mức thu nhập tương đối cố định đủ cho nhu cầu sinh sống và
chi phí thường xuyên của mỗi một hộ gia đình, còn những hộ gia đình nào có
mức thu nhập dưới mức mặt bằng chung thì xem đó là hộ nghèo. Trong đó,
chuẩn nghèo về thu nhập là một cách dùng để xác định quy mô nghèo về thu
nhập của Quốc gia, xác định đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ (gọi là
chuẩn nghèo chính sách). [18, tr.2].
- Về xem xét khía cạnh nghèo đa chiều: tức là đánh giá, xem xét về

11



mức độ thiếu hụt của mỗi một hộ gia đình trong tổng thể chung của xã hội,
mà nếu hộ gia đình thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từ 1/3 tổng
điểm thiếu hụt trở lên thì cũng xem là hộ nghèo theo tiêu chuẩn đa chiều
không phải chỉ xét về thu nhập đơn thuần như trước đây [18, tr.2]…
Trong nội dung Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo
lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 và
Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 của Thủ tướng Chính Phủ quy
định về chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020 theo cách tiếp cận mới, phù hợp
hơn, đó là sử dụng kết hợp giữa các tiêu chí nghèo về thu nhập và mức độ
thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Từ việc xem xét nghèo trên hai
bình diện trên để quy chuẩn mức sống tối thiểu cho từng thành viên trong gia
đình để thuận tiện trong việc phân loại và có các chính sách an sinh xã hội
phù hợp với các đối tượng thuộc diện hộ nghèo.
* Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo hiện nay
Ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng
cho giai đoạn 2016 - 2020. Theo đó, quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo
lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020, có hiệu lực kể từ
ngày 05/01/2016 dựa trên hai tiêu chuẩn như sau:
Xét về tiêu chí thu nhập thì những hộ gia đình ở khu vực nông thôn có
thu nhập từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống và ở khu vực thành thị có
thu từ 900.000 đồng/người/tháng trở xuống. Bên cạnh đó là tiêu chí mức độ
thiếu hụt tiếp cận 05 dịch vụ xã hội cơ bản như đó là y tế; giáo dục; nước sạch
và vệ sinh; nhà ở; thông tin; các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt 10 dịch vụ
xã hội cơ bản như tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế; sử dụng và hưởng lợi từ
bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của công dân; việc đi học đúng độ tuổi và
được đến trường của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu

12



người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng các dịch vụ
viễn thông; các phương tiện tiếp cận, thu nhận thông tin.
Còn về hộ nghèo, ở khu vực nông thôn có thu nhập bình quân đầu
người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng cộng với thiếu hụt từ 03
chỉ số tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Ở khu vực thành thị có thu
nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; có thu nhập
bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng, đồng thời
thiếu hụt thiếu hụt từ 03 chỉ số tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên [19,
tr.1].
1.1.3. Quy trình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.1.3.1. Xây dựng các chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện
chính sách giảm nghèo bền vững
Xây dựng và thực hiện việc giảm nghèo bền vững là chủ trương lớn,
dài lâu nhằm cải thiện đời sống nhân dân nên từ cơ quan hữu quan ở Trung
ương đến địa phương trong từng giai đoạn, từng năm phải xây dựng chương
trình, kế hoạch trung hạn, dài hạn triển khai thực hiện giảm nghèo bền vững
phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương nhằm
huy động các nguồn lực tham gia công tác xóa đói, giảm nghèo. Việc xây
dựng chương trình, kế hoạch thực hiện phải gắn với nhiệm vụ chính trị của
từng cơ quan và xem nhiệm vụ thực hiện chính sách giảm nghèo là trách
nhiệm chung của các cơ quan từ Trung ương đến cơ sở.
Trong quá trình triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia
giảm nghèo bền vững cần phải thành lập Ban Chỉ đạo, cơ quan chủ quản điều
hành, chủ công trong công tác phối hợp với các cơ quan liên quan; phân định
rõ trách nhiệm, quyền hạn, nhiệm vụ tổ chức thực hiện của tổ chức, cá nhân.

13



1.1.3.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách giảm nghèo bền vững cho hộ
nghèo và hộ cận nghèo
Việc tuyên truyền, phổ biến các chính sách giảm nghèo bền vững phải
thường xuyên đổi mới hình thức, cách thức phù hợp, nhất là việc sân khấu
hóa về chính sách giảm nghèo bền vững; quan tâm xây dựng và bồi dưỡng lực
lượng những người hoạt động ở cơ sở và khu dân cư để họ trở thành những
người tuyên truyền viên ngay tại địa bàn dân cư thì chất lượng, hiệu quả sẽ tốt
hơn.
Công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách giảm nghèo bền vững là
một việc làm hết sức quan trọng để các đối tượng thuộc diện hộ nghèo, cận
nghèo và mọi người dân hiểu rõ mục đích, yêu cầu của chính sách giảm
nghèo bền vững để họ tự giác thực hiện.
1.1.3.3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách giảm nghèo bền
vững
Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả, ở mỗi cấp cần phải phân
công cơ quan thường trực, cơ quan chủ trì để phối hợp với các cơ quan khác
để phân công, phân nhiệm rõ ràng trách nhiệm thực hiện các nội dung phù
hợp với nhiệm vụ chuyên môn, tránh chồng chéo cũng như thiếu sót trong
phụ trách tiêu chí.
Với cấp xã, cần phải bố trí công chức cấp xã chuyên trách công tác
giảm nghèo bền vững để theo dõi, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và tổ
chức thực hiện hiệu quả hơn.
1.1.3.4. Duy trì thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
Trong quá trình thực hiện, điều cần thiết là tính ổn định của chính sách
giảm nghèo bền vững và có sự phát triển hợp lý, nhất là các khoản kinh phí hỗ
trợ thoát nghèo bền vững, cũng như việc khen thưởng cho các hộ đăng ký
tháot nghèo phải tương xứng với thực tiễn cuộc sống.

14



Việc xây dựng và sử dụng các công cụ quản lý và huy động các nguồn
lực xã hội cần phải nhất quán, linh hoạt và kịp thời điều chỉnh không làm cho
hộ nghèo hoang mang, dao động khi có tác động của tình hình thế giới, khủng
hoảng kinh tế, hay sự thay đổi đội ngũ lãnh đạo nhất là ở địa phương.
1.1.3.5. Điều chỉnh chính sách giảm nghèo bền vững
Việc điều chỉnh, thay đổi chính sách cần phải kế thừa, trách xung đột,
mâu thuẩn với các chính sách đã ban hành; chính sách mới cần phải ưu việt
hơn, phù hợp với yêu cầu công tác quản lý và tình hình thực tế, đồng thời dễ
triển khai thực hiện hơn.
Cấp nào, cơ quan nào xây dựng và ban hành chính sách thì cấp đó, cơ
quan đó có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách cho phù hợp với tình
hình thực tiễn và sự phát triển của xã hội. Trong việc điều chỉnh có thể thay
đổi chỉ tiêu và nội dung biện pháp cũng như việc tổ chức thực hiện nhưng
không được làm thay đổi mục tiêu chính sách.
1.1.3.6. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách giảm
nghèo bền vững
Tăng cường công tác kiểm tra, giám việc triển khai thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững, nhất là việc bình xét hộ nghèo cho thật chính xác,
đúng đối tượng; việc hỗ trợ, thụ hưởng chính sách phải công bằng, khách
quan, không để lợi dụng chính sách
Qua kiểm tra, giám sát kịp thời bổ sung và hoàn thiện chính sách chưa
thực sự phù hợp; đồng thời góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện
mục tiêu chính sách cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ,
công chức giao thực hiện chính sách giảm nghèo.
1.1.3.7. Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách
giảm nghèo bền vững
Việc đánh giá, xem xét những ưu điểm, hạn chế trong quá trình triển


15


khai thực hiện chính sách là hết sức quan trọng trong công tác chỉ đạo điều
hành thực hiện chính sách cũng như việc chấp hành của các đối tượng được
thụ hưởng chính sách giảm nghèo bền vững.
Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, cơ sở phải thường
xuyên trực báo, sơ kết đánh giá tình hình triển khai thực hiện các chính sách
trên địa bàn mình để kịp thời đề ra các giải pháp thực hiện hiệu quả hơn.
1.1.4. Việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về công
tác giảm nghèo bền vững
1.1.4.1. Cách tiếp cận
Việc tiếp cận với đối tượng thực hiện chính sách giảm nghèo cần phải
kết hợp giữ chủ thể và thành phần liên quan, trong đó cần xem xét vai trò tích
cực của người nghèo, hộ nghèo; sự tác đồng của cộng đồng dân cư sở tại; vai
trò của cán bộ làm công tác giảm nghèo.
1.1.4.2. Phương pháp thực hiện
Phương pháp kinh tế
Phương pháp tuyên truyền giáo dục
Phương pháp hành chính tổ chức
Kết hợp cả 3 phương pháp trên
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách giảm
nghèo bền vững
1.1.5.1. Yếu tố khách quan
Tăng trưởng kinh tế
Việc tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo có mối quan hệ biện
chứng với nhau: tăng trưởng kinh tế giúp tích lũy xã hội cao sẽ tạo tiền đề,
điều kiện vật chất và cơ hội để giảm nghèo. Thế nhưng, việc tăng trưởng
kinh tế và thu nhập không cân xứng giữa các nhóm đối tượng sẽ đẫn đến
phân hóa giàu nghèo nên cần được phân phối và phân phối lại một cách cân


16


bằng, hợp lý. Việc tăng trưởng kinh tế sẽ là yếu tố tích cực tác động đến
giảm nghèo bền vững nhất là việc kêu gọi hỗ trựo, đầu tư giúp hộ nghèo
phát triển kinh tế.
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
Công nghiệp hóa và đô thị hóa là quá trình tất yếu trong tiến trình phát
triển, đi liền với đó là việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thu hồi đất
(hoặc mua lại đất) để phát triển công nghiệp, dịch vụ và xây dựng các công
trình công cộng thường xuyên diễn ra. Điều này tác động lớn đến người lao
động, nhất là khi mà sinh kế của họ gắn liền với đất đai, việc chuyển đổi nghề
nghiệp tại chỗ gặp không ít khó khăn, hoặc họ bị đẩy ra khu ven đô hay đi tìm
kiếm việc làm ở các thành thị… nhưng cũng đều là với mức thu nhập không
ổn định, vững chắc và gặp nhiều rủi ro về kinh tế (thu nhập bấp bênh, không
ổn định,..) và xã hội (sức khỏe, tệ nạn xã hội...)
Môi trường bị suy thoái, ô nhiễm và thiên tai
Một bộ phận lớn dân cư ở các quốc gia nông nghiệp, cuộc sống của họ
chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và chịu ảnh hưởng lớn của môi trường
tự nhiên (đất đai, nguồn nước...). Nên khi môi trường bị suy thoái, thiên tai,
dịch bệnh phát triển dẫn đến giảm năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi
làm cho thu nhập của người dân giảm xuống. Hệ quả tất yếu là tình trạng đói
nghèo diễn ra. Ngoài ra những yếu tố bất lợi và thiệt hại do thời tiết cực đoan,
thiên tai, dịch bệnh... làm cho giảm thu nhập hoặc lâm vào nợ nần do phải vay
mượ để đầu tư sản xuất dẫn đến tiếp tục nghèo đói. Sự biến đổi khí hậu diễn
ra trên diện rộng với các kiểu khí hậu cực đoan sự cố môi trường (sạt lở đất,
lũ ống, lũ quét..) tác động ngày càng nhiều, càng rộng làm tác động lớn đến
các nhóm người yếu thế hơn trong xã hội, làm cho hiện tượng đói nghèo càng
gia tăng. [12].


17


1.1.5.2. Yếu tố chủ quan
Những hạn chế và bất cập trong xây dựng và triển khai thực hiện chính
sách phát triển
Trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, có lúc có những hạn
chế, bất cập trong việc hoạch định chủ trương, chính sách cho các vùng miền,
đối tượng xã hội và khi triển khai thực hiện chưa quan tâm giải quyết các vấn
đề tồn tại mà chính sách đề ra, cũng như bỏ qua, bỏ rơi, ít quan tâm chú ý đầu
tư cho khu vực, địa bàn hay nhóm người nào đó hay trong phân phối lại các
kết quả phát triển lại bỏ qua hoặc ít quan tâm chú ý tới họ trong thời gian dài
dẫn đến một bộ phận dân cư, địa bàn dần rơi vào tình trạng đói nghèo. Bên
cạnh đó, tình trạng tham nhũng khi tổ chức thực hiện chính sách, nhất là các
chế độ trợ cấp cho người nghèo, hỗ trợ phương tiện sản xuất... làm cho công
tác xóa đói, giảm nghèo thêm khó khăn hơn [21, tr.17].
Nhận thức và kỹ năng
Nhiều hộ nghèo và người nghèo còn có tư tưởng an phận và do số phận
định đạt, an bày mà không có sự cố gắng vươn lên; tâm lý thụ động, trông chờ
vào sự giúp đỡ của chính quyền, nhà hảo tâm. Bên cạnh đó, cũng có hộ nghèo
có sức lao động nhưng lại hạn về năng lực trong tính toán, lập kế hoạch sản
xuất, chi tiêu nên khó thoát nghèo.
Một số hộ nghèo chưa nhận thức hết được trách nhiệm của bản thân
trong tự vươn lên thoát nghèo, tự làm giàu cho bản thân, còn mong muốn
nhận sự trợ cấp xã hội để đỡ phải đóng góp một phần kinh phí của gia đình
mình.
Những người nghèo do chưa phát huy năng lực bản thân, tận dụng sức
lực và kinh nghiệm sản xuất để nâng cao năng suất lao động, tích lũy cho gia
đình. Trình độ và hiệu quả lao động tương đối thấp nên thu nhập đem lại

không nhiều cho nên khi gặp các biến cố trong cuộc sống (bệnh tật, thiên

18


×