Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

ISRAEL mô hình quốc gia khởi nghiệp và kinh nghiệm với việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.37 MB, 96 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THI MAI LINH

ISRAEL - MÔ HÌNH QUỐC GIA KHỞI NGHIỆP
VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
Ngành: Địa lí học
Mã ngành: 8.31.05.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ NHƯ VÂN

THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm về các kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình
nào khác. Các nguồn tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủvới độ tin cậy cao
và được kiểm tra bằng TURNITIN với điểm 14%.

Thái Nguyên, 17 / 04/ 2019
Tác giả

Nguyễn Thị Mai Linh



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của TS. Vũ Như Vân cán
bộ hướng dẫn. Tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn tới BGH Trường ĐHSP - ĐH
Thái Nguyên. Cùng các thầy, cô giáo trong Khoa Địa lí, phòng Đào tạo đã giúp
đỡ, dạy bảo tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên
và tạo điều kiện giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




MỤC LỤC

Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................... iii
Danh mục các từ viết tắt ..................................................................................... iv
Danh mục các bảng, hình .................................................................................... v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................... 1

2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu .................................................... 2
3. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu .......................................................... 3
4. Khái quát lịch sử nghiên cứu đề tài ................................................................. 7
5. Những đóng góp của đề tài ............................................................................ 10
6. Cấu trúc của luận văn .................................................................................... 10
7. Từ khóa .......................................................................................................... 10
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN............................................ 11
1.1. Cơ sở lí luận ................................................................................................ 11
1.1.1. Khởi nghiệp và đặc điểm của khởi nghiệp .............................................. 11
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................ 13
1.2.1. Nội hàm khái niệm Quốc gia khởi nghiệp ............................................... 13
1.2.2. Cấu thành của một hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo gồm một số
thành phần cơ bản là: ......................................................................................... 14
1.2.3. Hệ thống chỉ tiêu khởi nghiệp ................................................................. 15
1.3. Quan điểm và cách tiếp cận nghiên cứu ..................................................... 16
1.3.1. Tính đặc thù trong nghiên cứu một vấn đề xã hội ................................... 16
1.3.2. Tiếp cận kép trong nghiên cứu ................................................................ 18
1.4. Nghiên cứu MHQGKN trong điều kiện CMCN 4.0 .................................. 19
1.4.1. Mô hình / Khung nhận thức ..................................................................... 19
1.4.2. Hành động chuyển đổi trong tư duy ........................................................ 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




1.4.3. Hành động cụ thể ..................................................................................... 24
Tiểu kết Chương 1 ............................................................................................. 26
Chương 2: NHẬN DẠNG MÔ HÌNH QUỐC GIA KHỞI NGHIỆP
ISRAEL ............................................................................................................ 27

2.1. Khái quát về lãnh thổ và môi trường địa lí ISRAEL .................................. 27
2.2. Dân cư -xã hội ............................................................................................ 30
2.2.1. Dân cư ...................................................................................................... 30
2.2.2. Người Israel - từ góc nhìn tâm thức ........................................................ 34
2.2.3. Israel - từ góc nhìn lịch sử - dân tộc học ................................................. 36
2.2.4. Sự phát triển kinh tế thần kì: Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
quốc gia khởi nghiệp Israel................................................................................ 41
2.3. Chiến lược vận dụng kinh nghiệp khởi nghiệp trong điều kiện Việt Nam....... 49
Tiểu kết Chương 2 ............................................................................................. 52
Chương 3: XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUỐC GIA KHỞI NGHIỆP VIỆT
NAM: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ .................................... 54
3.1. Đánh giá hiện trạng hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam ..................... 54
3.2. Tạo lập môi trường sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam .............................. 58
3.3. Lựa chọn Mô hình quốc gia khởi nghiệp ................................................... 61
3.3.1. Mô hình khởi nghiệp Tinh gọn ................................................................ 61
3.3.2. Tái định nghĩa Quốc gia khởi nghiệp Việt Nam ..................................... 64
3.4. Một số giải pháp xây dựng hình ảnh của QGKN Việt Nam ...................... 67
Tiểu kết Chương 3 ............................................................................................. 69
KẾT LUẬN....................................................................................................... 70
TÀI LỆU THAM KHẢO ................................................................................ 72

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Cụm từ đầy đủ


AI

:

Trí tuệ nhân tạo

BigData

:

Dữ liệu lớn

BigChain

:

Chuỗi số lớn / Sổ cái

CMCN 4.0

:

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

CN 4.0

:

Công nghiệp hóa lần thứ tư


CI

:

Chỉ số năng lực sáng tạo

IoT

:

Internet kết nối vạn vật

ICT

:

Công nghệ thông tin

ID

:

Định danh

IIC

:

Chỉ số sáng tạo


MHQGKN

:

Mô hình quốc gia khởi nghiệp

WEF

:

Diễn đàn kinh tế thế giới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Bảng:
Bảng 2.1. Phân tích SWOT Israel / Việt Nam ............................................................. 50
Bảng 3.1. Xếp hạng hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam 2017 .................................56

Hình:
Hình 1.1. Đặc điểm của hoạt động khởi nghiệp .......................................................... 13
Hình 3.1. Tình hình khởi nghiệp ở viêt nam................................................................ 54
Hình 3.2 Hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam 2017 ..................................................55
Hình 3.3. Các bước khởi nghiệp: Xây dựng / Đo lường / Đúc kết .............................. 61


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Câu chuyện phát triển kinh tế thần kì của Israel với “Mô hình quốc gia
khởi nghiệp” (MHQGKN) đang lan tỏa mạnh mẽ và truyền cảm hứng cho cộng
đồng khởi nghiệp của Việt Nam. Phía Israel cũng trực tiếp tham vấn cho nhiều
chiến dịch về khởi nghiệp cho Việt Nam. Israel đã và đang phối hợp chặt chẽ với
Chính phủ Việt Nam, với các đơn vị hỗ trợ vườn ươm khởi nghiệp và cả trực tiếp
với các startup Việt Nam bằng nhiều hình thức và đã đạt được một số kết quả nhất
định. Theo đó, một số những chuyên gia hàng đầu của Israel về khởi nghiệp sang
Việt Nam tư vấn chia sẻ kinh nghiệm cho các đơn vị liên quan.
Mới đây nhất, Đại sứ quán Israel và các chuyên gia hưởng ứng tích cực
trong sự kiện SURF - sự kiện khởi nghiệp lớn nhất của miền Trung tại Đà
Nẵng. Ngoài ra, Israel cũng đã tham gia và đồng tổ chức các hội thảo liên chính
phủ hoặc quốc tế về chính sách khởi nghiệp, rồi phải kể đến các cuộc thi sáng
tạo khởi nghiệp thường niên, khi người chiến thắng sẽ được mời sang Israel để
gặp gỡ, giao lưu với các startup trẻ khắp thế giới cũng như tham quan, tiếp xúc
với các đơn vị khởi nghiệp tiêu biểu của Israel.
Việc xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp không phải là một việc đơn
giản có thể làm trong một sớm một chiều, đòi hỏi thời gian, sự kiên nhẫn từ
phía Chính phủ cũng như các doanh nghiệp. Israel cũng vậy, để xây dựng được
một hệ sinh thái khởi nghiệp sôi động ngay từ những năm 90.
Câu chuyện về ứng dụng tìm đường nổi tiếng Waze (được Google mua
lại cách đây 3 năm với giá hơn 1 tỷ USD) là một hình mẫu tiêu biểu về tinh
thần khởi nghiệp của Israel. Đây là ứng dụng được phát triển bởi một công ty
khởi nghiệp. Một yếu tố thành công khác nằm ở tính cách của người Israel.

Người Israel không sợ thất bại, họ sẵn sàng chấp nhận thất bại bởi họ nghĩ đấy
là cơ hội để học hỏi, rút ra bài học; công ti này đã từng 3 lần thất bại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




Nền kinh tế thần kì của Israel là MHQGKN, theo nghĩa tấm gương và
kinh nghiệm, đồng thời là là nguồn cổ vũ lớn đối với Việt Nam. Theo
MHQGKN Israel, Việt Nam cần lựa chọn thông minh - tiếp cận sáng tạo
trong xây dựng MHQGKN cho riêng mình. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ có
ý nghĩa thiết thực trong việc chuẩn bị hành trang cho thế hệ trẻ bước vào thị
trường lao động một cách sáng tạo và khác biệt. Cảm hứng trước sự thần kì
của đất nước Israel, chúng tôi đã thực hiện luận văn thạc sĩ Địa lí học với đề
tài: "ISRAEL - MÔ HÌNH QUỐC GIA KHỞI NGHIỆP VÀ KINH NGHIỆM
VỚI VIỆT NAM".
2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về quốc gia khởi nghiệp,
phân tích những thành công mô hình quốc gia khởi nghiệp của Israel, từ đó rút
ra các bài học kinh nghiệm mang tính định hướng cho mô hình quốc gia khởi
nghiệp Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan một số vấn đề lí luận và thực tiễn về khởi nghiệp và
quốc gia khởi nghiệp.
- Phân tích các bài học về Israel như là một mô hình quốc gia khởi
nghiệp tiên phong.
- Phân tích, đánh giá cơ hội và thách thức nhằm làm rõ định hướng quốc
gia khởi nghiệp của Việt Nam.
2.3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các khía cạnh nguồn tài
nguyên và nhân lực khiến một quốc gia nhỏ bé nghèo nàn trở thành nền kinh tế
hùng hậu trên thế giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




- Về phạm vi: Đề tài nghiên cứu lãnh thổ trên phạm vi Israel và quốc gia
Việt Nam. Sự nghiên cứu còn mở rộng trong phạm vi nhóm các quốc gia thành
công trên con đường khởi nghiệp.
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 1948
đối với Israel và Việt Nam từ năm 1910 tầm nhìn đến năm 2025.
3. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
3.1. Quan điểm
3.1.1. Quan điểm không gian - lãnh thổ
Việc nghiên cứu các hiện tượng địa lí lãnh thổ sẽ giúp lí giải được câu
hỏi: “Tại sao lại thành công?” Khi nghiên cứu địa lí học nói chung và đi sâu
vào nghiên cứu từng khía cạnh cụ thể ở mỗi quốc gia quan điểm lãnh thổ được
coi là yếu tố quan trọng.
Vận dụng quan điểm trong nghiên cứu MHQGKN nhằm đánh giá tác
động, cơ hội của việc vận dụng các nguồn lực tự nhiên và kinh tế - xã hội theo
thời gian và không gian. Từ sự khác biệt về các điều kiện trong bài học thành
công của các quốc gia cụ thể ở đây là Israel, chúng ta rút ra được các bài học
kinh nghiệm trong phát triển đất nước.
3.1.2. Quan điểm tiếp cận hệ thống
Tính hệ thống thể trong sự đồng bộ trong hệ thống số liệu, tài liệu, đảm
bảo tính hợp lí, logic của đề tài, được phân bổ theo cấu trúc ngang / dọc và theo
các cơ chế vận hành, cũng tức là theo chiều thuận / nghịch (kích hoạt / phản
hồi) các dòng chảy thông tin.

Theo quan điểm trên, Israel là một đơn vị độc lập, một hệ thống tự nhiên
- kinh tế xã hội nằm trong hệ thống cấp cao hơn là các quốc gia khởi nghiệp
thành công. Các ngành kinh tế theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp chúng cũng tồn
tại trong mối quan hệ trong toàn bộ hệ thống tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi
trường và con người; đất nước với thế giới bên ngoài, đặc biệt là trong môi
trường địa kinh tế / địa chính trị vùng Trung Đông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




3.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Quá trình kinh tế - xã hội luôn tồn tại, vận động, biến đổi và phát triển
trong không gian - thời gian. Nền kinh tế của Israel là một mình chứng trong sự
bứt phá về kinh tế kéo theo cả chính trị - giáo dục - xã hội trên khó khăn bất ổn
về mọi mặt trong điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội. Việc vận dụng quan điểm
này trong nghiên cứu quốc gia khởi nghiệp nhằm đưa ra các giải pháp và dự
báo tương lai.
3.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là xu hướng chung, tất yếu của toàn thế giới trong
mọi kế hoạch, chương trình, mọi dự án, mọi chiến lược phát triển...
Các ngành kinh tế không khói được mọi quốc gia đầu tư phát triển đem lại
nguồn lợi nhuận dồi dào không làm ảnh hưởng tới môi trường và hệ sinh thái.
Do đó, đầu tư phát triển các mô hình khởi nghiệp không chỉ tạo nên sự vững
mạnh trong kinh tế, đa dạng ngành nghề mà còn bảo vệ môi trường bền vững.
Cụ thể:
- Kinh tế: Tốc độ cao và tăng tưởng ổn định. Cơ cấu kinh tế công nghiệp,
nông nghiệp và dịch vụ hiện đại bậc nhất của Israel.
- Xã hội: An ninh lương thực, việc làm với nông nghiệp. Tạo điều kiện
cho các ngành công nghiệp khác phát triển.

- Môi trường: Bảo vệ tài nguyên chống suy thái và ô nhiễm môi trường.
Quán triệt quan điểm này trong nghiên cứu Quốc gia khởi nghiệp Israel
cần đánh giá thành quả kinh tế - xã hội Israel, đồng thời cũng đề ra giải pháp
đồng bộ và toàn diện để khai thác tiềm lực hiệu quả và bền vững.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích các nguồn thông tin tư liệu
Mặc dù khái niệm MHQGKN quá mới mẻ đối với Việt Nam. Điều này
về cơ bản là đúng do tác động của hai ấn phẩm "Quốc gia khổi nghiệp - Câu
chuyện về nền kinh tế thần kì của Israel" (The story of Israel's economic
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




miracle) của Dan Sejnor & Saul Singer do Trí Vương dịch, NXB Thế giới,
2015 và Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư. (The Fourth Industrial
Revolution) của Klaus Schwab (2016). Bộ Ngoại giao Việt Nam dịch và hiệu
đính, NXB Thế giới, Hà Nội, 2016.
Đề tài cần được thực hiện trên nhiều nguồn tài liệu, số liệu khác nhau,
đặc biệt từ nguồn tài liệu truy cập trên mạng internet và nguồn tài liệu xuất bản
đang phổ biến được bán rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đó
là một quá trình chuyển đổi kinh nghiệm, đòi hỏi tính kế thừa và sự tích lũy.
Phương pháp thu thập là vô cùng cần thiết để đánh giá vấn đề. Từ nguồn
thông tin thứ cấp từ các cơ quan nhà nước, các tài liệu và báo cáo của cơ quan
chức năng, các công trình nghiên cứu đã công bố, các số liệu mới cập nhật. Từ
đó, có thể đánh giá đúng thực trạng phát triển Quốc gia Israel đồng thời có
nhận định, dự báo cho sự phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.
3.2.2. Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp có hiệu quả quan trọng và cần thiết đối với việc xử
lí các tài liệu, số liệu đã thu thập được. Các tài liệu được tổng hợp lại, phân

tích, so sánh, đối chiếu để biến chúng thành số liệu đã được thống kê thành một
hệ thống tài liệu sử lí đúng đắn mang tính công trình nghiên cứu khoa học về
Quốc gia khởi nghiệp Israel trong việc phân tích, so sánh, đối chiếu với Việt
Nam để thấy được những thay đổi, đặc điểm chung và riêng biệt nhằm đưa ra
những đánh giá đúng đắn cho MHQGKN của Việt Nam.
3.2.3. Phương pháp đồ họa
Các kết quả nghiên cứu lại được thể hiện thông qua các biểu đồ, bản đồ
với ý nghĩa là những thông tin mới và phản ánh đúng đắn các kết quả đã nghiên
cứu được. Biểu đồ sử dụng để thể hiện quy mô, cơ cấu, quá trình, động lực theo
cả hai chiều không gian và thời gian, dễ hiểu, hấp dẫn hơn.
Hiện nay, Việt Nam đang xúc tiến xây dựng bản đồ số và phát triểm
mạng 5G sẽ hứa hẹn đem lại cơ hội mới cho việc đổi mới phương pháp nghiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




cứu truyền thống của Điạ lí học. Địa lí bắt đầu từ bản đồ truyền thống (mặt
phẳng hai chiều: 2.0 / không gian 3 chiều: 3.0) chuyển sang bản đố số hoá trên
cơ sở nhúng vô vàn số liệu trong sử dụng phương pháp điện toán đám mây để
tích hợp để khai thác các công cụ AI / (IoT) / BigData...
3.2.4. Phương pháp phân tích chỉ số khởi nghiệp
Việc nghiên cứu định lượng hóa vừa là đòi hỏi bắt buộc nhằm phục vụ
nhiệm vụ thực tiễn hoạch định chiến lược phát triển quốc gia khởi nghiệp. Tuy
khá trừu tượng, nhưng nhờ những nghiên cứu công phu của VCCI, vấn đề này
đã được giải quyết dưa trên cơ sớ các báo cáo Chỉ số khởi nghiệp của VCCI
xuất bản trong các năm gần đây dưới dạng ấn phẩm (2014 - 2018) và trực tuyến
(online). Đồ họa các vùng lối lõm của các chỉ số khởi nghiệp là cở sở đề chí
định các hương hành động sáng tạo và sự khác biệt.
3.2.5. Phương pháp phân tích SWOT

Phương pháp phân tích SWOT (phân tích các mặt mạnh / yếu, cơ hội /
thách thức) là một công cụ đem lại hiệu quả trong ngiên cứu vận dụng các bài
học kinh nghiệm từ MHQGKN Israel với mục đích cuối cùng là hoạch định
chiến lược, chính sách và giải pháp xây dựng quốc gia khởi nghiệp ở Việt Nam.
Chúng tôi cho rằng phương pháp SWOT cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng
tạo nhằm xác định ưu tiên các hai cặp mạnh - yếu / cơ hội - thách thức trong
điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0).
Nhiều khái niệm mới cần được làm rõ trước khi đi vào phân tích chiến
lược, trong đó ưu tiên hàng đầu là làm sáng tỏ sự chuyển đôi mô hình tư duy về
StartUp Nation. Điều đó có nghĩa là việc học tập vận dụng kinh nghiệp, về bản
chất, là sự chuyển đổi bài học kinh nghiệp khởi nghiệp của Israel sang hành
động khởi nghiệp trong điều kiện Việt Nam với đòi hỏi cao hơn về sự sáng tạo
và khác biệt trên cơ sở phân tích sự tương đồng và khác biệt hoàn cảnh lịch sử,
địa lí và con người hai nước Israel và Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




4. Khái quát lịch sử nghiên cứu đề tài
Israel là một MHQGKN rất phù hợp với các quốc gia có điều kiện địa lí,
lịch sử, tự nhiên - xã hội phức tạp, nhất là trong điều kiện xung đột tôn giáo và
lợi ích của các thể lực bên ngoài. Trên cơ sở phân tích và tổng hợp những
nguồn tư liệu thông tin có độ tin cậy cao. Đó là: Dan Senor & Saul Singer
(2016). Quôc gia khởi nghiệp, Câu chuyện về nền kinh tế thần kì của Israel, Trí
Vương Dịch, NXB Thế giới, 2015.[81] / Nguyễn Hiến Lê (2018). Bài học
Israel - Cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc thông minh nhất thế giới. NXB Hồng
Đức, Hà Nội, 2018. [13] / ISRAEL (2002). Trinh Duy Hòa biên dịch. NXB
Tuổi trẻ, Tp HCM, 2002. [10] / Sloma Shoham (2018). Israel đã kiến tạo
tương lai thế nào ? Biên dịch Trần Thảo Nam, Nxb Thế giới. Hà Nội. [16].

Trong số các tài liệu về đề tài Quốc gia khởi nghiệp, là ấn phẩm "Star-up
Nation: The story of Istrael 's economic miracle" của Dan Senor & Singer. Tại
ấn phẩm này, chúng tôi cho rằng, như lời giới thiệu của Nhà Xuất bản tại lần tái
bản năm 2018. Ấn tượng nhất về ấn phẩm này là nội dung đoạn comment của
một độc giả trên mạng internet: "Cuốn sách cho thấy sự quan sát sâu sắc đối
với sự phát triển của Israel, không chỉ từ triển vọng phát triển công nghệ, mà
quan trọng hơn là từ một triển vọng tiến hóa lịch sử, lời kể từ các nhà văn là thú
vị nhưng hấp dẫn. Tôi đặc biệt thích phong cách - nhà văn cho thấy ý kiến từ
các nhân vật chủ chốt khác nhau từ các cuộc phỏng vấn. Điều này cho biết
người viết có kinh nghiệm như thế nào và giới thiệu mạng xã hội rộng lớn của
mình, cả hai điều này đều thêm uy tín cho cuốn sách. Từ cuốn sách, tôi đã học
được rất nhiều về lịch sử của người Israel (mà tôi không biết trước khi đọc,
hoặc không phải ở dạng cấu trúc như vậy) và quan trọng hơn là các nền văn
hóa tinh tế trong cuộc sống hàng ngày của người Israel và đó là văn hóa + lịch
sử làm nên Israel bây giờ. Nó rất giống với sự phát triển của Thung lũng
Silicon - văn hóa và lịch sử. Tôi đặc biệt giới thiệu cuốn sách này cho những ai
quan tâm đến việc tìm hiểu Israel nhiều hơn, về văn hóa và quá khứ tiến hóa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




Khía cạnh nhỏ của cuốn sách là nó không đề cập nhiều đến niềm tin của người
dân khu vực đối với cuộc sống của người Israel, như niềm tin sống trong máu
của họ. Sẽ thật tuyệt khi có phần thông tin này được bao phủ rộng rãi hơn ... "[8].
Về đề tài đất nước Israel còn một số ấn phẩm rất đấng quan tâm. Đó là:
Ari Shavit (1018) Miền Đất Hứa Của Tôi - Khải Hoàn Và Bi Kịch Của Israel
(Tái Bản 2018). Biên dịch Kiều Thi Thu Hương / Võ minh Tuấn, NXB Thế
giới, Hà Nội, 2018. [1] / Alon Gratch (2018). Tâm Thức Israel. NXB Lao
Động, 2016 [2] / 4. ISRAEL (2002). Trinh Duy Hòa biên dịch. NXB Tuổi trẻ,

Tp HCM, 2006 [4] / Karen Amstrong ()2019). / Hành trình 4.000 năm Do
Thái giáo, Ki-tô giáo và Hồi giáo. Biên dịch : Nguyễn Minh Quang [5] /
Maristella Botticini, Zvi Eckstein (2018) . Tâm Thức Israel. NXB Lao Động,
Hà Nội, 2018. [7] / 8. Sloma Shoham (2018). Israel đã kiến tạo tương lai thế
nào? Biên dịch Trần Thảo Nam, Nxb Thế giới. Hà Nội. [8] / 9. Thomas
Friedman (2018) [9] / Từ Beirut Đến Jerusalem (Tái Bản 2018. Biên dịch
Đăng LY, NXB Thế giới [9]. May mắn thay cho nghiên cứu đề tái này là ấn
phẩm Nguyễn Hiến Lê (2018) "Bài học Israel - Cuộc hồi sinh vĩ đại của dân
tộc thông minh nhất thế giới". NXB Hồng Đức, Hà Nội, 2018, của tác giả Việt
Nam Nguyễn Hiến Lê, một nhà viết sử thế giới nổi tiêng. Tại ấn phẩm này,
đúng như lời giới thiệu của NXB sự thành lập quốc gia Israel quả lả một phép
màu. Một dân tộc mất tổ quốc đã hai ngàn năm, phiêu bạt khắp thế giới, ăn nhờ
ở đậu các dân tộc khác, tới đâu cũng bị hắt hủi, nghi kỵ, chịu đủ những cảnh
thảm nhục, tàn sát không sao tưởng tượng nổi; chính vì chịu những cảnh thảm
nhục tàn sát dó mà trong sáu bảy chục thế hệ, bất kì ở đâu vẫn giữ được truyền
thống tôn giảo, vẫn hướng về quê hương, sau cùng chỉ có một nhúm người, độ
nửa triệu, mà anh dũng chống mấy chục triệu dân Ả Rập, chống cả với đế quốc
Anh, lập lại được một quốc gia trên mảnh đất của tổ tiên và hai chục năm sau,
quốc gia đó chẳng những hai lần củng cố được nền độc lập, mà còn thêm hùng
cường, tân tiến, làm cho khắp thế giới phải ngạc nhiên...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




Cũng trong mảng đề tài về quốc gia Khởi nghiệp của Israel, cùng với đề
tài nói trên, còn có con hai ấn phẩm rất có giá trị về đất nước Israel của Đặng
Hoàng Xa (2018), Câu Chuyện Do Thái - Lịch Sử Thăng Trầm Của Một Dân
Tộc. (Tái Bản 2018), NXB Hồng Đức, 2018 và (2019) / Dân Tộc Được Chúa
Chọn (tái bản đổi tên từ sách Số Ít Được Lựa Chọn). NXB Hồng Đức, 2018.

Đáng chú ý trong hai ấn phẩm trên là Câu Chuyện Do Thái - Lịch Sử Thăng
Trầm Của Một Dân Tộc (Tái Bản 2018). Tác giả Đặng Hoàng Xa đã phân tích
sâu sắc một trong những vấn đề cốt lõi về nguồn gốc lịch sử của đất nước
Israel. Tác giả giải thích: "Tại sao Issrael ngày nay lại là một điểm “nóng” tại
Trung Đông và là tâm điểm chú ý của toàn thế giới , cả về những xung đột đầy
bạo lực cũng như những thành tựu về kinh tế, văn hóa và con người đến ngạc
nhiên như thế?..."[29]. Với một cuốn khảo cứu chưa đầy 300 trang dưới tiêu đề
“Câu chuyện Do Thái: Lịch sử thăng trầm của một dân tộc”, tác giả Đặng
Hoàng Xa "... đã vẽ nên một bức tranh lịch sử sống động trải dài qua 4000 năm
đầy bi thương, nhưng cũng đầy quả cảm của dân tộc Do Thái. Với óc quan sát
tinh tế, cộng với tư duy logic của người làm khoa học, tác giả Đặng Hoàng Xa
đã đưa ra cách nhìn đa chiều về các yếu tố tôn giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị,
lịch sử và có những lý giải khá thuyết phục về câu chuyện thành công của
người Do Thái cũng như quá trình hình thành và xây dựng đất nước của Nhà
nước Israel hiện đại ngày nay. Tuy câu chuyện là của người Do Thái và Nhà
nước Israel, nhưng qua đây chúng ta cũng thấy có nhiều nét tương đồng về tinh
thuần bất khuất, không chịu lùi bước trước gian khó của người Việt và người
Do Thái. Cái còn lại là câu hỏi còn bỏ ngỏ cho bạn đọc là liệu chúng ta có thể
học gì để thành công trong công cuộc phát triển và bảo vệ đất nước như người
Do Thái?”..." [28]. Trong giảng dạy và nghiên cứu Địa lí trong nhà trường Việt
Nam, đề tài về đất nước Israel thu hút sựu quan tâm đáng kể, tiêu biêu trong số
ấn phẩm được sử dụng rộng rãi là giáo trình của Ông Thị Đan Thanh (2015).
Địa lí Kinh tế - xã hội thế giới. NXB ĐHSP, Hà Nội, 2015 [20].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




Một nguồn tư liệu thông tin phong phú có thể sử dụng để nghiên cứu đối
chiếu đó là Báo cáo Chỉ số khởi nghiệp Việt Nam năm 2014. NXB của VICCI

[24] và nhiều ấn phẩm tại các WEBSITE : https:// www.chinhphu.org,vn/Hội
thảo quốc tế về Khởi nghiệp quốc gia.../ Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi
mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 / Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Việt Nam
(VCCI) các năm 2014, 2015, 2016, 2017/... Việt Nam có nhiều tiềm năng về
khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo 6/2018 / Quan hệ Việt Nam - Israel [30].
5. Những đóng góp của đề tài
Đánh giá được các nhân tố tác động làm thay đổi nền kinh tế Israel từ
một quốc gia nghèo nàn, trở thành một nước có nền kinh tế phát triển mạnh với
hàm lượng tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến nhất thế giới. Phân tích thực
trạng phát triển kinh tế Viêt Nam trên con đường học tập để trở thành một quốc
gia khởi nghiệp thành công. Rút ra bài học kinh nghiệm trong việc áp dụng
thành công của Israel với Việt nam từ đó đề xuất một số định hướng và giải
pháp khởi nghiệp ở Việt Nam.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung và kết quả nghiên cứu
gồm 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Nhận dạng Mô hình quốc gia khởi nghiệp Israel
Chương 3: Xây dựng MHQGKN Việt Nam: Định hướng và giải pháp
đột phá
7. Từ khóa
Israel / Mô hình quốc gia khởi nghiệp Israel / MHQGKN Việt Nam

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN

1.1. Cơ sở lí luận
Vấn đề quốc gia khởi nghiệp ở Việt Nam là rất mới mẻ, đòi hỏi phải trải
nghiệm và ý chí quyết tâm chiến lược rất cao.
1.1.1. Khởi nghiệp và đặc điểm của khởi nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm về khởi sự doanh nghiệp
“Khởi sự doanh nghiệp” thường được dùng ngắn gọn với hai từ “Khởi
nghiệp”, đề cập tới việc một cá nhân hay nhóm người khởi sự công việc kinh
doanh. Đối với giới học thuật, “Khởi nghiệp là quá trình một cá nhân hay nhóm
tìm kiếm và theo đuổi một cơ hội kinh doanh” hoặc đó là “quá trình sáng tạo ra
giá trị bằng cách huy động các nguồn lực để tận dụng cơ hội” hoặc đó là “quá
trình biến các ý tưởng kinh doanh ban đầu trở thành hiện thực” [24].
1.1.1.2. Khái niệm về nhà khởi nghiệp
Định nghĩa về nhà khởi nghiệp / khởi sự một doanh nghiệp
(entrepreneur) thường được hiểu với ý nghĩa là người sáng tạo hay khởi sự một
doanh nghiệp mới. Trên thực tế, nhà khởi nghiệp được áp dụng để chỉ cả những
người làm chủ hay điều hành doanh nghiệp.
“... Nhà khởi sự doanh nghiệp là những người (chủ doanh nghiệp) tìm tòi tạo ra
giá trị bao gồm “tạo ra và khai thác sản phẩm, quá trình hoặc thị trường mới”;
hay “nhà khởi nghiệp là những người có kiểm soát trực tiếp đối với hoạt động
của doanh nghiệp bởi sự sở hữu toàn bộ hoặc sở hữu một phần đáng kể cổ phần
của doanh nghiệp” [24].
1.1.2.3. Khái niệm về tinh thần khởi nghiệp
Tinh thần khởi nghiệp (entrepreneurship) còn được gọi là tinh thần
doanh nhân khởi nghiệp, là một thuật ngữ xuất hiện khá lâu trên thế giới. Nhà
kinh tế học Mỹ Peter F. Drucker cho rằng “... tinh thần doanh nhân khởi nghiệp
được hiểu là hành động của doanh nhân khởi nghiệp - người tiến hành việc biến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN





những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới thành những
sản phẩm hàng hóa mang tính kinh tế. Kết quả của những hành động này là tạo
nên những tổ chức mới hoặc góp phần tái tạo những tổ chức đã “già cỗi”. Hình
thức rõ ràng nhất của tinh thần doanh nhân khởi nghiệp là bắt đầu xây dựng
những doanh nghiệp mới” [30].
Các yếu tố cốt lõi của tinh thần khởi nghiệp là: Khả năng nắm bắt cơ hội
kinh doanh; thái độ chấp nhận rủi ro; và ý tưởng đổi mới - sáng tạo. Các nhà
nghiên cứu đã đưa ra một số đặc trưng của tinh thần khởi nghiệp là : "... (i) Có
hoài bão và khát vọng kinh doanh; (ii) Có khả năng kiến tạo cơ hội kinh doanh;
(iii) Độc lập và dám làm, dám chịu trách nhiệm; (iv) Phát triển ý tưởng sáng tạo
và đổi mới phương pháp giải quyết vấn đề; (v) Bền bỉ và dám chấp nhận rủi ro,
thất bại; và vi) Có đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội.." [6]. Từ đó, có
thể thấy động cơ chủ đạo của người khởi nghiệp trước hết là muốn khẳng định
bản thân và sau đó là muốn đóng góp cho xã hội, còn động cơ vì tiền, vì sự giàu
có chỉ là thứ yếu.
1.1.2.4. Xu thế khởi nghiệp
Khởi nghiệp là xu thế chung của các quốc gia trên thế giới, trong đó có
Việt Nam. Với nhiều người, khởi nghiệp được hiểu đơn giản là theo đuổi
những quyết định mạo hiểm trong tương lai. Thực ra khởi nghiệp là: "... quá
trình không thể thiếu trong kinh doanh nhưng do tính chất rủi ro nên không
phải DN nào khởi nghiệp cũng thành công. " [9].
Tại Việt Nam, quan điểm phổ biến nhất cho rằng, khởi nghiệp là sự bắt
đầu của một nghề nghiệp và tạo nền tảng cho một sự nghiệp.
Theo quan điểm mới nhất được trình bày tại Dự thảo Luật Hỗ trợ DN
nhỏ và vừa: “Khởi nghiệp được coi là quá trình thực hiện ý tưởng kinh
doanh, gồm quá trình thành lập và vận hành DN trong vòng 5 năm kể từ
ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu, chưa niêm yết trên thị
trường chứng khoán.”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN





Các hoạt động khởi nghiệp đều tiềm ẩn rủi ro và thực tế chỉ ra rằng,
không phải tất cả các hoạt động khởi nghiệp đều thành công. Do đó, trước khi
tập trung vào việc làm cách nào để khởi nghiệp, cần chắc chắn rằng, đã nắm bắt
được tất cả các đặc điểm của hoạt động khởi nghiệp.

Hình 1.1. Đặc điểm của hoạt động khởi nghiệp
Nguồn: [30 (i)]
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Nội hàm khái niệm Quốc gia khởi nghiệp
Khởi nghiệp - theo định nghĩa phổ quát nhất - "... đó là giai đoạn sớm
nhất trong vòng đời của mỗi doanh nghiệp khi người sáng lập ra nó hiện thực
hóa ý tưởng kinh doanh của mình". Theo Neil Blumenthal - CEO của Công ty
Warby Parker thì “... một doanh nghiệp khởi nghiệp là một doanh nghiệp bắt
đầu hoạt động để giải quyết một vấn đề còn chưa rõ ràng và thành công thì
không được đảm bảo”. Không chỉ giới hạn ở khu vực công nghiệp, khái niệm
khởi nghiệp được mở rông thành khái niệm quốc gia khởi nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




Hiểu một cách đơn giản, quốc gia khởi nghiệp "... là quốc gia dành sự ưu
tiên cho phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, trong đó có hoạt động đầu tư mạo
hiểm (đầu tư cho các ý tưởng sáng tạo và khác biệt sẵn sang châp nhận rủi ro)
nhằm phát triển kinh tế - xã hội".
Quốc gia khởi nghiệp là thuật ngữ được đề cập đến trong cuốn sách cùng

tên của Dan Senor và Saul Singer (2009) viết về sự phát triển thần kỳ của nền
kinh tế Israel từ lúc lập quốc cho đến khi trở thành quốc gia có nền công nghệ
hàng đầu thế giới. Chỉ bắt đầu hình thành từ năm 1948 với tài nguyên là con số
không, 2/3 diện tích là hoang mạc, còn lại là đồi núi cùng sự thù địch và bao
vây của thế giới Ả-rập, tại sao Israel lại có sự phát triển thần kỳ như ngày nay
với GDP đầu người đứng thứ 23 và chỉ số phát triển con người đứng thứ 18 thế
giới? Câu trả lời chính là ở tinh thần khởi nghiệp ... [8].
Theo businessdictionary.com, khởi nghiệp là "... giai đoạn đầu trong
vòng đời của một doanh nghiệp (DN) khi chủ DN đó chuyển từ giai đoạn ý
tưởng sang giai đoạn đảm bảo được nguồn tài chính, hình thành cơ cấu cơ bản
của DN và bắt đầu có những hoạt động hoặc trao đổi thương mại.." [8].
Theo Cơ quan phát triển DN nhỏ và vừa Hoa Kỳ: "... Khởi nghiệp lại là đơn vị
kinh doanh với đặc thù phát triển dựa trên định hướng công nghệ và có khả
năng tăng trưởng nhanh ..." [8].
Hiểu một cách đơn giản, quốc gia khởi nghiệp là quốc gia dành sự ưu tiên
cho phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, trong đó có hoạt động đầu tư mạo hiểm
nhằm phát triển kinh tế - xã hội. (Nguồn: TS. Nguyễn Quân - Bộ trưởng Bộ Khoa
học và Công nghệ Theo Most/Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
1.2.2. Cấu thành của một hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo gồm một số
thành phần cơ bản là:
Cấu thành hệ sinh thái khởi nghiệp gồm 4 yếu tố: (i) Nhà nước, (ii)
Các nhóm “start up, (iii) Các nhà đầu tư, (iv) Các cơ sở ươm tạo doanh
nghiệp sáng tạo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




Tại Việt Nam, thuật ngữ “khởi nghiệp” được đề cập đến trong vài năm
gần đây. Tuy nhiên chưa có văn bản nào nêu rõ khái niệm “khởi nghiệp” cũng

như còn nhiều quan điểm khác nhau về khởi nghiệp. Tuy nhiên, thời gian gần
đây “khởi nghiệp” đã được thể hiện trên thực tế qua một số chương trình và
hoạt động cụ thể do các tổ chức thực hiện như: Hội đồng Anh, Trung tâm Hỗ
trợ Thanh niên Khởi nghiệp thuộc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Hội
Doanh nhân trẻ TP. Hồ Chí Minh, Chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt
Nam - Phần Lan…
Có thể nói, khởi nghiệp tại Việt Nam đã có những bước đi đầu tiên trên
con đường hướng tới mục tiêu tạo dựng hình ảnh quốc gia khởi nghiệp trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Trong bước khởi đầu
công cuộc quốc gia khởi nghiệp, chúng ta cần tới mô hình khởi nghiệp sáng
tạo, thần kì của Israel... [6].
1.2.3. Hệ thống chỉ tiêu khởi nghiệp
Trong nghiên cứu Mô hình khởi nghiệp Israel và kinh nghiệm với Việt
Nam, phương pháp nghiên cứu định lượng hóa vừa là đòi hỏi bắt buộc cho các
nghiên cứu khoa học xã hội, đặc biệt là các nghiên cứu này phục vụ nhiệm vụ
thực tiễn hoạch định chiến lược phát triên quốc gia khởi nghiệp.
Tuy khá trừu tượng, nhưng nhờ những nghiên cứu công phu của VCCI,
vấn đề này đã được giải quyết dựa trên trên cơ sớ các báo cáo Chỉ số khởi
nghiệp của VCCI xuất bản trong các năm gần đây dưới dạng ấn phẩm (2014 2018) và trực tuyên (online). Đồ họa các vùng lối lõm theo chỉ số khởi nghiệp
là cở sở đề hoạch định chiến lược (gọi chung là GEM - 2014), chính sách khở
nghiệp một cách sáng tạo và sự khác biệt. [24] / [25] / [26] / [27]
Có thể phương pháp nghiên cứu tại GẸM - 2014 là một hình mẫu trong
nghiện cứu Hệ thống chỉ tiêu Khởi nghiệp gồm: (a) Xác định ba giai đoạn phát
triển của một nền kinh tế, (b) Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu Khởi nghiệp, (c)
Các khuyến nghị và đề xuất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN





(a) Xác định các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế
Theo GEM 2014 có 3 giai đoạn phát triển một nền kinh tế: Giai đoạn I
chủ yếu khai thác nguồn lực tài nguyên lao động sẵn có trong nước. Giai đoạn
II chủ yếu phát triển theo hướng hiệu quả kinh tế, xã hội. Theo đó người ta tính
hiệu quả đầu tư theo tỉ số với 1 USD đầu tư. Giai đoạn III: Phát triển dựa trên
đổi mới
(b) Xây dựng các chỉ tiêu cơ bản dùng trong nghiên cứu
GEM-2014 khuyến nghị: "... (1) Thái độ và nhận thức về kinh doanh.
(2) Hoạt động kinh doanh. (3) Triển vọng kinh doanh. (4) Khung hỗ trợ
kinh doanh ..." [24]
Báo cáo GEM - 2014 đưa ra một số đề xuất / khuyến nghị: "... Thứ nhất,
Việt Nam cần kiến trì chính sách ổn định kinh tế vĩ mô tạo niềm tin cho người
kinh doanh khởi nghiệp. Thứ hai, coi trọng cải cách hệ thống giáo dục quốc dân
theo hướng khai thác năng lực khởi nghiệp kinh doanh, đổi mới sáng tạo. Thứ
ba, hàm lượmg khoa học công nghệ mới là nhân tố quan trọng hàng đầu trong
kinh doanh khởi nghiệp. Thứ tư, các điều kiện kinh doanh không ngừng được
cải thiện. Thứ năm, chương trình hỗ trợ tích cực cho kinh doanh khởi nghiệp.
Thứ sáu, phổ cập kiến thức, kĩ năng khởi sự doanh nghiệp.
1.3. Quan điểm và cách tiếp cận nghiên cứu
1.3.1. Tính đặc thù trong nghiên cứu một vấn đề xã hội
Về bản chất đề tài khoa học nghiên cứu về quốc gia khởi nghiệp thuộc
loại khoa học xã hội - nhân văn. Tại đề tài “ Nghiên cứu cơ bản về bản chất
khoa học xã hội và nhân văn” nhà nghiên cứu văn hoá học Trần Ngọc Thêm
cho rằng: “ Thế kỉ XX được coi là thời kì khoa học xã hội đã thực sự chín
muồi về trí tuệ và có được sự thừa nhận rộng rãi về chính trị và thể chế.
Thế kỉ XXI trong một thế giới chính trị và toàn cầu hoá khoa học xã hội và
nhân văn sẽ trở nên lớn hơn, quan trọng hơn khoa học tự nhiên và công
nghệ để tạo lại thế cân bằng”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN





Tác giả đề xuất, đối với nhà nghiên cứu cần: (1) Hiểu rõ đặc thù của
khoa học xã hội và nhân văn của ngành mình, phát huy cái mạnh, hạn chế chỗ
yếu; (2) Nâng cao năng lực sử dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại và
phương tiện hỗ trợ, hướng đến những yêu cầu chặt chẽ của khoa học. [6] Nhìn
nhận từ góc độ khoa học nhân văn, Địa lí nhân văn Việt Nam cũng có một số đặc
điểm đặc trưng cơ bản của khoa học xã hội - nhân văn đó là: (i) Tính phiếm định
của đối tượng; (ii) Tính vụn vặt của đối tượng; (iii) Tính lệ thuộc của đối tượng và
liên ngành của khoa học; (iv) Tính đặc thù của sản phẩm nghiên cứu; (v) Tính phổ
biến về phạm vi sử dụng của sản phẩm nghiên cứu. [30]
Hệ luận từ những điều trình bày trên là việc nghiên cứu đề tài quốc gia
khởi nghiệp Việt Nam phải có cách tiếp cận khác biệt, nói theo ngôn ngữ hiện
đại, gọi chung đó là sự lựa chọn thông minh và tiếp cận sáng tạo. Cụm từ mới
mẻ này, có vẻ chưa quen nghe lắm, nhưng đã được các CEO tổng kết từ trải
nghiệm thực tế rằng mọi thành công trong sự nhiệp lớn đều phụ thuộc vào hai
yếu tố: lựa chọn thông minh, tiếp cận sáng tạo. Nguyên tắc chỉ đạo chung cho
sự khác biệt trong lựa chọn và tiếp cận sáng đó trong nghiên cứu Địa lí nhân
văn Việt Nam là: (i) Hạn chế tới mức thấp nhất có thể tính phiếm định / vụn vặt
của các giá trị địa lí nhân văn trên cơ sở tích hợp các nội dung cả hai trụ cột của
Địa lí Việt Nam là Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội. (ii) Xác định hệ các
giá trị cốt lõi cho sự kết hợp tính phổ biến / tính đặc thù của Địa lí nhân văn,
gồm: Không gian tự nhiên - lịch sử / Cư dân / Sinh kế / Văn hoá / Sinh thái
nhân văn làm cơ sở khoa học để nhận diện cấu trúc cơ bản / nền tảng cũng như
định hướng phát triển tương lai. (iii) Gắn Địa lí nhân văn Việt Nam với thực
tiễn phát triển và hội nhập quốc tế với tầm nhìn đến năm 2045, khi nước ta kỉ
niệm Quốc khánh 100 năm (2 - 9 - 1945 / 2 - 9 - 2045), Việt Nam trở thành một
quốc gia công nghiệp và hiện đại ... [5].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN





1.3.2. Tiếp cận kép trong nghiên cứu
Đề tài MHQGKN, về phương pháp luận, thực chất là khía cạnh đất nước
học. Sự thần kì của kinh tế Isrrael chính là sự thần kì về hoạt động kinh tế có
tính sống còn với đất nước này. May mắn cho chúng tôi, trong khi nghiên cứu
đất nước học Israel cũng có thể khai thác một phần trong báo cáo của TS Vũ
Như Vân trình bày tại Hội nghị quốc tế Việt Nam học với đề tài: "Tái định
dạng Địa lí KTXH Việt Nam: Tầm nhìn và cách tiếp cận Đất nước học Việt
Nam" [15]. "... Việt Nam học (Vietnamology) hay Nghiên cứu Việt Nam
(Vietnamese Studies) là ngành khoa học nghiên cứu đa chiều về Việt Nam
theo: (i) các chuyên ngành như lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, văn học, văn hoá, kinh
tế, xã hội, môi trường sinh thái…(ii) theo tính liên ngành của khu vực học.
Trong nhà trường, ngành Việt Nam học nhằm trang bị cho sinh viên những
kiến thức đại cương về khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt các kiến thức cơ
bản, hệ thống, hiện đại và thiết thực về Việt Nam học (và cả tiếng Việt trong
trường hợp sinh viên là người nước ngoài). Việt Nam học cũng cung cấp cách
tiếp cận các vấn đề về Việt Nam hoặc liên quan đến Việt Nam trong hoạt động
của các các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện, văn
phòng thương mại, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ ở trong nước và
ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Sự xuất hiện Việt Nam học, cùng với tầm nhìn, phương pháp tiếp cận
cũng như sự thu hút chú ý của xã hội, khiến chúng tôi, các nhà địa lí Việt Nam
bất giác nhìn lại đối tượng và nhiệm vụ của Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam
theo tinh thần đổi mới tư duy, trước hết là tư duy phát triển gắn với thực tiễn
đất nước. Báo cáo "Tái định dạng địa - kinh tế thế giới" do WB đề xuất tại Báo
cáo Phát triển thế giới năm 2009 cùng với Thuyết thương mại mới / Địa - kinh
tế mới của Paul Krugman, một học giả Mĩ, đoạt Giải thưởng Nôbel về kinh tế

học (2008) [4].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




×