Tải bản đầy đủ (.docx) (172 trang)

Nâng cao năng lực tư dư lý luận cho cán bộ chủ chốt ở cấp tỉnh miền nam nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (606.93 KB, 172 trang )

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

Sisouk PHONGPHICHIT

NÂNG CAO NĂNG LựC TƯ DUY Lý LUậN CHO CáN
Bộ CHủ CHốT CấP TỉNH ở MIềN NAM NƯớC
CộNG HòA DÂN CHủ NHÂN DÂN LàO HIệN NAY

LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S

H NI - 2019


HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

Sisouk PHONGPHICHIT

NÂNG CAO NĂNG LựC TƯ DUY Lý LUậN CHO CáN
Bộ CHủ CHốT CấP TỉNH ở MIềN NAM NƯớC
CộNG HòA DÂN CHủ NHÂN DÂN LàO HIệN NAY

LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S

Mó s: 62 22 03 02

Ngi hng dn khoa hc: 1. GS.TS. TRN THNH
2. PGS. TS Lấ TH THANH H



H NI - 2019


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo
quy định.

Tác giả luận án

Sisouk PHONGPHICHIT


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan những công trình đã nghiên cứu về nâng cao năng lực tư duy lý
luận cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh
1.2. Tổng quan những công trình đã nghiên cứu liên quan đến thực trạng nâng
cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh
1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các giải pháp nâng cao
năng lực tư duy lý luận của cán bộ chủ chốt cấp tỉnh
1.4. Đánh giá khái quát các công trình liên quan và định hướng những nội
dung cần triển khai giải quyết trong luận án
Chương 2: NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO CÁN BỘ CHỦ

CHỐT CẤP TỈNH Ở MIỀN NAM NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN
DÂN LÀO HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1. Tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận
2.2. Cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với cán
bộ chủ chốt cấp tỉnh
2.3. Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh - nội dung
và các nhân tố ảnh hưởng
Chương 3: NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP TỈNH Ở MIỀN NAM LÀO HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ
NGUYÊN NHÂN

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội các tỉnh miền Nam Lào hiện nay
3.2. Thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở
miền Nam Lào hiện nay
3.3. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong việc nâng cao năng lực tư
duy lý luận của cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở miền Nam Lào hiện nay
Chương 4: MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO
NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP TỈNH Ở
MIỀN NAM LÀO HIỆN NAY

4.1. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, đào tạo cán bộ
theo hướng chú trọng nâng cao năng lực tư duy lý luận
4.2. Nâng cao tính hiệu quả của công tác tổng kết thực tiễn cho cán bộ chủ
chốt cấp tỉnh ở miền Nam Lào
4.3. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện chính sách pháp luật
của Nhà nước trong việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ
chốt cấp tỉnh miền Nam Lào hiện nay
4.4. Tạo động lực kích thích cán bộ chủ chốt cấp tỉnh rèn luyện nâng cao năng
lực tư duy lý luận

KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước Lào đã và đang thực hiện sự nghiệp đổi mới. Trong sự nghiệp
đổi mới, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khẳng định rằng: trước hết phải đổi
mới tư duy, đặc biệt là tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội để trên cơ sở đó bổ
sung đường lối, chủ trương phát triển đất nước.
Trong quá trình đổi mới, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào luôn khẳng
định rằng: cán bộ có vai trò quan trọng trong việc quyết định thành công của
việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, quy định pháp luật
của Nhà nước. Mọi công việc thành công hay thất bại được quyết định bởi
người cán bộ. Thực tế đã chỉ ra: nếu không có đội ngũ cán bộ có trình độ,
năng lực, có sự trung thành, có sự vững chắc về mặt lý tưởng và là tấm gương
tiên phong cũng không thể hoàn thành công cuộc cách mạng dân chủ trước
đây và sự nghiệp bảo vệ, xây dựng phát triển đất nước hiện nay. Như chủ tịch
Cay Xỏn Phôn Vi Hản đã có ý kiến trong Hội nghị công tác tổ chức toàn quốc
lần thứ VII rằng: "Dù đường lối chính sách của Đảng có đúng thế nào đi
chăng nữa, nếu cán bộ thiếu trình độ, năng lực về các mặt để lãnh đạo tổ chức
thực hiện được đơm hoa kết trái trong thực tế thì đường lối chính sách nêu
trên cũng chỉ đúng ở trên mặt giấy mà thôi" [103, tr.6].
Sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn bảo vệ và xây dựng phát triển đất
nước rất cần có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ về số lượng và mạnh về chất
lượng. Đặc biệt, trong cơ chế phát triển kinh tế thị trường càng yêu cầu có đội
ngũ cán bộ chủ chốt có trình độ, có năng lực, kinh nghiệm ở nhiều lĩnh vực khác
nhau. Bởi, cán bộ chủ chốt là người giữ vị trí quan trọng trong cơ quan, đơn vị.

Họ là người giữ vai trò quyết định trong việc xác định chương trình, mục tiêu, kế
hoạch công tác, hoạt động của đơn vị họ lãnh đạo. Ngoài ra, họ thường xuyên
phải kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quyết định, nếu có lệch lạc phải uốn
nắn những biểu hiện đó; Trên cơ sở đó bổ sung, điều chỉnh kịp thời những tình
huống phát sinh mới; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thực


2
tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu, phương hướng hành động. Đồng thời,
cán bộ chủ chốt còn là người được tập thể suy tôn nên họ giữ vai trò quy tụ
sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây
dựng nội bộ tổ chức vững mạnh.
Để có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, mang tầm chiến lược, yêu
cầu họ phải có rất nhiều tiêu chuẩn như chuyên môn giỏi, ngoại ngữ tốt, bản
lĩnh chính trị phải vững vàng, có nhiệt huyết với công việc, tận tâm, tận lực
với dân, với nước... Nhưng trong điều kiện nước Lào đang đi lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội thì yêu cầu cán bộ lãnh đạo quản lý cần có tư duy lý luận,
đặc biệt là tư duy lý luận khoa học có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết.
Đây là yêu cầu của tổng thể của các yêu cầu về cán bộ lãnh đạo chủ chốt.
Tư duy lý luận là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của
người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, điều này được xem như là chìa khóa
giúp cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt nhận thức cũng như chỉ đạo
thực tiễn đem lại hiệu quả cao. Một đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước có đi vào cuộc sống được hay không phụ thuộc rất lớn vào
năng lực và trình độ tư duy lý luận của cán bộ chủ chốt. Tại Đại hội lần thứ IX
của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cũng khẳng định:
Trong điều kiện mới, Đảng ta mới cần thiết có đội ngũ cán bộ có
trình độ năng lực, có đạo đức, có phẩm chất về lập trường chính trị
vững vàng, có sự trung thành tuyệt đối với đất nước và sự nghiệp
của Đảng, có tinh thần phục vụ đất nước và phục vụ nhân dân bằng

sự trong sáng, có nếp sống lành mạnh và tiến bộ, có ý chí rèn luyện
chính mình và không ngừng chăm chỉ học tập nghiên cứu nâng cao
về mọi mặt, có ý thức đối với tổ chức và kỷ luật, tôn trọng, thực hiện
nghiêm túc pháp luật và quy định của Đảng [113, tr.53].
Muốn đi theo hướng xã hội chủ nghĩa thì phải nâng cao trình độ tư duy lý
luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt. Để giải quyết vấn đề đó, yêu cầu cấp bách là
đội ngũ cán bộ chủ chốt phải khắc phục được tư duy cũ lạc hậu, trì trệ, chủ


3
quan duy ý chí, giáo điều, không phản ánh quy luật khách quan, phải làm cho
các đội ngũ cán bộ chốt có tư duy mới phù hợp với nhu cầu khách quan của
thời đại, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên.
Các tỉnh miền Nam Lào có một vị trí địa chính trị quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong những năm qua, hoạt động
lãnh đạo, quản lý của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh miền Nam Lào đã thực
hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội góp phần giữ vững ổn định và phát
triển đất nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan mà
năng lực tư duy lý luận vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nhiều cán bộ lãnh đạo,
quản lý chưa có được tầm nhìn xa, trông rộng, thiếu tư duy chiến lược, tư duy
sáng tạo. Giải quyết công việc chủ yếu vẫn dựa trên tư duy kinh nghiệm. Bên
cạnh đó, các tỉnh miền Nam Lào là nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi lại
bị tàn phá nặng nề bởi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ để giải phóng dân tộc
làm cho kinh tế chậm phát triển hơn so với các vùng kinh tế khác trong cả nước.
Chính vì vậy, mặc dù vấn đề này đã được khá nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học, nhưng với mong muốn đóng góp vào việc nâng cao năng
lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh nước Lào, tôi chọn đề tài:
Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở miền Nam
nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay làm luận án tiến sĩ triết học.


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về năng lực tư duy lý luận của cán bộ chủ chốt cấp
tỉnh, luận án phân tích thực trạng và chỉ ra nguyên nhân của thực trạng năng
lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh miền Nam Lào, từ đó đề xuất
một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ
chủ chốt cấp tỉnh miền Nam Lào hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-

Khái quát tình hình nghiên cứu về tư duy lý luận, nâng cao năng lực

tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt ở Việt Nam và Lào.


4
-

Khái quát vai trò, nội dung nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán

bộ chủ chốt cấp tỉnh.
-

Phân tích thực trạng và nguyên nhân hạn chế của việc nâng cao năng

lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh miền Nam Lào hiện nay.
-

Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy lý


luận cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh miền Nam Lào hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về nâng cao năng lực lý luận cho cán bộ chủ chốt
cấp tỉnh ở miền Nam Lào.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi không gian
Luận án tập trung làm rõ thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ
cán bộ chủ chốt ở cấp tỉnh miền Nam nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
trong điều kiện hiện nay. Tập trung khảo sát trên địa bàn bốn tỉnh (tỉnh Chăm
Pa Sắc, tỉnh Xa La Văn, tỉnh Xê Công, và tỉnh Át Ta Pư).
3.2.2. Phạm vi thời gian
Tập trung nghiên cứu và sử dụng số liệu từ đổi mới (1986) đến nay nhất
là số liệu những năm gần đây.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, luận án cũng dựa trên các quan điểm, đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước CHDCND Lào, tư tưởng của chủ tịch
Cay Xỏn Phôn Vi Hản về lĩnh vực tư duy lý luận.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
-

Luận án sử dụng các phương pháp như lịch sử và lôgic, trừu tượng, và

cụ thể, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, điều tra, thống kê…

-

Luận án còn sử dụng những tài liệu của các cấp ủy đảng và chính


quyền các tỉnh miền Nam Lào.


5
4.2. Phương pháp nghiên cứu
-

Luận án sử dụng các phương pháp như lịch sử và lôgic, trừu tượng, và

cụ thể, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, điều tra, thống
kê…
-

Luận án còn sử dụng những tài liệu của các cấp ủy đảng và chính

quyền các tỉnh miền Nam Lào.
5. Những đóng góp về khoa học của luận án
-

Luận án chỉ ra nội dung của năng lực tư duy lý luận - một năng lực cơ

bản trong năng lực của người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh; làm rõ vai trò
của năng lực tư duy lý luận đối với hoạt động của cán bộ chủ chốt cấp tỉnh.
-

Luận án vạch ra thực trạng nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội

ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp tỉnh miền Nam Lào, những hạn chế và
nguyên nhân của hạn chế. Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra một số giải pháp chủ

yếu nhằm năng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
-

Ý nghĩa lý luận: Những kết luận rút ra trong luận án sẽ góp phần năng

cao trình độ tư duy lý luận và cách nhìn nhận đúng đắn vai trò của tư duy lý
luận trong hoạt động thực tiễn, khắc phục những khuyết điểm của tư duy cũ
trong đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh miền Nam Lào.
-

Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo

trong quá trình xây dựng chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước
về nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh. Đồng thời,
luận án cũng được sử dụng cho các cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận ở các
trường Đảng, trường Đại học và trong các cơ quan nghiên cứu lý luận.

7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận án được kết cấu gồm 4 chương, 14 tiết.


6
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU VỀ NÂNG
CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP TỈNH


1.1.1. Về khái niệm tư duy lý luận
Trong giáo trình cao cấp lý luận chính trị của Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, tác giả Trần Văn Phòng đã khẳng định: "lý luận khoa học là
hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh
những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện
t-ượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù" [61]. Có
nhiều loại lý luận, nhưng lý luận mà chúng ta nghiên cứu ở đây là lý luận
khoa học và tư duy lý luận là quá trình con người phản ánh hiện thực khách
quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng hệ thống
các khái niệm, phạm trù, quy luật. Trong quá trình khái quát tư duy lý luận,
chủ thể nhận thức sử dụng các công cụ nhận thức như khái niệm, phán đoán,
suy luận để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật
vận động của tự nhiên xã hội và tư duy con người.
Trong bài: "Đổi mới tư duy lý luận - khâu đột phá trong sự nghiệp đổi
mới của Đảng ta" của Trần Sỹ Phán [55] cho rằng: Tư duy lý luận là hình
thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình phản ánh hiện thực khách quan
một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng các khái niệm,
phạm trù, quy luật. Quá trình tư duy là quá trình chủ thể nhận thức sử dụng
ngôn ngữ và các công cụ khái niệm để nắm bắt các mối liên hệ bên trong, bản
chất, nhằm tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận
thức.
Theo nhóm tác giả trong đề tài: "Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh hiện nay" của Nguyễn Đình Trãi [87] đã quan


7
niệm: Tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình
tiếp cận, nắm bắt, nhận thức và tái tạo hiện thực khách quan bằng lý luận,
bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, qui luật.
Trong cuốn sách: "Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh

đạo, chỉ đạo thực tiễn" của Trần Thành [80] cho rằng: Tư duy lý luận (được
hiểu theo là cái "phủ định biện chứng" của tư duy kinh nghiệm) là tư duy dựa
trên tri thức lý luận và phương pháp nhận thức khoa học.
Trong bài: "Đổi mới tư duy lý luận - khâu đột phá và cơ bản trong quá
trình đổi mới ở nước ta" của tác giả Lê Thị Thanh Hà [24] đã cho rằng: Tư
duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nó là quá trình tổng kết những tri
thức kinh nghiệm, trên cơ sở của thực tiễn và tái tạo hiện thực khách quan
bằng lý luận, bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.
Trong bài: "Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho sinh viên thông qua
giảng dạy triết học" của tác giả Nguyễn Thị Bạch Vân [91] cho rằng: Tư duy
lý luận được hình thành trên cơ sở của tư duy kinh nghiệm; đó là sự phản ánh
được các mối liên hệ "trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn
diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó" [34, tr.277]. Tư duy lý luận
có thể phân thành nhiều loại khác nhau. Mỗi môn khoa học là một hệ thống tri
thức lý luận (khác với tri thức kinh nghiệm) về bản chất bởi tư duy lý luận
dựa trên cơ sở tri thức kinh nghiệm thực tiễn điển hình cùng với sự tham gia
nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà lý luận.
Trong bài: "Tư duy lý luận chính trị của cán bộ lãnh đạo và quản lý ở
Việt Nam hiện nay" của tác giả Đặng Nguyên Hà [25] cho rằng: Tư duy lý
luận là sự hiểu biết ở trình độ lý luận (chứ không phải ở trình độ kinh nghiệm)
về thế giới nói chung và về các vấn đề xã hội nói riêng. Để đạt được kết quả
cao trong hoạt động thực tiễn, mọi người nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản
lý nói riêng cần có tư duy lý luận.
Luận án: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt
cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay" của Dương Minh Đức [22] đã


8
cho rằng, nói đến tư duy lý luận là là nói đến tư duy ở trình độ khái quát hóa,
trừu tượng hóa, phản ánh gián tiếp nhưng sâu sắc về mối liên hệ bản chất, tính

tất yếu, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng.
Trong bài: "Ph.Ăngghen bàn về những điều kiện hình thành tư duy lý
luận" của tác giả Ngô Đình Xây [93] đã cho rằng có 6 điều kiện hình thành tư
duy lý luận là: Tư duy lý luận phải được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm.
Điểm xuất phát của tư duy lý luận là kinh nghiệm. Không có kinh nghiệm thì
không có sự khám phá thực sự về nhưng quy luật tất yếu, nội tại của sự vật,
hiện tượng; Phải có giả thuyết và sử dụng giả thuyết trong quá trình hình
thành tư duy lý luận. Phương pháp biện chứng duy vật như là điều kiện không
thể thiếu để hình thành tư duy lý luận. Tư duy biện chứng là hình thức cao
nhất của tư duy lý luận. Do đó một cách tất yếu là trong quá trình hình thành
quan điểm duy vật về lịch sử, thì song song và cùng với nó là cần phải sử
dụng phương pháp nào để có thể hình thành được tư duy biện chứng duy vật;
Tư duy lý luận phải được gắn liền với sự phát triển của khoa học bởi việc gắn
với sự phát triển của khoa học sẽ giúp cho tư duy nắm được các mối liên hệ
bên trong của các sự vật hiện tượng; Tư duy lý luận phải có "bà đỡ" là thực
tiễn xã hội; Muốn có tư duy lý luận, phải có sự nghiên cứu nghiêm túc toàn
bộ lịch sử triết học. Bởi vì tư duy lý luận, ở mỗi người chúng ta, chỉ tồn tại
dưới dạng năng lực tiềm tàng và chính việc nghiên cứu một cách nghiêm túc,
khoa học toàn bộ tư tưởng triết học của nhân loại sẽ giúp cho năng lực "ấy trở
thành hiện thực". Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng
lực của người ta mà thôi. Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, mà
muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là
nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước.
Hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học đều cho rằng tư duy là vấn
đề cốt lõi, mấu chốt của lý luận nhận thức, nếu không làm rõ được bản chất
tư duy, nhận thức luận sẽ chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu cảm tính về những
thuộc tính, những mặt bên ngoài của các đối tượng nhận thức. Còn tư duy lý


9

luận là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, là sự phủ định của tư duy kinh
nghiệm. Quá trình hình thành tư duy lý luận gắn liền với sự phát triển của
khoa học, của thực tiễn lịch sử - xã hội.
1.1.2 Về vai trò của tư duy lý luận
Ph.Ăngghen cho rằng: "Dù người ta tỏ ra khinh thường tư duy lý luận
như thế nào đi nữa, nhưng không có tư duy lý luận thì người ta không thể liên
kết hai sự kiện trong giới tự nhiên với nhau được, hay không thể hiểu được
mối liên hệ giữa hai sự liên kết đó" [41, tr.508]. Theo Ph.Ăngghen, tư duy lý
luận có một vai trò đặc biệt quan trọng, vì một dân tộc muốn đứng vững trên
đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận. Đồng thời, trong
khi nhấn mạnh tới vai trò của nó, Ph.Ăngghen cũng lưu ý ngay rằng:
Tư duy lý luận của mỗi một thời đại, cũng có nghĩa là cả thời đại
chúng ta, là một sản phẩm lịch sử mang những hình thức rất khác
nhau trong những thời đại khác nhau và do đó có một nội dung rất
khác nhau. Thế cho nên cũng như bất kỳ khoa học nào khác, khoa
học về tư duy là một khoa học lịch sử, là khoa học về sự phát triển
lịch sử của tư duy con người [41, tr.487].
Trong cuốn: "Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay"
của Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt và Lê ngọc Tòng [72], các tác
giả đã cho rằng: tư duy lý luận có vai trò to lớn trong quá trình đổi mới và phát
triển đất nước. Do vậy, để đổi mới xã hội, trước hết phải đổi mới tư duy lý luận,
đặc biệt là tư duy kinh tế. Đây là tiền đề nhận thức của đổi mới. Hình thành nhận
thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
trong những hoàn cảnh, điều kiện mới của tình hình trong nước và thế giới là
điểm cốt lõi, căn bản nhất của lý luận đổi mới ở nước ta từ giữa thập kỷ 80 thế
kỷ XX cho đến nay. Thực tiễn xã hội đã khách quan hoá vai trò và tầm quan
trọng đặc biệt của lý luận và tư duy lý luận đối với sự phát triển của đất nước và
dân tộc ta. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, do đó là vấn đề cấp bách, bức xúc
đối với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản,



10
lâu dài, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Ở vị trí Đảng cầm
quyền, có trọng trách lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo xã hội đi tới chủ nghĩa
xã hội, thực hiện lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng
phải thường xuyên tự đổi mới chính mình để thúc đẩy đổi mới xã hội, mà
trước hết là đổi mới tư duy lý luận để nâng cao trình độ và năng lực lý luận
của Đảng cầm quyền.
Theo đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng thời kỳ
đổi mới đã nhấn mạnh: "Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư
duy lý luận" [36, tr.95]. Bởi, tư duy lý luận là tư duy ở cấp độ cao, dựa trên
các công cụ là khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận, hướng tới phân tích,
tổng hợp, khái quát để tìm ra bản chất, quy luật của hiện thực khách quan, từ
đó định hướng, hướng dẫn hoạt động thực tiễn của con người và sáng tạo tri
thức mới.
Trong bài: "Đổi mới tư duy lý luận - khâu đột phá và cơ bản trong quá
trình đổi mới ở nước ta" của tác giả Lê Thị Thanh Hà [24] cho rằng: tư duy lý
luận có vai trò: nắm bắt, tái tạo hiện thực khách quan không phải bằng những
khái niệm thông thường mà bằng những khái niệm khoa học trên cơ sở tổng
kết thực tiễn điển hình. Do đó, những khái niệm này giúp tư duy con người có
thể đi sâu vào bản chất sự vật, vạch ra qui luật và tính qui luật của các sự vật,
hiện tượng và dĩ nhiên quá trình này không phải là hành động giản đơn, bất
chợt, vụn vặt, rời rạc mà có quy trình, có hệ thống, mang tính chỉnh thể và
tính khái quát cao, tính lô gic chặt chẽ. Vì vậy, sản phẩm của tư duy lý luận
đạt tới trình độ lý luận. Do vậy, tư duy lý luận không những giúp cho nhận
thức của con người trở thành nhận thức lý luận khoa học mà còn chỉ ra những
phương hướng mới cho hoạt động thực tiễn của con người, làm cho hoạt động
đó mang tính chủ động, tự giác, sáng tạo hơn.
Theo Nguyễn Mạnh Cương [12] thì tư duy lý luận sản sinh ra các tri thức
gián tiếp có nội dung là những quy định tất yếu, bản chất và phản ảnh khách

thể dưới hình thức cái phổ biến. Những tri thức lý luận được duy trì và hoạt


11
động thông qua các hình thức logic như khái niệm, phán đoán và suy lý... Tư
duy lý luận là cấp độ nhận thức cao nhất của con người, có vai trò quan trọng
vượt hẳn so với tư duy kinh nghiệm trong việc chỉ đạo hoạt động thực tiễn của
con người. Với khả năng thâm nhập vô hạn vào bản chất và quy luật của thế
giới đối tượng, tư duy lý luận chỉ đạo có hiệu quả nhất đối với thực tiễn của
con người trong hiện tại và cả tương lai. Về lâu dài tư duy lý luận có thể tạo ra
những mô hình lý luận phù hợp với hiện thực khách quan chỉ đạo thực tiễn
ngày càng có hiệu quả.
Theo tác giả Nguyễn Thị Bạch Vân [91] thì: Tư duy lý luận có vai trò rất
quan trọng đối với hoạt động thực tiễn của con người. Vì vậy, để cải tạo thế
giới, làm chủ tự nhiên và xã hội thì con người cần phải có và không ngừng
nâng cao trình độ tư duy lý luận. Lý luận, các chủ trương, chính sách không ra
đời một cách trực tiếp mà là kết quả của những sự trừu tượng khoa học dựa
trên cơ sở thực tiễn.
Trong cuốn: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý
luận Mác- Lênin ở trường chính trị tỉnh" của Trần Viết Quang [68]. Tác giả
dẫn lời cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã nói: Cuộc sống ngày càng phức
tạp, nhiệm vụ khó khăn, thời đại diễn ra nhanh chóng thì lý luận càng trở nên
thiết yếu như cơm ăn và nước uống hằng ngày.
Trong cuốn: "Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới" của Trần Nhâm [49] đã
khẳng định: quá trình đổi mới ở Việt Nam trong những năm qua bắt đầu từ tư
duy lý luận. Đồng thời, đổi mới cũng giúp Đảng ta đã trưởng thành về tư duy lý
luận. Do vậy, tư duy lý luận có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình đổi
mới. Theo đó, để đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của thời kỳ
đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng ta phải
tiếp tục nâng cao hơn nữa tư duy lý luận, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của

mình, xây dựng và chỉnh đốn Đảng ta thành một Đảng trí tuệ, đủ sức giải quyết
thành công những vấn đề do cuộc sống đặt ra, xứng đáng là


12
người cầm lái, dẫn đường, vững vàng trước mọi thử thách, tiếp tục đưa sự
nghiệp đổi mới đi vào thế kỷ XXI với quyết tâm không gì lay chuyển nổi.
-

Trong cuốn: "Đổi mới phong cách tư duy" của Phạm Như Cương [13].

Cuốn sách đã chỉ ra vai trò to lớn của tư duy lý luận và khẳng định rằng: trong
quá trình đổi mới tư duy mấy năm nay mà chúng ta đang thực hiện, chính đang
đòi hỏi một sự đột phá lớn về lý luận. Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh đã
nhiều lần nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của lý luận tiền phong, về những
yêu cầu nghiêm khắc về trí tuệ và đạo đức của người làm công tác khoa học, làm
lý luận, đặc biệt là phải rèn luyện được phong cách tư duy biện chứng, bám sát
thực tiễn để kịp thời bổ sung, điều chỉnh, phát triển lý luận.

1.1.3. Nâng cao năng lực tư duy lý luận
Năng lực tư duy lý luận là một trong những phạm trù quan trọng của
nhận thức luận được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều công
trình, những bài viết đề cập đến bản chất, cấu trúc và vai trò của năng lực tư
duy lý luận, từ đó làm sâu sắc thêm lý luận nhận thức và làm cơ sở lý luận cho
việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo hiện nay.
Năng lực được hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất, "khả năng, điều kiện chủ
quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó"; thứ hai,
"phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại
hoạt động nào đó với chất lượng cao" [52, tr.656]. Tư duy là giai đoạn cao của
quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất, phát hiện ra những quy luật của sự

vật, hiện tượng. Cho nên, năng lực tư duy chính là khả năng, tập hợp những
phẩm chất sinh lý và tâm lý của chủ thể đáp ứng cho nhu cầu nhận thức thế
giới của con người.
Trong bài: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp huyện ở nước ta hiện nay" của tác giả Nguyễn Đức Quyền [71] cho rằng:
"Năng lực tư duy lý luận là khả năng tư duy về những vấn đề chung, tổng thể,
toàn vẹn, nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát
triển; đó là khả năng tư duy khoa học, sáng tạo trong sử dụng các khái


13
niệm, phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá
nhằm đem lại những tri thức mới mang tính chính xác, sâu sắc, chặt chẽ, lôgíc
và có hệ thống..., phù hợp với quy luật khách quan của hiện thực. Năng lực tư
duy lý luận có sức mạnh đưa lý luận vào cuộc sống, cụ thể hoá lý luận thành
mục tiêu, phương hướng, giải pháp khả thi để giải quyết các vấn đề của cuộc
sống một cách có hiệu quả".
Trong bài: "Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy" của
tác giả Nguyễn Ngọc Long [38] đã phân tích về năng lực tư duy lý luận và vai
trò của nó trong đổi mới tư duy, thông qua việc nâng cao năng lực tư duy là sự
ảnh hưởng đến hiệu quả công việc thực tế. Đất nước ta bắt đầu bước vào thời
kỳ đổi mới, tiến lên xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa thì việc nâng cao năng lực tư duy lý luận có ý nghĩa rất quan trọng đối
với các chủ thể kinh tế trong việc đưa ra những định hướng, chiến lược phát
triển của mình. Bài viết là tài liệu quan trọng có ý nghĩa và giá trị tham khảo
khi nghiên cứu đề tài.
Trong bài: "Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
xã hiện nay" của tác giả Hồ Bá Thâm [84] đã cho rằng: năng lực tư duy thuộc
về tư chất của chủ thể tư duy, đồng thời do môi trường kinh tế - xã hội, chính
trị xã hội, nền tảng văn hóa, khoa học của xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến

năng lực tư duy lý luận của con người. Tuy nhiên, hoạt động thực tiễn là yếu
tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy lý luận của con người.
Luận án: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ giảng viên các
trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay" của Cao
Thị Hà [23] đề cập tới năng lực tư duy lý luận là năng lực đặc trưng riêng có ở
con người. Vì thế khi nói về tư duy thường người ta cũng quan tâm đến năng
lực và trình độ tư duy của các chủ thể. Năng lực là khả năng, điều kiện chủ
quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động tâm lý nào đó; là phẩm
chất đạo đức, là quá trình tâm sinh lý tạo khả năng để hoàn thành một hoạt
động nào đó với một chất lượng cao. Năng lực tư duy còn thể hiện ở năng lực


14
nhận thức và vận dụng lý luận vào thực tiễn đời sống; ngoài ra năng lực tư
duy của chủ thể hoạt động còn biểu hiện ở chỗ biết tổng kết kinh nghiệm, khái
quát hóa kinh nghiệm thực tiễn thành lý luận và xây dựng mô hình lý luận
mới phù hợp với sự vận động và phát triển của thực tiễn.
Luận án: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo
chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay" của Dương Minh Đức
[22]. Năng lực tư duy chính là khả năng, tổng hợp những phẩm chất sinh lý và
tâm lý, trí tuệ của chủ thể đáp ứng cho nhu cầu nhận thức thế giới của con
người. Hoạt động tư duy không chỉ dừng lại ở mức độ chép lại, chụp lại mà tư
duy còn mang tính sáng tạo. Đây không những là cơ sở giúp con người có thể
hoạt động thực tiễn một cách có hiệu quả, mà còn giúp cho con người tạo ra
những cái không có sẵn, hình thành tự nhiên thứ hai của mình thông qua hoạt
động thực tiễn. Phương pháp tiếp cận vấn đề khác nhau chính là biểu hiện
trình độ khác nhau của năng lực tư duy.
Đề tài: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
quận Dương Kinh, Thành phố Hải phòng hiện nay" của Nguyễn Thành
Nguyên [51]. Tác giả cho rằng, năng lực tư duy còn thể hiện ở năng lực lựa

chọn các vấn đề có liên quan để liên kết các hình thức tư duy để trên cơ sở đó
chỉ ra một hoặc một số suy luận nhất định.
Luận án: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ giảng
dạy ở các trường chính trị tỉnh" của Nguyễn Đình Trãi [87]. Công trình cũng
nêu bật các đặc trưng cơ bản của tư duy kinh nghiệm, sự khác nhau của nó với
tư duy lý luận khoa học, năng lực tư duy lý luận và trình độ tư duy lý luận. Từ
sự phân tích sâu sắc những yếu tố cấu thành năng lực tư duy lý luận, những
yếu tố ảnh hưởng tới năng lực tư duy lý luận như tác động về mặt sinh học và
những tác động về mặt xã hội, tác giả khẳng định rằng: Năng lực tư duy nói
chung, năng lực tư duy lý luận nói riêng, chủ yếu là sản phẩm của lịch sử xã
hội, sản phẩm của môi trường hoạt động, của sự học tập và rèn luyện của chủ
thể tư duy.


15
1.2. TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN THỰC TRẠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO CÁN BỘ
CHỦ CHỐT CẤP TỈNH

Cuốn sách: "Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ
đạo thực tiễn" của Trần Thành [80] cho rằng: thực trạng hiện nay là cán bộ lãnh
đạo quản lý bị ảnh hưởng bởi tư duy kinh nghiệm, tư duy bao cấp "Ảnh hưởng
của tư duy kinh nghiệm đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh hiện nay biểu
hiện ở chỗ một số người chưa có tầm nhìn xa trông rộng, khi đề ra kế hoạch
không có một chiến lược lâu dài" [80, tr.42]. "Ảnh hưởng của lối tư duy này đối
với tầng lớp cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh hiện nay được biểu hiện

ở lối suy nghĩ, cách làm ăn đại khái; tác phong công tác luộm thuộm; đánh giá
cán bộ còn mang nặng cảm tính; tuyển người theo quen biết, họ hàng; lối
sống còn nặng về tình cảm" [80, tr.43].

Trong cuốn: "Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay"
của Tô Huy Rứa và các cộng sự [72] đã chỉ ra thực trạng và yêu cầu của tư duy
lý luận ở Việt Nam: việc đổi mới tư duy lý luận của Đảng những năm vừa qua
vẫn còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới vừa chưa theo
kịp sự phát triển nhanh chóng, sâu sắc của thực tiễn đất nước và của thế giới
trong thời đại ngày nay. Còn không ít vấn đề lý luận hết sức cơ bản của công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta chưa có câu trả lời thật sự sáng rõ.
Chẳng hạn, thời kỳ quá độ ở nước ta gồm mấy chặng, là những chặng nào, nội
dung và thời gian của mỗi chặng ra sao, tiêu chuẩn kết thúc thời kỳ quá độ là gì;
các tiêu thức để đánh giá hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nội dung cơ
bản của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta là gì;
ở nước ta có hình thành giai cấp tư sản không?... Thậm chí, một vấn đề cụ thể là
đảng viên có được làm kinh tế tư bản tư nhân không được đặt ra đã 15 năm,
nhưng đến nay vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ. Vẫn biết rằng các vấn đề đã nêu
và nhiều vấn đề khác không dễ trả lời, rằng nếu vội vàng đưa ra kết luận sai thì
còn tai hại hơn là chưa đưa ra câu trả lời, nhưng để quá chậm


16
chưa đưa ra được câu trả lời là một sự bất cập, yếu kém hiển nhiên, không thể
bào chữa [72, tr.482]. Nguyên nhân của thực trạng yếu kém về tư duy lý luận,
các tác giả trong cuốn sách cũng đã chỉ ra: Về sự chậm trễ của tư duy lý luận,
có ý kiến cho rằng phải chờ thực tiễn vận động đến mức chín muồi nhất định,
sự vật bộc lộ hết những đặc điểm cơ bản của nó mới có cơ sở để tổng kết, khái
quát thành lý luận. Nói như vậy là không có sức thuyết phục, bởi nếu như vậy
thì còn đâu vai trò hướng dẫn, soi đường của lý luận; hơn nữa, chẳng phải
Mác và Ăngghen đã từng đưa ra những kết luận lý luận nổi tiếng về cách
mạng vô sản ngay trong những ngày cuộc nội chiến ở Pháp, Công xã Pa-ri
đang diễn ra; Lênin đã rút ra nhiều kết luận vĩ đại chỉ từ một ngày lao động
thứ bảy cộng sản; những kết luận của Đảng ta về khoán sản phẩm trong nông

nghiệp cũng được rút ra khá nhanh khi thực tiễn mới diễn ra ở một số địa
phương, ý kiến còn khá khác nhau [72, tr.482].
Trong bài: "Vai trò của Triết học Mác - Lênin trong đổi mới tư duy lý
luận ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Lê Văn Quang [67] đã chỉ ra thực trạng
"tư duy lý luận Việt Nam bước đầu đã phản ánh được những phát triển mới
của thế giới, như sự phát triển của sản xuất vật chất, sự xuất hiện của kinh tế
tri thức, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại; quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra, sự thích nghi và phát triển cao của
chủ nghĩa tư bản, sự trì trệ và xuất hiện khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội
hiện thực. Nhờ phân tích cụ thể tình hình cụ thể trong sự vận động, phát triển
không ngừng của thế giới đương đại, chúng ta đã bổ sung cho mình sự hiểu
biết mới và từng bước điều chỉnh chủ trương, chính sách phát triển cho phù
hợp với thực tiễn".
Trong bài: "Tổng kết thực tiễn - một nhiệm vụ trọng yếu của công tác lý
luận hiện nay" của Nguyễn Phú Trọng [88] cho rằng: hiện nay: "công tác lý
luận vẫn còn lạc hậu, việc tổng kết thực tiễn vẫn còn yếu kém, chưa theo kịp
sự phát triển và yêu cầu của cách mạng... phương pháp tư duy vẫn chưa vươn
tới tầm biện chứng, còn dừng lại ở trình độ cảm tính, ở chủ nghĩa kinh nghiệm


17
hoặc phần nào còn mang tính thực dụng. Rất nhiều vấn đề chúng ta vẫn chưa
kết luận được". Vì vậy, đòi hỏi phải tiếp tục có những đổi mới mang tính bước
ngoặt về tư duy lý luận.
Trong bài: "Tư duy lý luận chính trị của cán bộ lãnh đạo và quản lý ở
Việt Nam hiện nay" của tác giả Đặng Nguyên Hà [25]. Ở Việt Nam hiện nay,
đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý (cán bộ lãnh đạo và quản lý thuộc hệ
thống chính trị) được hình thành từ nhiều nguồn, nhưng đều trưởng thành từ
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ được tuyển chọn và bổ nhiệm vào
các chức vụ lãnh đạo và quản lý thuộc hệ thống chính trị theo quy định chặt

chẽ và nghiêm ngặt, trên cơ sở tham gia ý kiến của nhiều tổ chức chính trị, tổ
chức xã hội và nhân dân. Đa số họ có hiểu biết nhất định về một chuyên môn
nghề nghiệp nào đó, đồng thời có hiểu biết ở trình độ cơ bản về lý luận chính
trị (trình độ sơ cấp, trung cấp, cao cấp, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ về lý luận
chính trị). Họ được trang bị kiến thức ở trình độ cơ bản về lý luận chính trị tại
các khóa học của các trường chính trị các cấp.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, trình độ tư duy lý luận chính trị của nhiều cán
bộ lãnh đạo và quản lý cũng còn những hạn chế như sau: Thứ nhất, nhiều cán
bộ thiếu hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới
nói chung, ở trong nước nói riêng. Ở một bộ phận cán bộ lãnh đạo và quản lý,
tư duy chủ yếu là tư duy kinh nghiệm (trực quan, cảm tính); tư duy lý luận
còn hạn chế. Do đó, tuy có bằng cấp, nhưng họ vẫn lúng túng trong việc
hoạch định kế hoạch công tác cũng như tổ chức thực tiễn ở địa phương mà
mình phụ trách, tức là họ có bằng cấp nhưng không có thực học; Thứ hai,
nhiều cán bộ không nắm bắt đầy đủ và chính xác tình hình thực tiễn đất nước.
Yêu cầu quan trọng và cần thiết đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý
các cấp là phải hiểu biết các mặt, lĩnh vực của đất nước và địa phương; Thứ
ba, nhiều cán bộ còn yếu kém trong việc tổng kết thực tiễn.
Luận án: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý
luận Mác - Lênin ở các trường Chính trị tỉnh" của Nguyễn Đình Trãi [87].


18
Luận án đã phân tích thực trạng về năng lực tư duy lý luận của cán bộ giảng
viên giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở các trương chính trị tỉnh một cách cụ
thể, thực tế trên cơ sở khảo sát qua những nội dung như: những điểm mạnh
chủ yếu trong năng lực tư duy lý luận của cán bộ giảng viên giảng dạy lý luận
Mác - Lênin ở các trương chính trị tỉnh hiện nay; một số biểu hiện yếu kém về
năng lực tư duy lý luận; nguyên nhân yếu kém về tư duy lý luận. Qua đó, tác
giả luận án đã khẳng định nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng

viên giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở các trương chính trị tỉnh là một yêu cầu
tất yếu của sự nghiệp đổi mới.
Trong tác phẩm: "Thực trạng tư duy lý luận của lãnh đạo quản lý nước ta
hiện nay. Trong quá trình học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh" của Nguyễn
Thế Kiệt [31]. Thực tế những năm qua cho thấy, cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước
ta đã năng động triển khai Nghị quyết của Trung ương cũng như tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn, góp phần khuyến nghị với trung ương kịp thời bổ sung, phát
triển lý luận và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cán bộ lãnh đạo quản lý vẫn còn trông chờ
sự chỉ đạo của trung ương, chưa mạnh dạn đề xuất những biện pháp sáng tạo,
phù hợp với tình hình cụ thể ở địa phương. Vì thế, nhiều vấn đề nảy sinh từ thực
tế chưa được giải quyết kịp thời khiến họ lúng túng, bị động. Trong khi đó, sự
nghiệp đổi mới của đất nước đòi hỏi phải kịp thời tổng kết thực tiễn, đề xuất
được những giải pháp góp phần chỉ đạo hoạt động thực tiễn.

Trong công trình khoa học: "Tiếp tục đổi mới công tác lý luận trong tình
hình hiện nay - vấn đề và giải pháp" của tác giả Phạm Ngọc Quang [66] đã
khẳng định:
Không thể phủ nhận thực tế là, qua thực tiễn đổi mới và học tập lý
luận, năng lức lý luận của Đảng, của dân tộc ta đã được nâng lên;
quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta ngày càng được làm rõ hơn. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý của Đảng và Nhà nước ta đã có bước trưởng thành về nhiều mặt,


19
chẳng những đã tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị,
mà còn góp phần hoạch định ra đường lối, chủ trương đổi mới đúng
đắn. Song cũng không thể không thấy rằng để đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo,

đạt mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh" trong khung cảnh đầy những biến động mạnh mẽ đang diễn ra
hiện nay, không ít vấn đề mới dã xuất hiện mà việc giải đáp chúng còn
rất chậm trễ. Một nguyên nhân quan tọng dẫn tới tình trạng đó là nhiều
vấn đề cấp bách trong lý luận và thực tiễn chưa được tổng kết, giải đáp
đến nơi đến chốn; những chủ trương, chính sách đúng đắn đã được đề
ra, song chưa được nhận thức sâu sắc, chưa thật sự thống nhất, thậm
chí chưa thông suốt, chậm được triển khai, tổ chức thực hiện hoặc thực
hiện một cách sai, kém hiệu quả... [66, tr.42-43].

Theo đó, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, càng nhiều vấn đề
cần phải lý giải từ mặt lý luận, theo đó, cần nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp trong
quá trình đổi mới.
Luận án: "Phát triển năng lực tư duy lý luận của cán bộ chính trị cấp
trung đoàn quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Văn Dũng
[15]. Luận án đã tìm hiểu thực trạng năng lực tư duy lý luận của cán bộ chính trị
cấp trung đoàn hiện nay, ảnh hưởng đến năng lực tư duy lý luận như: biểu hiện
bị động trước các tình huống phức tạp của thực tiễn về lãnh đạo, quản lý, chỉ huy
đơn vị; những khuyết điểm về kỷ luật, đoàn kết, quan hệ quân dân của đơn vị là
những khuyết điểm thường lặp lại nhưng thiếu bài học kinh nghiệm để khắc
phục triệt để, những bài học thành công chưa được phát huy và nhân rộng; năng
lực tổng kết thực tiễn xây dựng đơn vị, tổ chức cơ sở đảng, tổng kết kinh nghiệm
công tác đảng, công tác chính trị, kinh nghiệm vận động quần chúng và đoàn kết
quân dân... còn có lĩnh vực chưa được quan tâm đồng đều,


20
thiếu tính chủ động tổng kết kinh nghiệm, phát hiện vấn đề... mà thiên về máy
móc theo hướng dẫn của cấp trên, theo các đợt tổng kết của cấp trên.

Luận án: "Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay" của Dương Minh
Đức
[22]. Tác giả luận án đã chỉ ra thực trạng năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp tỉnh ở vùng Sông Hồng hiện nay có năng lực tư duy chính trị
nhạy bén. Cùng với đó, họ còn là những người có thế mạnh về kinh nghiệm chỉ
đạo thực tiễn. Đa số họ là những người có quá trình lăn lộn và trưởng thành từ
hoạt động thực tiễn tại địa phương và do vậy, ở họ luôn có những năng lực nhất
định trong việc vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào xây dựng các chủ
trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cụ thể trên địa bàn của mình. Với
năng lực này, họ có khả năng dự báo xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương để từ đó đề ra được những phương hướng, giải pháp cụ thể cho việc phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, năng lực tư duy lý luận của đội
ngũ này cũng còn một số hạn chế. Đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều,
chủ quan, tư duy lôgíc yếu. Về cơ bản, có thể nói, một phần đội ngũ cán bộ này
còn mang nặng lối tư duy theo đường mòn, duy ý chí trong suy nghĩ và hành
động, có tâm lý ngại thay đổi, ngại va chạm và khi gặp khó khăn thì thường đổ
lỗi cho khách quan, nhanh chóng quay lại cách làm cũ; lấy các mong muốn cá
nhân áp đặt cho thực tế, lấy nhu cầu, nguyện vọng chủ quan thay cho khả năng
hiện thực, lấy ý muốn, ý chí của người lãnh đạo làm điểm xuất phát, bất chấp
quy luật khách quan.

"Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận
chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các tỉnh phía Bắc Cộng hoà dân chủ
nhân dân Lào" của Khăm Phủi Chăn Thavadi [30] đã chỉ ra thực trạng nâng
cao trình độ nhận thức, lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên, cán bộ chủ chốt
của các cơ quan đảng, chính quyền các cấp và các cơ quan đơn vị trong ở các
tỉnh phía Bắc Lào. Theo số liệu thống kê từ các ban tổ chức tỉnh ủy của 8 tỉnh
phía Bắc Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao



21
trình độ lý luận chính trị được tiến hành đồng bộ ở cả 3 chương trình: đào tạo,
bồi dưỡng lý luận chính trị thời gian 45 ngày cho cán bộ cơ sở tuyến huyện,
bản và cụm bản; học tập tại các trường chính trị và hành chính tỉnh và Học
viện Chính trị quốc gia Lào theo chương trình trung cấp và cao cấp lý luận
chính trị (đối với các tỉnh phía Bắc được đào tạo ở Trường Chính trị và Hành
chính tỉnh Luông Pha Băng và Trường Chính trị và Hành chính tỉnh U Đôm
Xay). Trong các năm 2015-2017, đã có 27.730 cán bộ các cấp được tham gia
các chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị (trong đó có 2.630 cán
bộ nữ); 2.847 cán bộ (457 cán bộ nữ) tham gia các khóa bồi dưỡng và học cao
cấp lý luận chính trị; 3.160 cán bộ (621 cán bộ nữ) được bồi dưỡng và đào tạo
trình độ trung cấp lý luận chính trị; 2.772 cán bộ (619 cán bộ nữ) hoàn thành
chương trình bồi dưỡng và đào tạo trình độ sơ cấp lý luận chính trị. Đây được
coi là một kết quả quan trọng trong tổng thể công tác cán bộ của Đảng, đặc
biệt là trong đào tạo cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị của Cộng hoà
Dân chủ Nhân dân Lào nói chung và với các tỉnh phía Bắc Lào nói riêng.
Tuy nhiên, bên cạnh đó những kết quả đạt cũng cho thấy còn nhiều hạn
chế, bất cập. Ở một số tỉnh và huyện, việc tổ chức các khóa học, các lớp bồi
dưỡng còn chưa chặt chẽ về kế hoạch, việc cử cán bộ đi học chưa gắn với quy
hoạch cán bộ của cấp ủy; hệ thống quy chế, quy định về đào tạo bồi dưỡng
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ theo phân cấp có nơi còn chưa rõ rang,
cụ thể. Trong công tác giảng dạy và học tập, chất lượng đội ngũ giảng viên,
giáo viên còn chưa đồng đều, nhiều đồng chí còn hạn chế về trình độ lý luận
và kinh nghiệm, chưa đủ năng lực để giải đáp các vấn đề mới về lý luận và
thực tiễn cho học viên. Ở một số lớp học, tinh thần phấn đấu tự rèn luyện, tự
học tập của cán bộ còn thấp, chưa thực sự cầu thị. Việc bảo đảm ngân sách
cho các chương trình đào tạo cũng như chính sách cho cán bộ đi học còn thấp,
chưa đáp ứng đúng, đủ theo nhu cầu thực tế đặt ra
Luận án: "Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ đảng viên Đảng

Nhân dân Cách mạng Lào trong giai đoạn cách mạng hiện nay" của Bun Phết


×