Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

Tổ chức và hoạt động của các Ban của HĐND cấp xã từ thực tiễn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.28 MB, 92 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN TRINH

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN TRINH

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành
Mã số

: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
: 8 38 01 02


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ THƯ

HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thư. Các
số liệu, những kết luận của luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác./.
Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Trinh


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quán trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn thạc
sỹ chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính, tôi luôn trân trọng nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ, tào điều kiện thuận lợi của quý Thầy, Cô của
Học viên Khoa học xã hội đã tham gia quản lý, giảng dạy và dành thời gian
quý báu của mình để truyền đạt những tri thức, kinh nghiệm trong suốt thời
gian tôi học tập và nghiên cứu tại Học viện.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Thường trực HĐND, các
Ban Pháp chế, các Ban Kinh tế - xã hội của HĐND 7 phường ở quận Sơn Trà
đã hỗ trợ, cung cấp tài liệu, tư liệu và tào mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này, góp ý, tư vấn cho tôi về các nội dung chuyên môn trong
công tác tổ chức và hoạt động của các Ban của HĐND các phường.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thư,
thầy đã truyền đạt và hướng dẫn ngay từ khâu đầu xây dựng đề cương luận

văn đến khâu hoàn thành đề tài luận văn, xin được trân trọng bày tỏ lòng cảm
ơn sâu sắc đến thầy rất nhiều.
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình nghiên cứu. Tuy nhiên, cũng
không không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định. Bản thân tôi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để giúp tôi hoàn
thiện hơn nữa trong quá trình nghiên cứu của mình.
Xin trân trọng cảm ơn!


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN CẤP XÃ .................................................................................................. 6
1.1. Khái niệm, vị trí và vai trò của các Ban Hội đồng nhân dân cấp xã.......... 6
1.2. Tổ chức và hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã theo
quy định của pháp luật hiện hành.................................................................... 14
1.3. Những yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động của các Ban của Hội
đồng nhân dân cấp xã ...................................................................................... 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
BAN HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN PHƯỜNG TẠI QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................. 25
2.1. Ban của Hội đồng nhân dân phường trong các điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội của quận Sơn Trà ............................................................................... 25
2.2. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân
phường ở quận Sơn Trà ................................................................................... 27
2.3. Đánh giá chung về tổ chức và hoạt động của các Ban Hội đồng nhân dân
phường ở quận Sơn Trà ................................................................................... 42
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN CỦA HỘI

ĐỒNG NHÂN DÂN PHƯỜNG QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG ............................................................................................................. 51
3.1. Nhu cầu và quan điểm nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động các Ban
của Hội đồng nhân dân phường quận Sơn Trà................................................ 51
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của các Ban Hội
đồng nhân dân phường Sơn Trà ...................................................................... 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

HĐND

Hội đồng nhân dân

2

UBND

Ủy ban nhân dân


3

CQĐP

Chính quyền địa phương

4

UBHC

Ủy ban hành chính

5

UBTVQH

Ủy ban Thường vụ Quốc hội

6

UBMTTQVN

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

7

XHCN

Xã hội chủ nghĩa



DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1

SỐ LƯỢNG THÀNH VIÊN CỦA BAN PHÁP CHẾ VÀ
BAN KINH TẾ - XÃ HỘI HĐND 7 PHƯỜNG

Trang

PL

TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ CỦA CÁC
2.2

THÀNH VIÊN BAN PHÁP CHẾ VÀ BAN KINH TẾ -

PL

XÃ HỘI HĐND 7 PHƯỜNG
CƠ CẤU ĐỘ TUỔI CỦA CÁC THÀNH VIÊN BAN
2.3

KINH TẾ XÃ HỘI


VÀ BAN PHÁP CHẾ HĐND 7

PL

PHƯỜNG
2.4

2.5

2.6

SỐ LƯỢNG TỔ CHỨC CÁC CUỘC THẨM TRA CỦA
CÁC BAN HĐND
SỐ LƯỢNG TỔ CHỨC CÁC CUỘC GIÁM SÁT CỦA
CÁC BAN HĐND
SỐ LƯỢNG TỔ CHỨC CÁC CUỘC KHẢO SÁT CỦA
CÁC BAN HĐND

PL

PL

PL


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương

bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân và cơ quan Nhà nươc cấp trên.
HĐND quyết định chủ trương, biện pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã
hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Năm 2016 là năm đầu tiên thực hiện Luật Tổ chức CQĐP năm 2015,
tái lập HĐND ở quận, huyện, phường. Theo quy định của luật, đây là lần đầu
tiên HĐND cấp xã thành lập Ban Pháp chế và Ban Kinh tế - xã hội, nhằm
thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát của HĐND đồng thời giúp cho
HĐND triển khai, thực hiện có hiệu quả hoạt động giám sát của mình. Chế
định Ban của được thành lập ở cấp HĐND xã, đây là một trong những điểm
mới, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu qủa hoạt động của HĐND nói chung và
HĐND cấp xã nói riêng.
Việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động của Ban
HĐND cấp xã là vấn đề cần thiết. Nhằm đánh giá kết quả đạt được, những
hạn chế và tìm ra những nguyên nhân, hạn chế và đề ra những giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật, đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của các
Ban HĐND cấp xã. Mặt khác, bản thân tôi là công chức công tác tại HĐND
phường An Hải Bắc, nên việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này là dịp để củng
cố, bổ sung kiến thức, hiểu biết nhằm nâng cao chất lượng công tác.
Do đó, tôi chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của các Ban của HĐND
cấp xã từ thực tiễn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn Thạc
sỹ ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính.

1


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, có rất nhiều đề tài nghiên cứu, sách, bài viết đề cập đến tổ
chức và hoạt động của HĐND cấp xã, nội dung có liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến các Ban của HĐND cấp xã với nhiều giác độ tiếp cận khác nhau,
cụ thể:

- HĐND trong bộ máy Nhà nước. Nxb Chính trị - hành chính, 2013
luận chứng vị trí, vai trò và tổ chức, nhiệm vụ của HĐND - Ban Công tác đại
biểu - Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử
- Đề tài luận văn “Hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh từ thực tiễn
tỉnh Tuyên Quang” của Lý Ngọc Thanh (năm 2013).
- Đề tài luận văn “Giám sát của HĐND cấp tỉnh từ thực tiễn thành phố
Hồ Chí Minh” của Đặng Ngọc Quế Hương (năm 2014).
- “Tổ chức và Hoạt động của CQĐP - thực trạng và giải pháp” của
PGS.TS Nguyễn Minh Phương, tạp chí Tổ chức Nhà nước số 9/2005.
- Đề tài luận văn “Tổ chức và hoạt động các Ban của HĐND thành phố
Hồ Chí Minh thực trạng và kiến nghị” của Nguyễn Hồng Sơn (năm 2008).
- Tổ chức và hoạt động của các Ban của HĐND của PGS.TS Trương
Đắc Linh, nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 2/2003.
- Đề tài luận văn “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã từ thực tiễn
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (năm 2015).
- Đề tài luận văn “Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã từ thực tiễn
huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (năm 2016).
- Đề tài luận văn “Hoạt động giám sát của HĐND thành phố Đà Nẵng
hiện nay” của Trương Thị Hương Thu (năm 2018).
Những công trình nghiên cứu trên là tư liệu rất cần thiết cho việc
nghiên cứu đề tài luận văn này. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nghiên
cứu nào toàn diện, chuyên sâu về tổ chức và hoạt động các Ban HĐND cấp xã

2


nói chung cũng như tổ chức và hoạt động các Ban HĐND cấp phường ở quận
Sơn Trà nói riêng. Vì vậy, luận văn sẽ được nghiên cứu sâu về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng tổ
chức và hoạt động các Ban của HĐND phường ở quận Sơn Trà, luận văn đề
xuất những giải pháp đổi mới về tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của
các Ban của HĐND phường ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
3.2. Các nhiệm vụ
- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các Ban của
HĐND, phân tích vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ, quyền hạn các Ban
của HĐND cấp xã; các yếu tố tác động đến tổ chức, hoạt động các Ban của
HĐND cấp xã.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động các Ban của
HĐND phường từ thực tiễn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng từ khi thực
hiện Luật Tổ chức CQĐP năm 2015, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn
chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong tổ chức và hoạt động các
Ban của HĐND phường ở quận sơn trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất những giải pháp đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt
động của các Ban của HĐND phường trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố
Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật và thực tiễn tổ chức, hoạt động
của các Ban HĐND phường tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức

3


và hoạt động các Ban của HĐND 7 phường ở quận Sơn Trà, thành phố Đà
Nẵng.
- Phạm vi thời gian: Luận văn khảo sát, nghiên cứu tổ chức và hoạt

động của các Ban HĐND 7 phường ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng từ
năm 2017 đến tháng 6 năm 2019.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu của luận văn dựa trên nền tảng các văn bản Luật Tổ chức
HĐND và UBHC; Luật Tổ chức HĐND và UBND; Luật Tổ chức CQĐP;
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND; Sắc Lệnh số 63; Sắc Lệnh
số 77; về tổ chức hoạt động của các Ban của HĐND cấp xã nói chung và về tổ
chức, hoạt động của các Ban của HĐND phường ở quận Sơn Trà, thành phố
Đà Nẵng nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu gồm: thống kê; phỏng vấn trực tiếp; quan sát,
tổng kết thực tiễn; phân tích, tổng hợp, diễn giải; so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Luận văn đã tập hợp, hệ thống hóa, bổ sung tri thức, quan
điểm lý luận đề xuất giải pháp đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động
của các Ban HĐND cấp xã, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài
liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, tập huấn, làm tài
liệu tham khảo cho hoạt động của HĐND, các Ban của HĐND.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tổ chức và hoạt động
của các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã.
- Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của các Ban của Hội
đồng nhân dân cấp xã tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

4


- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức và
hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân phường quận Sơn Trà, thành

phố Đà Nẵng.

5


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
1.1. Khái niệm, vị trí và vai trò của các Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
1.1.1. Khái quát về Hội đồng nhân dân cấp xã
1.1.1.1. Khái niệm Hội đồng nhân dân cấp xã
Chính quyền cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trong bộ máy Nhà
nước ta hiện nay, là cầu nối giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước, là nơi trực
tiếp thi hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước, bảo đảm triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng và những quy định
của Nhà nước tại cơ sở. Việc thường xuyên củng cố và kiện toàn chính quyền
cơ sở vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa lâu dài của Đảng và Nhà nước ta trong
quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân.
Theo Điều 110 và Điều 111 Hiến pháp năm 2013 quy định thì hệ thống
đơn vị hành chính của Nhà nước ta được chia thành 4 cấp: Trung ương, tỉnh,
huyện, xã. Cấp chính quyền địa phương gồm: cấp Tỉnh, cấp Huyện, cấp Xã và
được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa XHCNVN, gồm có
HĐND và UBND, phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị
hành chính - kinh tế đặc biệt theo quy định của pháp luật.
Trong hệ thống CQĐP, HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực Nhà nước
ở địa phương, do Nhân dân trong xã bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng
và quyền làm chủ của Nhân dân, trực tiếp thực thi các chủ trương, đường lối,
chỉ thị, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước tại cơ sở.
Quyết định những vấn đề về phát triển Kinh tế - Xã hội, Quốc phòng - An

ninh tại địa phương góp phần thực hiện chế độ dân chủ XHCN, đồng thời

6


giám sát mọi hoạt động của UBND cùng cấp tại địa phương (Điều 113 Hiến
pháp năm 2013).
Về cơ bản, căn cứ vào nhận thức chung về HĐND theo Luật Tổ chức
CQĐP năm 2015, khái niệm HĐND cấp xã có thể nêu như sau: HĐND cấp xã
gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở xã bầu ra, là cơ quan quyền lực Nhà
nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của
Nhân dân quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định
của pháp luật, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và chính quyền
Nhà nước cấptrên.
1.1.1.2. Vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã
a) Vai trò của Hội đồng nhân dân cấp xã
Theo Hiến pháp năm 2013, chính quyền cấp xã (gồm HĐND và
UBND) là cấp thấp nhất trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước, là nền
tảng của chế độ chính trị - xã hội tại địa phương. HĐND cấp xã là nơi phản
ánh đời sống của Nhân dân trên địa bàn xã và tổ chức, quản lý các phong trào
của địa phương để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ.
HĐND là thiết chế đại diện cho quyền lực Nhân dân trên một đơn vị
hành chính - lãnh thổ, thay mặt Nhân dân địa phương quyết định những vấn
đề quan trọng của địa phương, Nhân dân sử dụng quyền lực thông qua HĐND
- cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình. Điều này thể hiện như
sau:
Thứ nhất, HĐND cấp xã là một thiết chế đảm bảo và phát huy quyền
làm chủ của Nhân dân. Nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình hay
không là phụ thuộc vào tính đại diện của HĐND cấp xã, HĐND là cơ quan
quyền lực Nhà nước đại diện cho quyền lực của Nhân dân được phát huy tối

đa, bởi vì HĐND cấp xã do Nhân dân trực tiếp bầu ra, thay mặt Nhân dân
quyết định những vấn đề liên quan đến đời sống Nhân dân.

7


Thứ hai, HĐND cấp xã là cầu nối giữa Nhà nước với Nhân dân, vừa thi
hành chính sách, pháp luật của Nhà nước tại cơ sở vừa đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và đóng góp của Nhân dân lên chính quyền Nhà nước cấp trên.
HĐND cấp xã là cấp gần dân nhất, sát dân nhất, lắng nghe và tiếp thu mọi
tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân để xem xét chuyển lên chính quyền cấp
trên, trên cơ sở đó UBND cấp xã và chính quyền Nhà nước cấp trên có những
giải pháp giải quyết kịp thời, thỏa đáng những vấn đề Nhân dân phản ánh,
đồng thời tuyên truyền vận động Nhân dân chấp hành chính sách, pháp luật và
ổn định cuộc sống.
Thứ ba, HĐND cấp xã thực thi các quyết định của cơ quan Nhà nước
cấp trên; điều hòa phối hợp hoạt động của các cơ quan Nhà nước tại địa
phương cũng như cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn lãnh thổ. HĐND cấp
xã căn cứ vào Hiến pháp, Luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên để ra
nghị quyết bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa
phương; về kinh tế - xã hội; về an ninh - quốc phòng; về biện pháp ổn định và
nâng cao đời sống của Nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ mà cấp trên giao
cho.
Thứ tư, nghị quyết của HĐND cấp xã có hiệu lực pháp lý theo lãnh thổ,
mọi tổ chức, cá nhân sống và làm việc tại địa phương có trách nhiệm thi hành.
HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương trên một phạm vi
lãnh thổ nhất định, tính quyết định của HĐND thông qua nghị quyết.
b) Chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã
HĐND cấp xã có những chức năng cơ bản sau đây:
Chức năng quyết định: Bằng hình thức thông qua nghị quyết. Đây là chức

năng cơ bản nhất của HĐND là căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan
Nhà nước cấp trên để ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ,
quyền hạn của HĐND cấp xã. (Điều 33 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015)

8


Nghị quyết của HĐND cấp xã phải đảm bảo đúng thể thức, được trình
bày mạch lạc, rõ ràng, đúng văn phạm tiếng việt, được hiểu theo một nghĩa,
không sử dụng những từ đa nghĩa, khi cần thiết phải giải thích rõ ràng trong
nghị quyết.
Chức năng giám sát: Giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật ở
địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND; giám sát hoạt động của
Thường trực HĐND, UBND, Ban của HĐND cùng cấp; giám sát văn bản quy
phạm pháp luật của UBND cùngcấp. HĐND xã thực hiện quyền giám sát tại
kỳ họp; giám sát của Thường trực HĐND; giám sát của Ban HĐND và giám
sát của đại biểu HĐND. Nội dung giám sát do HĐND xã quyết định theo đề
nghị của Thường trực HĐND trên cơ sở kiến nghị của Ban HĐND, đại biểu
HĐND, UBMTTQVN cùng cấp và ý kiến, kiến nghị của cử tri địa phương.
Các hoạt động giám sát của HĐND được quy định tại Điều 87 Luật Tổ chức
CQĐP năm 2015.
1.1.2. Sự hình thành, khái niệm, đặc điểm và vị trí, vai trò của các
Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
1.1.2.1. Sự hình thành các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã
Trong tiến trình lịch sử phát triển của Nhà nước ta, các đơn vị hành
chính lãnh thổ tuy có thay đổi qua từng thời kỳ, nhưng vẫn có 4 cấp đơn vị
hành chính cơ bản đó là cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Cấp
tỉnh, huyện, xã được xác định là cấp CQĐP. HĐND và UBHC (UBND) được
tổ chức ở cấp địa phương theo quy định của pháp luật. Trừ bản hiến pháp năm
1946, thì các bản Hiến pháp còn lại đều xác định HĐND các cấp là cơ quan

quyền lực Nhà nước ở địa phương. UBND (hay UBHC) các cấp được xác
định là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp xuyên suốt trong quá trình
xây dựng Nhà nước. Để làm rõ sự hình thành và phát triển của các Ban của
HĐND, cần phải chia thành các giai đoạn như sau:

9


* Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1958
Theo Sắc Lệnh số 63/SL và Sắc lệnh số 77/SL năm 1945 của Chủ tịch
Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hòa, chỉ tổ chức chính quyền Nhân dân địa
phương, hai cơ quan là HĐND và UBHC (nay là UBND). Trong giai đoạn
này, theo quy định không có tổ chức của các Ban của HĐND.
* Giai đoạn từ từ năm 1958 đến năm 1983
Theo Luật Tổ chức CQĐP năm 1958 quy định thì tại mỗi kỳ hội nghị,
HĐND bầu ra Chủ tịch đoàn để điều hành hội nghị, khi họp hội nghị, HĐND
các cấp có thể lập những Tiểu ban cần thiết trong thời gian hội nghị. Trong
hội nghị, đại biểu HĐND, Chủ tịch đoàn và UBHC (UBND) cùng cấp đều có
thể đề xuất vấn đề, kèm dự án nghị quyết. Các dự án này do Chủ tịch đoàn
đưa ra hội nghị thảo luận, hoặc giao cho một Tiểu ban xét trước rồi đưa ra hội
nghị thảo luận, hoặc giao cho UBHC (UBND) nghiên cứu để trình bày trong
phiên họp sau của HĐND.
Luật Tổ chức HĐND và UBHC các cấp năm 1962 quy định về việc
thành lập Ban của HĐND, nhưng phải tùy theo nhu cầu công tác, HĐND mới
có thể thành lập các Ban của HĐND. Trong phạm vi công tác, các Ban của
HĐND giúp HĐND tìm hiểu ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân, góp ý kiến
với HĐND trong việc xây dựng và thực hiện những chủ trương công tác ở địa
phương. Thành viên của các Ban do HĐND cử trong HĐND và khi cần, có
thể cử thêm người ngoài HĐND.
* Giai đoạn từ năm 1983 đến năm 2015

Đây là giai đoạn thực hiện theo quy định của: Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 1983; Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989; Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 1994 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Các Ban của HĐND được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện, Ban của HĐND
thực hiện nhiệm vụ giúp HĐND theo Luật định và được xác định rõ hơn về vị

10


trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng như cơ cấu, tổ chức.
Mặc dù quy định về tổ chức và hoạt động của các Ban của HĐND chưa
được hoàn thiện như hiện nay, nhưng cơ bản đã được hoàn thiện nhiều hơn so
với Luật Tổ chức CQĐP năm 1958 và Luật Tổ chức HĐND và UBHC năm
1962. Các Ban của HĐND được thành lập là trong giai đoạn này là “cơ quan
chuyên trách” của HĐND, có cơ cấu tổ chức, tính chất, vị trí và vai trò, chức
năng và nhiệm vụ, quyền hạn được quy định cụ thể, rõ ràng.
* Giai đoạn từ từ năm 2016 đến nay
Theo quy định của Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 thì CQĐP được
thành lập ở cấp tỉnh, huyện, xã. Tổ chức và hoạt động của CQĐP cũng được
quy định rõ ràng, cụ thể hơn, nhiều điểm mới được bổ sung cho phù hợp với
chính quyền ở nông thôn và chính quyền ở đô thị, phù hợp với điều kiện kinh
tế, xã hội, vị trí địa lý và dân cư và yêu cầu quản lý từng địa phương. HĐND
cấp xã được thành lập Ban kinh tế - xã hội và Ban pháp chế, hoạt động
thường xuyên, theo từng lĩnh vực cụ thể và chuyên sâu, mang tính ổn định
của HĐND xã. Các Ban của HĐND xã giúp cho HĐND xã thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình ở từng lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể theo luật định. Cơ
cấu tổ chức các Ban của HĐND cấp xã được quy định rõ ràng, mỗi Ban có
trưởng ban, một phó trưởng Ban và các thành viên, số lượng các thành viên
của Ban là đại biểu HĐND do HĐND quyết định và hoạt động theo chế độ
kiêm nhiệm; nhiệm vụ, quyền hạn của các Ban của HĐND cấp xã ở nông

thôn và đô thị không có sự phân biệt.
1.1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
Ban của HĐND xã là cơ quan của HĐND, theo Điều 4 Luật Tổ chức
CQĐP năm 2015, Ban HĐND xã có nhiệm vụ chung là: Thẩm tra dự thảo
nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về
những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công

11


tác trước HĐND, Thường trực HĐND.
Ban của HĐND xã gồm Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy
viên; trưởng Ban, Phó trưởng Ban do HĐND bầu; Số lượng Ủy viên các Ban
của HĐND xã do trưởng Ban HĐND xã trình Thường trực HĐND xã quyết
định. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của Ban của HĐND xã là
đại biểu HĐND cùng cấp, hoạt động kiêm nhiệm.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 và từ
những phân tích nêu trên, có thể định nghĩa Ban của HĐND xã là Cơ quan
của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước
khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ
trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND, Thường trực
HĐND cùng cấp theo quy định của pháp luật.
Ban của HĐND cấp xã có những đặc điểm sau đây:
Ban của HĐND xã là cơ quan được lập ra để giúp HĐND hoạt động ở
một số lĩnh vực cụ thể. Do đó, cũng có những đặc điểm như HĐND cùng cấp,
cũng có tính quyền lực Nhà nước và tính đại diện cử tri địa phương, ngoài ra
có những đặc điểm riêng như sau:
Một là, Ban của HĐND xã là cơ quan của HĐND xã, giúp HĐND xã
thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo luật định, hoạt động theo chế độ tập thể.
Hai là, Ban của HĐND xã là bộ phận cấu thành của HĐND cùng cấp,

theo khảo 4 Điều 104 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 quy định: “Thường trực
HĐND chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND …”
Ba là, thể hiện tính chuyên môn của các Ban HĐND, từ chỗ không quy
định có Ban đến có Ban, là cơ quan chuyên môn của HĐND, thực hiện nhiệm
vụ theo quy định và ở những lĩnh vực được phân công phụ trách.
Bốn là, thành viên của Ban HĐND xã là đại biểu HĐND cùng cấp. Do
đó, thành viên của Ban của HĐND xã cũng phải thực hiện quy định về công

12


tác tiếp công dân, tiếp xúc cử tri theo quy định của pháp luật.
1.1.2.3. Vị trí, vai trò của các Ban trong Hội đồng nhân dân cấp xã
Vị trí của Ban HĐND xã có thể xét trên các phương diện sau:
Thứ nhất, Ban của HĐND xã là bộ phận cấu thành, là cơ quan chuyên
môn của HĐND xã, bên cạnh Thường HĐND, đều do HĐND lập ra.
Thứ hai, theo khoản 4 Điều 104 và khoản 3 và khoản 4 Điều 6 của Luật
Tổ chức CQĐP năm 2015 thì Thường trực HĐND chỉ đạo, điều hòa, phối hợp
hoạt động của các Ban HĐND, nhưng không quy định các Ban HĐND là cơ
quan thuộc Thường trực HĐND, mà cả Thường trực HĐND và các Ban của
HĐND xã đều là cơ quan của HĐND.
Thứ ba, Ban của HĐND xã có quyền giám sát hoạt động của UBND và
các cơ quan thuộc UBND cùng cấp trong các lĩnh vực phụ trách; giám sát văn
bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi phụ trách (Điều 109 Luật Tổ chức
CQĐP); giám sát quyết định của UBND cùng cấp (Khoản 2, Điều 76 Luật
Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND). Trường hợp phát hiện văn bản
quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của
HĐND cùng cấp thì các Ban của HĐNDxã có quyền yêu cầu UBND xem xét,
sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ

văn bản đó … (Theo khoản 2 Điều 79 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội
và HĐND)
Căn cứ vào kế hoạch giám sát của mình hoặc qua giám sát việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, qua phương tiện thông tin đại chúng, ý
kiến, kiến nghị của cử tri phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc được
HĐND, Thường trực HĐND giao thì Ban của HĐND xã tổ chức Đoàn giám
sát của Ban để thực hiện giám sát chuyên đề.
Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp

13


dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật
và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý, xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
Giám sát các cơ quan thuộc UBND cùng cấp trong các lĩnh vực phụ
trách theo quy định của pháp luật; thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án
liên quan đến lĩnh vực phụ trách do HĐND hoặc Thường trực HĐND phân
công. Báo cáo thẩm tra phải đánh giá sự phù hợp của dự thảo nghị quyết, báo
cáo, đề án với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, tình hình phát triển của địa phương; nêu rõ quan điểm và đề xuất
phương án xử lý đối với những nội dung còn có ý kiến khác nhau.
Từ các quy định nêu trên cho thấy, Ban của HĐND xã có vị trí, vai trò
và quyền hạn rất quan trọng, có thể được nhìn nhận là đứng trên cơ quan hành
chính Nhà nước cùng cấp, đứng trên các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan
chuyên môn thuộc UBND cùng cấp.
1.2. Tổ chức và hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã

theo quy định của pháp luật hiện hành
1.2.1. Tổ chức của các Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
1.2.1.1. Cơ cấu tổ chức của các Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
Với vai trò là cơ quan của HĐND, các Ban của HĐND xã được thành
lập phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng Ban. Theo Điều 32 Luật Tổ
chức CQĐP năm 2015, HĐND xã được thành lập Ban pháp chế và Ban kinh
tế - xã hội. Mỗi Ban của HĐND gồm có Trưởng ban, một phó Trưởng ban và
các ủy viên; Trưởng Ban, phó trưởng Ban do HĐND bầu, là đại biểu HĐND;
số lượng ủy viên của mỗi Ban do HĐND xã quyết định; thành viên của các

14


Ban HĐND xã là đại biểu HĐND cùng cấp và hoạt động kiêm nhiệm.
Theo Hướng dẫn số 1138/HD-UBTVQH13 của UBTVQH, số lượng ủy
viên các Ban của HĐND có ít nhất là 05 thành viên, Thường trực HĐND dự
kiến số lượng thành viên, cơ cấu thành phần các Ban của HĐND trình HĐND
dân khóa mới xem xét, quyết định dưới hình thức nghị quyết. Trưởng Ban lập
danh sách cụ thể ủy viên của Ban mình và trình Thường trực HĐND ra nghị
quyết phê chuẩn danh sách ủy viên của từng Ban; việc lập và phê chuẩn danh
sách ủy viên các Ban của HĐND dựa trên sự phù hợp về chuyên môn, nghiệp
vụ, kinh nghiệm, vị trí công tác của mỗi đại biểu, yêu cầu về số lượng, cơ cấu
của từng Ban và nguyện vọng của từng đại biểu HĐND. Để thực hiện nhiệm
vụ của mình, các Ban của HĐND xã có những chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất, chức năng thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án, tờ
trình trước khi trình HĐND thông qua. Đây là chức năng rất quan trọng, giúp
cho HĐND trong việc xem xét, quyết định những vấn đề mang tính chiến
lược của địa phương, hằng hình thức ban hành các nghị quyết theo quy định
của pháp luật.
Thứ hai, chức năng giám sát. Giám sát những vấn đề thuộc lĩnh vực

Ban phụ trách theo quy định của pháp luật; giúp HĐND giám sát hoạt động
của UBND và các cơ quan thuộc UBND cùng cấp theo lĩnh vực Ban phụ
trách; giám sát các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ban phụ trách;
Thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến lĩnh vực phụ trách
do HĐND dân hoặc Thường trực HĐND phân công; Tổ chức khảo sát tình
hình thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực phụ trách do HĐND
hoặc Thường trực HĐND phân công; chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả
hoạt động giám sát với HĐND, Thường trực HĐND.
Ban Pháp chế của HĐND cấp xã chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực
thi hành Hiến pháp và pháp luật, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,

15


xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính ở địa
phương; Ban kinh tế - xã hội của HĐND xã chịu trách nhiệm trong các lĩnh vực
kinh tế, ngân sách, đô thị, giao thông, xây dựng, giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội,
thông tin, thể dục, thể thao, khoahọc, công nghệ, tài nguyên và môi trường,
chính sách tôn giáo ở địa phương (Điều 108 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015)
Nhiệm vụ và quyền hạn của các Ban HĐND xã được quy định tại
khoản 2 Điều 76 và khoản 2 Điều 79 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội
và HĐND và Điều 109 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015, cụ thể:
Tham gia chuẩn bị nội dung kỳ họp của HĐND liên quan đến lĩnh vực
phụ trách; thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến lĩnh vực
phụ trách do HĐND hoặc Thường trực HĐND phân công; giúp HĐND giám
sát hoạt động của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp
trong các lĩnh vực phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc
phạm vi phụ trách; tổ chức khảo sát tình hình thực hiện các quy định của pháp
luật về lĩnh vực phụ trách do HĐND hoặc Thường trực HĐND phân công;
báo cáo kết quả hoạt động giám sát với HĐND, Thường trực HĐND; Ban của

HĐND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND; trong thời gian
HĐND không họp thì báo cáo công tác trước Thường trực HĐND.
Ban của HĐND xã có quyền giám sát quyết định của UBND cùng cấp,
nếu phát hiện văn bản có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp thì
các Ban của HĐND có quyền yêu cầu cơ quan đã ban hành văn bản đó xem
xét, sửa đổi, bổ sung, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn
bộ văn bản đó
1.2.1.2. Các mối quan hệ của Ban Hội đồng nhân dân cấp xã
Ban của HĐND cấp xã là cơ quan của HĐND cùng với Thường trực
HĐND, do đó trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của

16


mình, Ban của HĐND cấp xã có những mối quan hệ cơ bản sau:
Mối quan hệ giữa các Ban của HĐND: các Ban của HĐND chủ động
phối hợp với nhau trong quá trình thực hiện chức năng, chiệm vụ và quyền
hạn của mình và trao đổi kinh nghiệm hoạt động về những vấn đề có liên
quan trong quá trình công tác.
Mối quan hệ với Thường trực HĐND: Ban của HĐND cử thành viên
tham gia hoạt động của Thường trực HĐND cùng cấp theo yêu cầu của
Thường trực HĐND theo quy định của pháp luật và theo quy chế. Ban là cơ
quan của HĐND nhưng do Thường trực HĐND chỉ đạo, điều hòa, phối hợp
hoạt động trong quá trình thực hiện chức, năng nhiệm vụ.
Mối quan hệ với UBND cùng cấp: Ban của HĐND là cơ quan của
HĐND nên cũng có chức năng của cơ quan quyền lực nhà nước. Do đó,
UBND, các cơ quan thuộc UBND, cơ quan, tổ chức ở địa phương có trách
nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu về những vấn đề mà Ban của HĐND yêu
cầu.

Mối quan hệ với HĐND: Ban của HĐND và Thường trực HĐND đều
là cơ quan thuộc HĐND, HĐND chỉ đạo hoạt động của các Ban HĐND. Do
đó, Ban của HĐND chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả hoạt động với
HĐND, Thường trực HĐND theo luật định.
1.2.2. Chế độ hoạt động của các Ban
1.2.2.1. Chế độ làm việc của Ban
Hình thức hoạt động của Ban là phiên họp do Trưởng Ban triệu tập. Tại
phiên họp, các thành viên thảo luận các tài liệu trình HĐND thông qua hoặc
chuẩn bị các đề án trình HĐND, kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ, bàn
công tác thời gian tới. Ngoài ra, Ban còn tổ chức các cuộc khảo sát, giám sát
ở cơ sở, phát hiện những vấn đề để kiến nghị với cơ sở hoặc trình HĐND
quyết định. Các kiến nghị của Ban có giá trị bắt buộc các cơ quan xem xét và

17


thực hiện. Kết quả phải báo cáo lại cho Ban biết.
Ban của HĐND xây dựng kế hoạch giám sát hằng năm căn cứ vào
chương trình giám sát của HĐND, Thường trực HĐND và ý kiến các thành
viên của Ban của HĐND.
Kế hoạch giám sát hằng năm của Ban HĐND được Ban xem xét, quyết
định vào cuối năm trước. Trưởng Ban tổ chức thực hiện kế hoạch giám sát;
trường hợp cần thiết, kế hoạch giám sát có thể được điều chỉnh, bổ sung cho
phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương.
Ban của HĐND cấp xã thảo luận dân chủ, quyết định theo đa số. Từ
việc xây dựng kế hoạch giám sát trong năm, kế hoạch giám sát chuyên đề,
việc thành lập đoàn giám sát đến việc thông qua báo cáo kết quả giám sát của
các Ban HĐND đều được thảo luận dân chủ và biểu quyết thông qua theo đa số.
1.2.2.2. Các hoạt động thực hiện chức năng của Ban
a) Hoạt động Thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án, tờ trình của

Ban của Hội đồng nhân dân được quy định tại Điều 143 Luật Ban hành văn
bản Quy phạm pháp luật năm 2015 và Điều 111 Luật Tổ chức CQĐP năm
2015.
Để chuẩn bị cho việc thẩm tra, Ban của HĐND cử thành viên tham gia
nghiên cứu dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án; yêu cầu cơ quan soạn thảo và
các cơ quan hữu quan cung cấp tài liệu và trình bày về vấn đề mà Ban thẩm
tra; tổ chức họp lấy ý kiến của những người am hiểu về vấn đề đó; khảo sát
tình hình thực tế tại địa phương về những nội dung liên quan đến dự thảo nghị
quyết, báo cáo, đề án.
Báo cáo thẩm tra cần đánh giá về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết, báo
cáo, đề án với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; nêu rõ quan điểm và
đề xuất phương án xử lý đối với những nội dung còn có ý kiến khác nhau.

18


×