Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TRONG KHU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (679.17 KB, 89 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN DIỆU

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN DIỆU

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
TRONG KHU CÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Hà Nội - 2019



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Xuân Diệu


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn
Văn Phương – Trường Đại học Luật Hà Nội, người thày đã tận tình hướng dẫn em
trong suốt quá trình viết Luận văn tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa Luật Kinh
tế đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những kiến thức nền tảng trong suốt thời
gian học tập. Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc,
Phòng Đào tạo, Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện cho em trong quá trình
học tập, nghiên cứu tại trường. Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè,
những người đã luôn bên, động viên và khuyến khích trong quá trình thực hiện đề
tài nghiên cứu của mình.
Luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ

CHẤT THẢI RẮN TRONG KHU CÔNG NGHIỆP ............................................. 5
1.1. Các vấn đề về chất thải rắn trong khu công nghiệp và pháp luật về quản
lý chất thải rắn trong khu công nghiệp ................................................................. 5
1.2. Quan niệm và vai trò của pháp luật về quản lý chất thải rắn trong khu
công nghiệp......................................................................................................... 17
1.3. Các yếu tố tác động tới pháp luật quản lý chất thải rắn trong khu công nghiệp . 23
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TRONG KHU
CÔNG NGHIỆP Ở HÀ NỘI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM ........................ 30
2.1. Tình hình sản xuất công nghiệp ở Hà Nội ................................................... 30
2.2. Thực trạng áp dụng quản lý chất thải rắn trong khu công nghiệp ở Hà
Nội ...................................................................................................................... 40
2.3. Các vấn đề đặt ra đối với quản lý chất thải rắn trong khu công nghiệp ở
Hà Nội theo pháp luật Việt Nam ........................................................................ 48
Chương 3; CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN TRONG KHU CÔNG NGHIỆP ........................................... 56
3.1. Cơ sở để đưa kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải rắn
trong khu công nghiệp ........................................................................................ 56
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn trong khu
công nghiệp......................................................................................................... 65
3.3. Các giải pháp hoàn thiện cơ chế thực hiện pháp luật về quản lý chất thải
rắn trong khu công nghiệp tại Hà Nội ................................................................ 70
3.4. Các giải pháp hoàn thiện cơ chế thực hiện pháp luật về quản lý chất thải
rắn trong khu công nghiệp .................................................................................. 75
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 81


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT


Bảo vệ môi trường

CHNH

Chất thải nguy hại

CTR

Chất thải rắn

CTRCN

Chất thải rắn công nghiệp

CTRCNTT

Chất thải rắn công nghiệp thông thường

CTRXD

Chất thải rắn xây dựng

CTRSH

Chất thải rắn sinh hoạt

CTRTT

Chất thải rắn thông thường


CTRTKCN

Chất thải rắn trong khu công nghiệp

DN

Doanh nghiệp

CCN

Cụm công nghiệp

KCN

Khu công nghiệp

KCX

Khu chế xuất

KCNC

Khu công nghệ cao

PTBV

Phát triển bền vững

PLRTN


Phân loại rác tại nguồn

TN&MT

Tài nguyên và môi trường

TP

Thành phố

UBND

Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đến nay, nước ta tuy đã đạt được những thành công lớn trên con đường phát
triển, nhưng bên cạnh đó cũng còn rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có
vấn đề về môi trường tự nhiên. Cũng như xu thế toàn cầu, nền kinh tế nước ta
không thể tách rời với môi trường tự nhiên được. Môi trường là vấn đề quan trọng
không chỉ với một ngành, một nghề, không chỉ đối với một quốc gia mà là vấn đề
của toàn nhân loại. Hiện tượng nhiệt độ trái đất ngày càng nóng lên, băng ở hai đầu
cực đang tan dần, lỗ thủng tầng Ozon tuy có co nhỏ lại phần nào, song vẫn chưa đạt
tới mức an toàn cho trái đất….đang là mối lo ngại đối với sự tồn tại của loài người.
Chẳng thế mà thời kỳ phát triển bằng mọi giá đã trôi qua, giờ đây phát triển kinh tế
phải gắn với BVMT. Nguyên lý phát triển trong thời đại hiện nay là PTBV.
Môi trường giờ đây, hơn bất cứ lúc nào, đã trở thành một tài nguyên vô cùng
quan trọng và cấp thiết cho mỗi con người và mỗi quốc gia. Nó là nền móng của sự
tồn tại và PTBV của xã hội, bất cứ hoạt động gì của con người cũng diễn ra trong

môi trường và ngược lại, nó cũng có những tác động nhất định trở lại môi trường.
Hiện nay, mặc dù tốc độ gia tăng dân số trên thế giới đã có dấu hiệu giảm lại một
cách khá rõ rệt, song dân số năm sau vẫn cao hơn năm trước và tốc độ công nghiệp
hóa cao và nhanh một cách chóng mặt đã gây ra những tổn hại đáng kể cho môi
trường. Bên cạnh đó, để hoàn thành mục tiêu "đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở
thành một nước công nghiệp" của Đảng và Nhà nước, thời gian qua nền công
nghiệp nước ta đã có những bước dài trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Có thể khẳng định chính sách và tầm nhìn ấy của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn
đúng đắn, nhưng một bộ phận không nhỏ những người tham gia lại rất thờ ơ, vô ý
thức, vô trách nhiệm trong việc quản lý mà làm cho chất thải, đặc biệt CTRTKCN
ngày càng nhiều (trong khi đó, không ít chất thải, đặc biệt là CTRTKCN lại hoàn
thoàn có thể tái chế để nó quay lại phục vụ con người, thì họ lại không tận dụng triệt
để); điều này đã gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến môi trường nước ta. Song nhờ
sự phát triển về nhận thức của con người hiện nay về môi trường, cũng như sự bùng
nổ của mạng lưới thông tin, mà vấn đề bảo vệ môi trường đã ngày càng được quan
tâm hơn. Theo đó, việc quản lý chất thải, nhất là CTRTKCN và tái chế, khai thác nó

1


như thế nào để chất thải trở thành nguồn tài nguyên phục vụ cho đời sống con người
là vấn đề hết sức cần thiết. Điều đó đã thôi thúc tôi đến với đề tài “Quản lý chất
thải rắn trong khu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành
phố Hà Nội” làm luật văn thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay đã có một số đề tài về quản lý chất thải của một số tác giả như:
Lê Cường, Mô hình và giải pháp quản lý CTRSH khu ven đô thị trung tâm TP Hà
Nội đến năm 2030, năm 2018; Bùi Thị Nhung, Quản lý CTR tại thành phố Hưng
Yên năm 2014; Nguyễn Thị Loan, Quản lý CTR sinh hoạt huyện Quốc Oai, TP Hà
Nội năm 2013; Lê Thị Thùy Linh, Đánh giá hiện trạng quản lý CTRSH trên địa bàn

huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên năm 2012; Lưu Việt Hùng, Pháp luật về quản lý
chất thải rắn thông thường tại Việt Nam năm 2009; Nguyễn Văn Phương, Pháp luật
môi trường Việt Nam về nhập khẩu phế liệu năm 2007; Vũ Thị Duyên Thuỷ, Pháp
luật về quản lý CTNH năm 2009; Nguyễn Hoà Bình, Điều tra, đánh giá tình hình
quản lý CTR nguy hại của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp quản lý có hiệu
quả năm 2004. Bên cạnh đó còn có khoá luận tốt nghiệp của các sinh viên các
trường đại học: Hoàng Ngọc Mai (ĐH Thái Nguyên), Thực trạng và giải pháp nâng
cao hiệu quả quản lý CTRSH tại thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
năm 2015; Đặng Thái Học (ĐHDL Hải Phòng), Đánh giá hiện trạng quản lý
CTRSH tại quận Hải An – Hải Phòng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý, năm 2012; Trần Thị Lan Hương (ĐHDL Hải Phòng), Đánh giá
hiện trạng quản lý CTRCN tỉnh Yên Bái và đề xuất giải pháp quản lý năm 2012;
Phạm Thị Liễu (ĐH Luật Hà Nội), Đánh giá các quy định của pháp luật về quản lý
chất thải năm 2008. Ngoài ra các nhà khoa học đã có những công trình nghiên cứu
về quản lý chất thải, có thể kể đến một số bài viết như: Tôn Thất Toản, Huỳnh Huy
Việt, Hiện trạng và các giải pháp quản lý CTR sinh hoạt tại tỉnh Phú Yên, Tạp chí
Môi trường ngày 18/7/2019; Hà Thu, Hà Nội: 100% lượng chất thải y tế nguy hại
được xử lý đạt chuẩn vào năm 2020, bài viết trên tạp chí điện tử Môi trường và
cuộc sống ngày 26/3/2019; Trần Trung Dũng, Điều tra, đánh giá hiện trạng thu
gom, vận chuyển và đề xuất phương án quy hoạch, xử lý CTR các tỉnh Tây Nguyên
và đề xuất phương án quy hoạch xử lý và quản lý CTR phù hợp đến năm 2020, công

2


trình khoa học được công bố năm 2015; Nguyễn Ngọc Nông, Hiện trạng và giải
pháp quản lý, sử dụng rác thải sinh hoạt khu vực đô thị tại thành phố Thái Nguyên,
đề tài cấp bộ năm 2011; Nguyễn Văn Phương, Khái niệm chất thải và quy định về
xuất nhập khẩu chất thải của Cộng hoà liên bang Đức trong cuốn “BVMT và
PTBV” do nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật ấn hành năm 2008; Nguyễn Văn

Phương, Một số vấn đề về khái niệm chất thải, được đăng trên tạp chí Luật học Số
10 năm 2006; Nguyễn Văn Phương, Chất thải và quy định quản lý chất thải, được
đăng trên tạp chí Luật học Số 4 năm 2003 Lê Kim Nguyệt, Một cơ chế phù hợp cho
quản lý CTNH ở Việt Nam đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 11 năm
2002;…. Nhưng những bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá hay gợi mở một
vài khía cạnh của pháp luật quản lý chất thải nói chung, quản lý CTR nói riêng còn hầu
như không đi sâu nghiên cứu vần đề về quản lý CTRTKCN. Vì vậy, với đề tài “Quản
lý chất thải rắn trong khu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn
Thành phố Hà Nội”, tôi mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình
vào việc hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nói chung và CTRTKCN nói riêng.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với luận văn này, người viết muốn đi vào tìm hiểu thực trạng quản lý
CTRTKCN tại TP Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung; trên cơ sở đó tìm hiểu,
phân tích nguyên nhân của những bất cập, thiếu xót, hạn chế trong công tác quản lý
CTRTKCN hiện nay; từ đó tìm ra phương hướng và các giải pháp hoàn thiện, cơ
chế thực hiện pháp luật về quản lý CTRTKCN cho phù hợp hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về CTRTKCN;
nghiên cứu nhu cầu điều chỉnh pháp luật, các yếu tố tác động đối với hoạt động
quản lý chất thải; phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật để tìm ra những
sai sót, vướng mắc, những vấn đề phát sinh, các vi phạm pháp luật về quản lý
CTRTKCN hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về quản lý chất thải là một phạm trù nghiên cứu rộng, vì vậy Luận
văn không thể nghiên cứu hoạt động quản lý của tất cả các loại chất thải hiện nay,

3



cũng không đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn của quản lý chất thải mà
chủ yếu đề cấp đến các vấn đề pháp lý liên quan đến quản lý CTRTKCN ở nước ta
dựa theo tình hình thực tiễn ở TP Hà Nội.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết luận văn sử dụng
phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp
khảo sát thực tiễn và đánh giá, phương pháp phân tích…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của Luận văn này có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về Luật học. Một số kiến nghị của
đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và tổ chức thực hiện pháp
luật về BVMT, pháp luật về quản lý chất thải nói chung và pháp luật về quản lý
CTRTKCN nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được
chia làm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý chất thải rắn trong khu
công nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý chất thải rắn trong khu công nghiệp.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn trong
khu công nghiệp.

4


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TRONG KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. Các vấn đề về chất thải rắn trong khu công nghiệp và pháp luật về quản lý
chất thải rắn trong khu công nghiệp

1.1.1. Khái niệm chất thải
Theo cách hiểu thông thường, chất thải là những chất mà con người bỏ đi,
không tiếp tục sử dụng nữa. Khi bị thải bỏ, những chất này tồn tại trong môi trường
dưới những trạng thái nhất định và có thể gây ra rất nhiều tác động bất lợi cho môi
trường cũng như sức khoẻ con người. Chất thải, CTR là vấn đề quan trọng trong
cuộc sống ngày nay vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu và tìm hiểu để từ đó biết
cách để quản lý, phân loại, và tận dụng, đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm của
các chủ thể khi không tuân thủ quy trình xả, thải theo quy định của pháp luật.
Dưới góc độ ngữ nghĩa, chất thải được hiểu là những “chất” không còn sử
dụng được nữa bị con người “thải” ra trong các hoạt động khác nhau. Chất thải
được sản sinh trong các hoạt động khác nhau của con người thì được gọi với những
thuật ngữ khác nhau như: CTR phát sinh trong sinh hoạt thì gọi là rác thải; chất thải
phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu trong quá trình sản xuất thì gọi là phế liệu;
chất thải phát sinh sau quá trình sử dụng nước thì gọi là nước thải… [20, tr.8].
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “Chất thải là rác thải
và những đồ vật bị bỏ đi nói chung”. Theo cách hiểu của khái niệm này, chất thải
bao gồm rác là những thứ vụn vặt bị vất bỏ vương vãi, làm bẩn và đồ vật không có
giá trị, không có tác dụng nên không giữ lại [34, tr.86].
Từ điển môi trường Anh - Việt và Việt - Anh định nghĩa “Chất thải (waste)
là những chất không dùng đến được thải ra từ quá trình sản xuất.” [13, tr.211]
Khái niệm chất thải cũng được sử dụng trong pháp luật quốc tế về môi
trường, được đề cập tại Công ước Basel. Điều 2 khoản 1 Công ước Basel định
nghĩa: “Chất thải là chất hoặc các đồ vật mà người ta tiêu hủy, có ý định tiêu hủy
hoặc phải tiêu hủy theo qui định của pháp luật quốc gia”. Theo đó, yếu tố quyết

5


định để xác định một vật chất hoặc một đồ vật đó có bị chủ sở hữu “tiêu hủy, có ý
định tiêu hủy hoặc phải tiêu hủy” hay không [20, tr.9].

Khái niệm chất thải còn được đề cập trong pháp luật của khối liên kết chính
trị - kinh tế. Liên minh Châu Âu (EU). Điều 1 Nghị định 259/93 của EU về vận
chuyển chất thải ngày 1/2/1993 có hiệu lực từ ngày 6/5/1994 định nghĩa: “Chất thải
có nghĩa là bất kỳ chất hoặc vật nào nằm trong danh mục phân loại tại Phụ lục I mà
người giữ chúng thải bỏ hoặc có ý định thải bỏ”. Theo định nghĩa này, một vật chất
sẽ là chất thải khi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp vật chất đó không có
ý định sử dụng hoặc không được tiếp tục sử dụng theo yêu cầu của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền [20, tr.10].
Theo Điều 3 khoản 1 Luật khuyến khích kinh tế tuần hoàn và đảm bảo xử lý
các chất thải phù hợp với môi trường ngày 27/9/1994 được sửa đổi bổ sung ngày
25/8/1998 của CHLB Đức: “Chất thải là tất cả các động sản thuộc Phụ lục I của luật
này mà chủ sở hữu từ bỏ, có ý muốn từ bỏ hoặc bắt buộc phải từ bỏ. Những chất
thải có khả năng tái chế được thì chủ sở hữu có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp tái
chế. Trong trường hợp không tái chế được thì chủ sở hữu có nghĩa vụ xử lý”. Theo
định nghĩa này, chỉ có động sản mới có thể trở thành chất thải, bất động sản không thể
trở thành chất thải. Một động sản có thể trở thành chất thải hay không phụ thuộc vào
việc đánh giá động sản đó có bị “từ bỏ” hoặc phải “từ bỏ” hay không [20, tr.11].
Quan niệm về chất thải còn được xem xét trên khía cạnh kinh tế. Theo quan
điểm chung thì chất thải có thể hiểu là chất có thể gây ô nhiễm môi trường; làm cho
môi trường suy thoái, hoặc gây ra sự cố môi trường. Nguồn gốc phát sinh ra chất
thải là những gì mà chủ sở hữu chúng hiện tại không sử dụng và thải bỏ. Tuy nhiên,
việc chủ sở hữu hiện tại không muốn sử dụng và thải bỏ có thể vì nhiều lý do khác
nhau như công nghệ, sở thích, nhu cầu,vv… Việc thải bỏ bao gồm từ công đoạn thu
gom, xử lý cho đến khi xử lý an toàn chất thải đều có ý nghĩa là cá nhân hay xã hội
phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định. Việc hạn chế thải bỏ chất thải cũng có nghĩa
là nguyên vật liệu, năng lượng … được sử dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong điều
kiện ngày càng khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, giá cả nguyên nhiên vật liệu ngày
càng cao thì lợi ích kinh tế của việc phòng ngừa, giảm thiểu chất thải lại càng quan
trọng. Điều đó cũng có nghĩa đối với chất thải, để quản lý tốt không chỉ là thu gom,


6


xử lý và chôn lấp an toàn mà cần xem xét cả đến lợi ích của nó, và tuỳ từng loại
chất thải có thể tái sử dụng, tái chế hoặc thu hồi cho mục đích khác mà không phải
tốn kinh phí cho việc thải bỏ
Chương 1, điều 3 khoản 12 Luật BVMT 2014 định nghĩa: “Chất thải là vật
chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.
Từ các định nghĩa và dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có thể phân loại chất
thải thành các nhóm loại khác nhau:
Dựa vào dạng tồn tại của chất thải, chất thải tồn tại dưới dạng rắn (CTR),
lỏng (chất thải lỏng), khí (khí thải), nhiệt lượng, tiếng ồn…
Phụ thuộc vào sự độc hại của chất thải, chất thải bao gồm chất thải độc hại
nguy hiểm và chất thải thông thường.
Phụ thuộc vào nguồn sản sinh chất thải, chất thải được chia thành chất thải
sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế…
Phụ thuộc vào chu trình sản sinh ra chất thải, chất thải bao gồm nguyên liệu
thứ phẩm, phế liệu, vật liệu thứ phẩm, sản phẩm, đồ vật hư hỏng hoặc quá hạn sử
dụng [20, tr.15].
Để xác định một chất là chất thải hay không, cần dựa vào ba tiêu chí sau:
Chất thải tồn tại dưới dạng vật chất ở dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí hoặc các
dạng khác. Những yếu tố phi vật chất không thể được coi là chất thải.
Vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ hoặc bị buộc phải thải bỏ. Nói cách khác,
các dạng vật chất được coi là chất thải khi người chủ sở hữu hay sử dụng chúng thải
bỏ một cách chủ động theo ý chí của họ, hoặc phải thải bỏ một cách bị động theo ý
chí của Nhà nước, không sử dụng nó vào bất kỳ mục đích nào khác.
Nguồn gốc phát sinh ra chất thải là từ các hoạt động của con người. Đó là các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt động khác [30, tr.14]
Thông qua các phân tích trên chúng ta thấy, vật chất là chất thải hay không
phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu của vật chất đó, trừ trường hợp chất thải được

sản sinh do đặc thù của chu trình hoạt động, được thải ra một cách bị động không
phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu cũng như các đối tượng khác.
1.1.2. Chất thải rắn trong khu công nghiệp

7


Vì KCN là nơi tập trung hoạt động sản xuất với rất nhiều cán bộ, công nhân
viên chức, kỹ sư, người lao động,… cho nên có thể coi đây là một khu dân cư thu
nhỏ với nhiều điểm đặc trưng. Bởi vậy, khi nói đến CTRTKCN thì ta sẽ thấy ngoài
CTRCN ra thì nó còn có CTRTT, CTRCNTT, CTRNH, CTRXD, CTRSH và chất
thải y tế,.
Về CTRCN, theo chương 1, điều 3, khoản 12 Luật BVMT 2014 và nhất là tại
chương 1, điều 3, khoản 4 của Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm
2015 của Chính phủ về quản lý chất thải, CTR, CTRCN, CTRTT, CTNH, CTRSH,
CTRXD.... có định nghĩa: "CTRCN là CTR phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ". Bên cạnh đó, CTRCN bao gồm CTRCN không nguy hại và
CTRCN nằm trong danh mục CTNH.
Nói về CTRCN không nguy hại, ta có thể hiểu đó là một chất thải thuộc thể
rắn hoặc sệt do chủ thể sở hữu thải ra nhưng lại không mang tính chất nguy hại đến
con người (chẳng hạn: giấy, vải, thủy tinh,…). Hay xét theo mục 2.3 Tiêu chuẩn
Việt Nam 6705-2009 về CTR không nguy hại thì CTRCN không nguy hại là: Chất
thải được thải ra từ các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp hoặc từ các công trình xử lý
khí thải, xử lý CTRTT. [11; 06]
Còn nói về CTNH, tại chương 1, điều 3, khoản 13 Luật BVMT 2014 định
nghĩa về CTNH như sau: "CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây
nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác."
Vậy ta có thể hiểu CTNH là các chất thải (dạng phế phẩm, phế liệu hóa chất,
vật liệu trung gian, ...) sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp có đặc tính bắt
lửa, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn, chất thải bị oxy hóa, mang tính phóng xạ và gây độc

hại cho con người và hệ sinh thái.
Về CTRXD, để hình thành nên một hệ thống nhà xưởng ở KCN thì bắt buộc
phải thực hiện công việc xây dựng hệ thống nhà xưởng đó và công việc này là công
việc thường xuyên cho đến khi KCN đó hoàn trả lại nguyên trạng mặt bằng cho nhà
nước. Mà quá trình xây dựng thì không thể không sản sinh ra chất thải xây dựng
được. Theo chương 1, điều 2, khoản 1 của Thông tư số 08/2017/TT-BXD thì:
"CTRXD là CTR phát sinh trong quá trình khảo sát, thi công xây dựng công trình (bao
gồm công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ)".

8


Tại chương 7, điều 50, khoản 1 của Nghị định 38/2015/NĐ-CP thì: CTR từ
hoạt động xây dựng (kể cả cải tạo, phá dỡ công trình, gọi chung là CTRXD) phải
được phân loại và quản lý như sau: "Đất, bùn thải từ hoạt động đào đất, nạo vét lớp
đất mặt, đào cọc móng được sử dụng để bồi đắp cho đất trồng cây hoặc các khu vực
đất phù hợp;" và "Đất đá, CTR từ vật liệu xây dựng (gạch, ngói, vữa, bê tông, vật
liệu kết dính quá hạn sử dụng) được tái chế làm vật liệu xây dựng hoặc tái sử dụng
làm vật liệu san lấp cho các công trình xây dựng hoặc chôn lấp trong bãi chôn lấp
CTR xây dựng"; cũng như "CTR có khả năng tái chế như thủy tinh, sắt thép, gỗ,
giấy, chất dẻo được tái chế, tái sử dụng"
Theo đó, quản lý CTRXD phải tuân thủ 05 nguyên tắc sau: thứ nhất, phải
tuân thủ các nguyên tắc chung về quản lý chất thải có liên quan quy định tại Điều 4
Nghị định số 38/2015/NĐ-CP; thứ hai, khi thiết kế công trình phải có giải pháp
thiết kế và công nghệ, lựa chọn sử dụng vật liệu hợp lý nhằm hạn chế tối đa lượng
chất thải phát sinh; thứ ba, vị trí, quy mô các điểm tập kết, trạm trung chuyển và cơ
sở xử lý CTRXD phải phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch quản lý CTR;
thứ tư, dự án đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý CTRXD được hưởng ưu đãi theo các
quy định về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động BVMT, sản xuất vật liệu xây dựng và các ưu
đãi khác theo quy định hiện hành; thứ năm, khuyến khích cộng đồng dân cư tham

gia giám sát việc thực hiện các quy định quản lý CTRXD trên địa bàn. Theo Thông
tư số 08/2017/TT-BXD, CTRXD phải được phân loại ngay tại nơi phát sinh theo
quy định tại Khoản 1 Điều 50 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP thành các loại sau đây:
một, CTR có khả năng tái chế được; hai, CTR có thể được tái sử dụng ngay trên
công trường hoặc tái sử dụng ở các công trường xây dựng khác; ba, hất thải không
tái chế, tái sử dụng được và phải đem đi chôn lấp; bốn, CTNH được phân loại riêng
và quản lý theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP và các văn bản pháp luật
hướng dẫn về quản lý CTNH. CTRXD sau khi phân loại không được để lẫn với các
chất thải khác và phải được lưu giữ riêng theo quy định. Trong trường hợp CTRXD
thông thường có lẫn với CTNH thì phải thực hiện việc phân tách phần CTNH. Nếu
không thể tách được thì toàn bộ hỗn hợp phải được quản lý như CTNH.
Cũng theo Thông tư 08/2017/TT-BXD thì CTRXD phải được thu gom, vận
chuyển đến điểm tập kết, trạm trung chuyển và cơ sở xử lý được đầu tư xây dựng

9


theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc cơ sở tái chế,
công trình khác để tái chế, tái sử dụng. Việc vận chuyển phải theo thời gian và lộ
trình về tuyến đường, an toàn giao thông và tuân thủ các quy định của cơ quan có
thẩm quyền về phân luồng giao thông tại địa phương. Các phương tiện vận chuyển
CTRXD phải là phương tiện bảo đảm các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn,
đã được kiểm định và được các cơ quan chức năng cấp phép lưu hành theo quy
định. Trong quá trình vận chuyển, phương tiện vận chuyển phải đảm bảo không làm
rò rỉ, rơi vãi chất thải, gây phát tán bụi, mùi. Trong trường hợp chủ nguồn thải tự
vận chuyển CTRXD thì phải tuân thủ các quy định trên.
Việc xử lý CTRXD, theo Thông tư trên, cơ sở xử lý CTRXD phải được đầu
tư xây dựng theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Khuyến
khích việc xử lý CTRXD tại nơi phát sinh với quy trình, công nghệ phù hợp, đảm
bảo các yêu cầu về an toàn, môi trường.

Về CTRSH và chất thải y tế, ta thấy trong quá trình vận hành, tại đây ngoài
hoạt động sản xuất thì còn diễn ra các hoạt động sinh hoạt của con người. Từ đó
không thể tránh khỏi phát sinh ra một lượng nhất định CTRSH và chất thải y tế. Bởi
vậy, đây cũng là những nguồn CTRTKCN cần được xử lý triệt để. Theo chương 1,
điều 3, khoản 3 của Nghị định 38/2015/NĐ-CP đã quy định rõ: CTRSH (còn gọi là
rác sinh hoạt) là CTR phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người. Hay nói
một cách đơn giản thì CTRSH là CTR được thải (sinh) ra từ sinh hoạt cá nhân, các
khu nhà ở (biệt thự, hộ gia đình riêng lẻ, chung cư, ...), khu thương mại và dịch vụ
(cửa hàng, chợ, siêu thị, quán ăn, nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, trạm dịch vụ, ...),
khu cơ quan (trường học, viện và trung tâm nghiên cứu, các cơ quan hành chánh
nhà nước, văn phòng công ty,...), từ các hoạt động dịch vụ công cộng (quét dọn và
vệ sinh đường phố, công viên, khu giải trí, tỉa cây xanh,...), từ sinh hoạt (ăn uống,
vệ sinh, ...) của các khoa, bệnh viện không lây nhiễm, từ sinh hoạt của cán bộ, công
nhân trong các cơ sở công nghiệp (KCN, nhà máy, cơ sở sản xuất vừa và nhỏ).
CTRSH có nhiều loại, điển hình như túi nilon, bao bì, giấy, túi đựng thức ăn, kim
loại, sắt, inox, thép phế liệu… Cũng theo chương 7, điều 49 của Nghị định này thì:
Chất thải từ hoạt động y tế (trừ nước thải được đưa vào hệ thống xử lý nước thải của
cơ sở y tế) phải được phân loại tại nguồn như sau: chất thải y tế nguy hại bao gồm:

10


Chất thải lây nhiễm; chất thải nguy hại không lây nhiễm (phân loại riêng theo danh
mục và quy định về quản lý chất thải nguy hại tại Chương 2 Nghị định này); chất
thải phóng xạ (quản lý theo quy định về phóng xạ); chất thải y tế thông thường bao
gồm: CTRTT (kể cả CTR sinh hoạt); sản phẩm thải lỏng không nguy hại. Chất thải
lây nhiễm phải được quản lý chặt chẽ, nghiêm ngặt với cấp độ cao nhất trong các cơ
sở y tế, bảo đảm không phát tán mầm bệnh gây ảnh hưởng đến môi trường và
sức khỏe con người. Trường hợp để lẫn chất thải lây nhiễm vào CTR sinh hoạt, chất
thải thông thường thì hỗn hợp chất thải đó phải được quản lý theo quy định về chất

thải nguy hại. Các cơ sở y tế căn cứ vào quy hoạch, yếu tố địa lý, điều kiện kinh tế
và môi trường để lựa chọn áp dụng một trong các phương án xử lý chất thải y tế
nguy hại như sau: cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất
thải tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế; xử lý chất thải y tế nguy hại theo mô
hình cụm cơ sở y tế (chất thải y tế của một cụm cơ sở y tế được thu gom và
xử lý chung tại hệ thống, thiết bị xử lý của một cơ sở trong cụm); xử lý chất thải y
tế nguy hại tại hệ thống, thiết bị xử lý trong khuôn viên cơ sở y tế.
1.1.3. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Tại Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung, việc hoạt động phân loại CTR
ngay tại nguồn chưa được thực hiện rộng rãi và chặt chẽ, điều kiện cơ sở vật chất,
trang thiết bị còn hạn chế, phần lớn phương tiện thu gom CTR tuy đã ngày càng
được hiện đại hóa, nhưng vẫn còn đó một số quy chuẩn kỹ thuật và vấn đề vệ sinh
môi trường chưa được đảm bảo. Các điểm tập kết, trạm trung chuyển chưa được
đầu tư xây dựng đúng mức, gây mất vệ sinh. Tại nhiều khu vực, hệ thống vận
chuyển chưa đáp ứng nhu cầu vận chuyển CTR hàng ngày, gây tình trạng ứ đọng.
Nhìn chung tất cả các giai đoạn quản lý CTR từ khâu thu gom đến công đoạn xử lý
(tái chế, đốt, chôn lấp) đều gần như đều gây ô nhiễm tới môi trường thiên nhiên.
Chẳng hạn như khi vận chuyển và lưu trữ, CTR sẽ phát sinh mùi do bị phân hủy
(đối với CTR có liên quan đến chất hữu cơ) gây ra mùi khai (ammoniac), hôi
thối,…; đối với các bãi chôn lấp thì có tới 30% các chất khí phát sinh trong quá
trình phân hủy để thoát lên mặt đất mà không cần một sự tác động ngoại lực nào;
còn đối với việc tiêu hủy bằng phương pháp thiêu đốt thì đương nhiên ngoài việ c
tỏa nhiệt, bốc khói, tồn đọng tro bụi chúng còn phát tán ra môi trường vô số chất khí

11


độc hại như Clo, lưu huỳnh, nitơ, cácbôníc,… nhất là một số kim loại nặng và độc
hại (như thủy ngân, chì) có thể bốc hơi và phát tán vào môi trường. Không những
thế, trong thành phần CTR có chứa nhiều các chất độc, do vậy khi rác thải được đưa

vào môi trường, các chất độc sẽ xâm nhập vào đất và tiêu diệt nhiều loại sinh vật có
ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch,
nhái… làm giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây
trồng. Đặc biệt hiện nay sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong sinh hoạt và đời
sống, khi xâm nhập vào đất cần tới hơn 200 - 500 năm mới phân hủy hết (theo báo
Công an nhân dân số ra ngày 01/5/2018), do đó chúng tạo thành các “bức tường
ngăn cách” trong đất, hạn chế mạnh đến quá trình phân hủy, tổng hợp các chất dinh
dưỡnng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút
[30; 34].
Người dân sống ở khu vực xung quanh các bãi xử lý CTR có thể mắc các
chứng bệnh về da liễu, phế quản, xương khớp và nhất là ung thư. Hiện tại chưa có
một số liệu chính xác đánh giá đầy đủ về sự ảnh hưởng của các bãi chôn lấp tới sức
khỏe của người liên quan đến chất thải (nhất là CTR), tuy nhiên chúng ta cũng có thể
thấy rằng họ đang phải chịu thiệt thòi rất lớn bởi những ảnh hưởng của chất thải gây ra.
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), "trên thế giới mỗi năm có 5 triệu người chết và có
gần 40 triệu trẻ em mắc các bệnh có liên quan tới rác thải. Nhiều tài liệu trong nước và
quốc tế cho thấy, những xác động vật bị thối rữa trong hơi thối có chất amin và các
chất dẫn xuất sufua hydro hình thành từ sự phân hủy rác thải kích thích sự hô hấp của
con người, kích thích nhịp tim đập mạnh gây ảnh hưởng xấu tới những người mắc bệnh
tim mạch" [30;36]. Cũng theo tổ chức này, "tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở các khu
vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25% dân số. Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại
khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25%" [30;36]. "Ô
nhiễm không khí do quá trình phân huỷ của rác thải cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
sức khoẻ cộng đồng. Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ mật thiết giữa ô nhiễm
không khí do đốt rác thải với các bệnh lý đường hô hấp". [30; 36]
1.1.4. Quản lý chất thải rắn trong khu công nghiệp
Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý được hiểu là việc “tổ chức và điều khiển
các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [34; 317]. Trong cuộc các nguyên

12



liệu, sản phẩm từ thiên nhiên, từ sản xuất để tồn tại và phát triển đồng thời cũng vứt,
thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải, rác thải. Nền kinh tế - xã
hội càng phát triển, dân số tại các vùng đô thị, trung tâm công nghiệp càng tăng
nhanh thì phế thải và rác thải càng nhiều và ảnh hưởng trực tiếp trở lại đời sống của
con người, làm cho môi trường bị ô nhiễm, con người mắc bệnh tật, giảm sức khoẻ
cộng đồng, đất đai bị biến thành bãi rác, làm mất cảnh quan tại các khu đô thị.
Trong lĩnh vực quản lý chất thải, những hoạt động tổ chức và điều khiển của các cơ
quan nhà nước cũng như việc tổ chức quản lý chất thải của các tổ chức, cá nhân có
liên quan, nhằm giảm bớt những tác động xấu của chất thải đối với môi trường và
sức khỏe con người được hiểu là hoạt động quản lý chất thải. Đây là tổng hợp các
biện pháp, cách thức nhằm kiểm soát quá trình phát sinh, vận chuyển, xử lý chất
thải và những ảnh hưởng, tác động của chất thải đến môi trường.
Đã từ lâu, ở các nước phát triển, nhà nước và cộng đồng đã đưa ra các biện
pháp xử lý rác thải, đưa vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; xây dựng hệ thống
cống ngầm thoát nước, quy định những nơi chôn rác sinh hoạt, những quy chế,
phương pháp thu gom, phân loại, tái chế và quản lý rác. Chính vì vậy, những khu
dân cư tập trung và cả đến tận thôn xóm vùng nông thôn của các nước này đều có
một cảnh quan đô thị, làng xóm sạch đẹp, văn minh, con người khoẻ mạnh có ý
thức giữ gìn vệ sinh chung, đặc biệt là vấn đề vứt rác và thu gom rác. Từ những kết
quả thu gom phế liệu, rác thải, con người nhận thấy họ có thể tái chế các nguyên
liệu phế thải thành các sản phẩm tiêu dùng mới vừa tiết kiệm bãi rác vừa tăng sản
phẩm xã hội. Từ cách thức thu gom, phân loại chất thải đã đem lại nhiều kết quả
cho cuộc sống của con người như: Môi trường sống không bị ô nhiễm, giảm diện
tích chôn rác, đem lại nguồn lợi kinh tế, thu nhập cho lao động xử lý rác.
Để quản lý hiệu quả loại các loại chất thải (bao gồm cả CTRTKCN), trên thế
giới hiện có ba phương thức quản lý, với ba cách tiếp cận không giống nhau. Đó là
phương thức quản lý cuối đường ống sản xuất, phương thức quản lý dọc theo đường
ống sản xuất và phương thức quản lý nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng. Ưu điểm của

quản lý chất thải cuối đường ống sản xuất là thuận tiện, ít chi phí về tài chính và tiết
kiệm thời gian, nhưng phương thức này lại không tạo được sự chủ động trong
phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Theo phương thức này, vấn đề quản lý chất thải

13


chỉ đặt ra khi chất thải đã phát sinh tại nguồn thải, nên hiệu quả quản lý tuỳ thuộc
chủ yếu vào công đoạn xử lý chất thải. Nếu công đoạn này không được thực hiện tốt
thì việc phòng ngừa và giảm thiểu những tác động tiêu cực của chất thải hầu như
không thực hiện được. Ngược lại, phương thức quản lý chất thải dọc theo đường
ống sản xuất lại khắc phục được hạn chế này. Nó đảm bảo chất thải được kiểm soát
tại từng công đoạn của quy trình sản xuất, nên nếu có vấn đề phát sinh tại bất kỳ
công đoạn nào cũng có thể được xử lý mà không bị phụ thuộc vào hiệu quả hoạt
động của riêng một công đoạn như phương thức quản lý cuối đường ống. Cùng với
hai phương thức này, hiện nay, một số quốc gia, chủ yếu là các nước phát triển đã
bắt đầu tiếp cận với phương thức quản lý chất thải nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng.
Phương thức này cho phép các loại chất thải được quản lý trên cơ sở nâng cao nhận
thức của người tiêu dùng để khuyến khích họ lựa chọn những sản phẩm thân thiện
với môi trường, qua đó khuyến khích các DN hướng tới sản xuất các sản phẩm đó
để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Ở nước ta, theo thống kê hàng năm có: Hơn 60 triệu tấn rác, trong đó rác thải
trong khu công nghiệp khoảng 15,4 triệu tấn. Như vậy, tại Việt Nam nếu chúng ta
thực hiện được việc quản lý, thu gom, phân loại và tái chế số lượng chất thải khổng
lồ này thì sẽ góp phần không nhỏ làm tăng ngân sách nhà nước và tăng lượng sản
phẩm xã hội. Nhưng để làm được việc này một mặt chúng ta cần xây dựng cơ chế
quản lý chất thải, trong đó có CTRTKCN, một mặt đưa ra những biện pháp nhằm
phát huy tinh thần hợp tác của quần chúng nhân dân.
Theo thông tư số 35/2015/TT-BTNMT, tại chương 3, điều 11 có thể hiện:
“Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN phải phân loại CTRTT, chất thải y

tế và CTNH; tự xử lý hoặc ký hợp đồng thu gom, xử lý với đơn vị có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật” và “Bùn cặn của nhà máy xử lý nước thải tập trung, hệ
thống thoát nước của KCN và các cơ sở trong KCN phải được thu gom, vận chuyển
và xử lý hoặc tái sử dụng theo quy định của pháp luật về quản lý bùn thải”.
Ngoài ra trong một số văn bản khác như: chương 1 điều 3 khoản 15 Luật
BVMT 2014; Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh chiến lược
quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Chỉ thị
số 23/2015/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác quản lý CTR

14


tại các khu đô thị và công nghiệp;… cũng đưa ra các định nghĩa về quản lý CTR;
nhất là tại chương 9 Luật BVMT 2014 có đề cập đến vấn đề quản lý chất thải. Theo
đó ta có thể hiểu:
Quản lý CTRTKCN tại Hà Nội hiện nay phải bao gồm các hoạt động: phân
loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và xử lý, tiêu hủy các loại
CTRTKCN. Hoạt động quản lý CTRTKCN bao gồm các hoạt động: quy hoạch
quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu
trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu
những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe của con người. Cuối cùng là
các hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình quản lý
CTRTKCN.
Qua khái niệm này ta thấy quản lý CTRTKCN hiện nay ở nước ta được thể
hiện ở các khía cạnh sau:
* Chủ thể thực hiện quản lý CTRTKCN.
Cũng giống như hoạt động quản lý chất thải nói chung, CTNH hay chất thải
y tế nói riêng, quản lý CTRTKCN được thực hiện bởi hai nhóm chủ thể là nhà nước
và các tổ chức, cá nhân.
Nhà nước thực hiện quản lý CTRTKCN thông qua hoạt động của các cơ

quan quản lý nhà nước về BVMT. Đây là hệ thống cơ quan được tổ chức từ Trung
ương đến địa phương, chịu trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện và giám sát
thực hiện các hoạt động quản lý CTRTKCN của các tổ chức, cá nhân trong xã hội,
nhằm đạt đến những mục tiêu mà Nhà nước đặt ra. Hoạt động của hệ thống các cơ
quan này giữ vai trò quan trọng quyết định hiệu quả quản lý CTRTKCN trên thực
tế. Không giống với các lĩnh vực khác, các vấn đề về quản lý chất thải, trong đó có
CTRTKCN thường dẫn đến sự mâu thuẫn lợi ích giữa lợi ích trước mắt và lợi ích
lâu dài; giữa lợi ích của từng tổ chức, cá nhân với lợi ích chung của cộng đồng. Vì
thế, khó có thể trông chờ vào sự tự giải quyết của các bên mà cần có sự can thiệp
mạnh mẽ mang tính tổ chức quyền lực. Không chủ thể nào có thể đảm nhiệm được
vai trò này tốt hơn Nhà nước, với quyền lực và sức mạnh cưỡng chế của nó. Cùng
với Nhà nước, quản lý CTRTKCN còn được thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân
trong xã hội. Đó là các chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, chủ xử lý

15


CTRTKCN; cộng đồng dân cư. Nhóm chủ thể này thực hiện quản lý CTRTKCN
thông qua việc áp dụng các biện pháp để giảm thiểu CTRTKCN, phân loại, thu
gom, xử lý, tái chế CTRTKCN, hay giám sát việc thực hiện quản lý CTRTKCN của
các chủ nguồn thải… Hiệu quả quản lý CTRTKCN cũng phụ thuộc không nhỏ vào
mức độ và khả năng thực hiện các hoạt động quản lý của nhóm chủ thể này.
* Mục đích quản lý CTRTKCN
Mục đích của quản lý chất thải nói chung và CTRTKCN nói riêng là phòng
ngừa nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, khắc phục ô
nhiễm và phục hồi môi trường. Nếu vì những lý do khác nhau mà tình trạng ô
nhiễm môi trường vẫn xảy ra thì việc tiến hành các biện pháp khắc phục tình trạng ô
nhiễm, khôi phục lại môi trường đã bị ô nhiễm cũng là mục đích của quản lý
CTRTKCN.
* Nội dung của quản lý CTRTKCN.

Nội dung của quản lý CTRTKCN mà chủ thể thực hiện phải phù hợp với
từng giai đoạn cụ thể của quá trình quản lý. Có thể thực hiện việc quản lý từ giai
đoạn đầu tiên của hoạt động phát thải CTRTKCN là quản lý tại nguồn. Ở giai đoạn
này chủ thể quản lý phải nắm bắt toàn bộ các thông tin về CTRTKCN như: Thông
tin về số lượng nguồn phát sinh, lượng phát sinh, thành phần của CTRTKCN phát
sinh. Sau đó là giai đoạn thu gom, vận chuyển. Sau khi CTRTKCN được phân loại,
giảm thiểu tại nguồn sẽ được chuyển đến khu xử lý, đến trạm trung chuyển hoặc đến
nơi tạm giữ CTRTKCN. Đến giai đoạn cuối là xử lý và tiêu hủy CTRTKCN. Sau giai
đoạn này một số CTRTKCN sau khi tái chế được vận chuyển đến nơi sử dụng, phần
còn lại sau khi xử lý được đem thiêu hoặc chôn lấp.
Từ khái niệm trên ta thấy để quản lý CTRTKCN thì cần phải: Có nguồn đầu
tư, tập trung nguồn lực, khoa học kỹ thuật và nguồn tài chính lớn để xử lý, loại bỏ
hoàn toàn các đặc tính nguy hại của CTNH như: dễ cháy, dễ nổ, dễ lây nhiễm… để
biến nó thành CTRTT. Còn đối với công tác quản lý CTNH từ các khâu phân loại,
thu gom, bảo quản, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy đều đòi hỏi nghiêm ngặt về công
nghệ và kỹ thuật. CTNH phải được xử lý tuỳ theo tính chất và thành phần của từng
loại CTNH. Không thể xử lý hoặc tiêu hủy tất cả các loại CTNH phát sinh chỉ bằng
một công nghệ. CTNH có những đặc tính lý hoá hoặc sinh học đòi hỏi phải có

16


phương tiện vận chuyển và quy trình đặc biệt để xử lý nhằm tránh những rủi ro đối
với môi trường và sức khoẻ con người.
* Đối với quản lý CTNH đòi hỏi các chủ thể phải có một trình độ chuyên
môn nhất định để nhận biết, kiểm soát và xử lý. Đáp ứng yêu cầu này là rất khó bởi
không phải bất cứ Chủ nguồn thải nào cũng có đủ trình độ để nhận biết CTNH.
1.2. Quan niệm và vai trò của pháp luật về quản lý chất thải rắn trong khu
công nghiệp
1.2.1. Quan niệm về pháp luật quản lý chất thải rắn trong khu công nghiệp

So với các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật môi trường là một lĩnh vực khá
mới mẻ trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Các nhà luật học
Australia, một trong những quốc gia tiên phong trong BVMT bằng pháp luật đã
đánh giá rằng, không dễ dàng định nghĩa chính xác phạm vi của Luật môi trường
như chúng ta có thể làm với Luật hợp đồng hay Luật về các vi phạm ngoài hợp
đồng. Những lĩnh vực đó đã được định hình vững chắc bởi kinh nghiệm và án lệ
qua nhiều thế kỷ. Trong lúc đó, luật môi trường, nói một cách khái quát nhất, vẫn
còn trong thời kỳ thơ ấu của nó, được nảy sinh chủ yếu bằng các hoạt động lập pháp
của thế kỷ XX hơn là thông qua quá trình xử lý các nguyên tắc pháp lý thường
xuyên được tôi luyện, gọt rũa trong các tòa án. Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy
luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạm pháp
luật điều chỉnh những mối quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình con người khai
thác, sử dụng hay tác động đến một hoặc một vài yếu tố khác nhau của môi trường,
trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh, nhằm bảo vệ một cách hiệu quả môi
trường sống của con người. Theo cách hiểu đó, hệ thống pháp luật môi trường được
xây dựng và thực hiện không chỉ nhằm bảo đảm sự trong lành của môi trường, bảo
vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà còn ngăn ngừa, hạn chế những ảnh hưởng
xấu đến sức khoẻ con người và môi trường từ các loại chất thải [32; 40].
Khái niệm "quản lý chất thải" được hiểu là tổng thể các hoạt động gồm phân
loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải... Trong xã
hội hiện đại, việc đề cao ý thức BVMT và quản lý chất thải sao cho hợp lý, hiệu quả
ngày càng được chú trọng. Thay cho những quy định còn sơ sài về nội dung này

17


trong luật BVMT năm 1993, Luật BVMT năm 2005 và Luật BVMT 2014 được
đánh giá là đã có những "bước tiến vượt bậc" trong vấn đề quản lý chất thải.
Tại chương 1, điều 3, khoản 15 Luật BVMT 2014 định nghĩa: “Quản lý chất
thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển,

tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải.”
Theo đó: Hoạt động quản lý CTR bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý
đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận
chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác
động có hại đối với môi trường sống và sức khoẻ con người.
Trong hệ thống văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành đã đề
cập rất nhiều đến pháp luật về quản lý CTR nhất là quản lý CTRTKCN vì vậy ta
có thể thấy được tầm quan trọng của việc quản lý CTRTKCN. Do đó dựa vào các
định nghĩa nêu trên ta có thể đưa ra định nghĩa về pháp luật về quản lý
CTRTKCN như sau:
Pháp luật về quản lý CTRTKCN là một hệ thống nguyên tắc, các quy phạm
pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể phát sinh CTRTKCN với cơ
quan quản lý nhà nước và với nhau để thực hiện liện tục các hoạt động phân loại,
thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải rắn
nhằm bảo vệ, tái tạo môi trường và bảo đảm nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Như vậy pháp luật về quản lý CTRTKCN gồm các nguyên tắc và chế định
sau đây:
1.2.1.1. Các nguyên tắc của pháp luật quản lý CTRTKCN
Là một bộ phận của pháp luật môi trường, ngoài những nguyên tắc chung
(nguyên tắc đảm bảo quyền được sống trong một môi trường trong lành, nguyên tắc
phòng ngừa, nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất trong quản lý môi trường, nguyên
tắc PTBV) pháp luật quản lý chất thải còn có bốn nguyên tắc đặc thù sau:
Nguyên tắc chi phí - lợi ích. Theo nguyên tắc này, tất cả các hoạt động quản
lý chất thải bằng pháp luật phải được thực hiện trên cơ sở cân nhắc giữa chi phí để
phục hồi môi trường, phục hồi sức khỏe con người,… với những lợi ích kinh tế từ
việc tái chế, tái sử dụng hoặc xử lý, tiêu hủy chất thải.

18



Nguyên tắc hạn chế phát thải. Nguyên tắc này đề cao trách nhiệm của các tổ
chức, cá nhân, đặc biệt là chủ nguồn thải đối với việc áp dụng các biện pháp kỹ
thuật trong quá trình tiến hành các hoạt động liên quan đến chất thải để hạn chế đến
mức thấp nhất lượng chất thải thải ra môi trường. Nói cách khác, đây là một trong
những nguyên tắc đề cao vai trò của chủ nguồn thải trong việc giảm thiểu chất thải
từ hoạt động của chính mình.
Nguyên tắc kiểm soát tại nguồn. Đây là nguyên tắc đảm bảo cho bất kỳ một
chất thải nào cũng đều được kiểm soát ngay từ nguồn phát thải về số lượng, trạng
thái tồn tại của nó. Kiểm soát tại nguồn là một hoạt động hết sức quan trọng, có ý
nghĩa quyết định đến các công đoạn tiếp theo của quá trình quản lý chất thải.
Nguyên tắc phối hợp, hợp tác. Nguyên tắc này đòi hỏi việc quản lý chất thải
bằng pháp luật phải được tiến hành trên cơ sở của sự phối hợp liên ngành. Có như
thế mới đảm bảo được các yêu cầu về kỹ thuật, về pháp lý và cả yêu cầu về phương
diện kinh tế của hoạt động này.
Hệ thống các quy phạm pháp luật về quản lý chất thải, trong đó có
CTRTKCN được xây dựng và thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc pháp lý cơ bản
nêu trên.
1.2.1.2. Nội dung pháp luật về quản lý CTRTKCN
Các chế định của pháp luật quản lý CTRTKCN có thể phân chia theo các
hoạt động của quá trình quản lý gồm: giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển,
tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy CTR bao gồm nhóm quy định sau;
Thứ nhất, các quy định về giảm thiểu CTRTKCN
Thứ hai, các quy định về phân loại, thu gom CTRTKCN
Thứ ba, các quy định về tái sử dụng, tái chế CTRTKCN
Thứ tư, các quy định về vận chuyển CTRTKCN
Thứ năm, các quy định về xử lý CTRTKCN
Bên cạnh đó, còn có quy định quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện các quy
định quản lý CTR nêu trên, gồm các quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối
với CTRTKCN và quy định về xử lý vi phạm trong quản lý CTRTKCN.
Các chế định của pháp luật quản lý CTRTKCN còn có thể phân chia theo

mức độ ảnh hưởng xấu tới môi trường. Theo cách phân chia này, pháp luật quản lý

19


×