Tải bản đầy đủ (.pdf) (82 trang)

Luận văn thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi từ thực tiễn tỉnh quảng ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (986.89 KB, 82 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG QUÂN

THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN MÀ BỊ CÁO
LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Hà Nội, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG QUÂN

THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN MÀ BỊ CÁO
LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH

Hà Nội, 2019




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là
người dưới 18 tuổi từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu do
chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Võ Khánh Vinh.
Các nội dung, thông tin được trình bày trong luận văn là trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình.
Hà Nội, ngày 28 tháng 06 năm 2019
Tác giả luận văn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI ................8
1.1. Lý luận về thủ tục xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi ......8
1.2. Pháp luật về thủ tục xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi
trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ......................................................................17
Chương 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TẠI TỈNH
QUẢNG NINH ........................................................................................................26
2.1. Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tại tỉnh Quảng Ninh .....................................26
2.2. Những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc
trong việc thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi tại tỉnh Quảng Ninh ......................................41
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN MÀ BỊ
CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI ........................................................................51

3.1. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về thủ tục xét xử vụ án
mà bị cáo là người dưới 18 tuổi ............................................................................51
3.2. Tăng cường triển khai, hướng dẫn thực hiện thủ tục xét xử án hình sự đối với
người dưới 18 tuổi ................................................................................................55
3.3. Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác xét xử
- giỏi về chuyên môn, hoàn thiện về nhân cách và đạo đức nghề nghiệp ............59
3.4. Các giải pháp khác .........................................................................................65
KẾT LUẬN ..............................................................................................................70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................72


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

:

Bộ luật hình sự

BLTTHS

:

Bộ luật tố tụng hình sự

TAND

:

Tòa án nhân dân


TANDTC

:

Tòa án nhân dân tối cao

TTHS

:

Tố tụng hình sự

VKSND

:

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC

:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa



DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số lượng vụ án hình sự do người dưới 18 tuổi thực hiện trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh từ 2013 đến năm 2018................................................ 33
Bảng 2.2: Thống kê số lượng bị cáo là người dưới 18 tuổi trong tổng số bị cáo
bị xét xử từ năm 2013 đến 2018 tại tỉnh Quảng Ninh. ....................................... 34
Bảng 2.3: Cơ cấu các loại tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện đã được xét
xử trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từ năm 2013 đến 2018 ................................... 35
Bảng 2.4: Thống kê mức hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh từ 2013 đến năm 2018 ..................................................... 36
Bảng 2.5: Thống kê người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
theo nhóm tuổi .................................................................................................... 39


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Việt Nam đang bước vào giai đoạn đổi mới, phát triển hội
nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hơn bao giờ hết. Kinh tế thị trường phát
triển mạnh mẽ trên cơ sở đời sống chính trị ổn định, một nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc là cơ sở để nâng cao chất lượng đời sống nhân dân cả
về vật chất lẫn tinh thần, xây dựng một nước Việt Nam là một nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường,
hội nhập quốc tế thì những góc khuất mảng tối trong xã hội xuất hiện ngày
càng nhiều. Tệ nạn xã hội xuất hiện ngày càng nhiều với tính chất nguy hiểm
hơn trước, các giá trị xã hội bị đảo lộn, quan liêu, tham nhũng rồi công bằng
xã hội bị vi phạm. Trong đó, một vấn đề đáng lo ngại đang xảy ra trong xã hội
Việt Nam hiện nay đó là tình hình vi phạm pháp luật của người dưới 18 tuổi
đang ngày một gia tăng, các hành vi vi phạm pháp luật của nhóm chủ thể này

không còn chỉ là những vi phạm nhỏ, hành chính mà những hành vi nguy
hiểm, là đối tượng xử lí của pháp luật hình sự cũng ngày một nhiều.
Là “chủ nhân tương lai của đất nước” nên hành vi phạm tội của người
dưới 18 tuổi không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến các nạn nhân mà nó còn
quyết định đến sự phát triển, đến tương lai của cả một quốc gia, dân tộc.
Chính vì vậy, việc giải quyết tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội là một
vấn đề cấp bách mà Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm giải quyết triệt trước
khi hướng tới những mục tiêu xa hơn là xây dựng một xã hội dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tuy nhiên, với những đặc điểm
đặc biệt về chủ thể phạm tội nên việc giải quyết hành vi vi phạm pháp luật nói
chung và vi phạm pháp luật hình sự nói riêng của người dưới 18 tuổi có phần
phức tạp hơn rất nhiều. Vấn đề không chỉ dừng lại ở xử lí một vụ án, xử phạt
một chủ thể vi phạm mà làm sao để thông qua hoạt động xử lí hành vi phạm

1


tội của người dưới 18 tuổi có thể giáo dục, răn đe, ngăn ngừa và giảm thiểu
hành vi vi phạm pháp luật, duy trì sự ổn định, trật tự an toàn xã hội mới là
mục tiêu cuối cùng mà cơ quan xét xử cần hướng tới. Theo tinh thần đó, Bộ
Luật Tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS 2015) đã xây dựng chương XXVIII “
Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi”, thuộc Phần thứ bảy (thủ tục đặc
biệt), một chương riêng biệt quy định về thủ tục trong tố tụng đối với người
dưới 18 tuổi.
Những quy định trong BLTTHS 2015 và các văn bản luật liên quan là
cơ sở pháp lí cho việc xác định thủ tục trong tố tụng đối với người dưới 18
tuổi. Những quy định này của BLTTHS là yêu cầu bắt buộc phải tuân theo đối
với các chủ thể, đặc biệt là cơ quan xét xử khi tiến hành xử lý vụ việc có bị
cáo là người dưới 18 tuổi để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các chính bị
cáo và các chủ thể có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng những quy định

về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi quy định trong BLTTHS 2015
nảy sinh một số vướng mắc, bất cập nhiều nội dung chưa rõ ràng, chưa có văn
bản hướng dẫn thi hành. Mặt khác, thủ tục trong tố tụng đối với người dưới
18 tuổi đôi khi còn chưa được tôn trọng thực hiện trong quá trình tố tụng do
sự lạm quyền, coi thường pháp luật của cơ quan xét xử, điều này ảnh hưởng
trực tiếp đến lợi ích của bị cáo, nguyên đơn và những người khác có liên quan
cũng như tính hiệu lực của pháp luật khi xử lí các vụ việc án hình sự có bị cáo
là người dưới 18 tuổi.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh, diễn biến
tình hình trẻ em vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây
có xu hướng giảm, song chưa rõ rệt. Các vụ án không chỉ ở các thành phố, thị
xã, mà còn xảy ra ở các huyện vùng sâu, vùng xa, tính chất mức độ nghiêm
trọng, phức tạp. Hiện nay, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm dưới 18 tuổi đang
trở thành mối quan tâm hàng đầu của xã hội hiện nay, đòi hỏi những giải pháp
phù hợp, hiệu quả. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, hành vi phạm tội của người

2


dưới 18 tuổi có tính chất ngày càng nguy hiểm, đáng lo ngại. Nếu như trước
kia, người vị thành niên thường chỉ “dính” tới các hành vi trộm cắp, gây rối
trật tự công cộng, cố ý gây thương tích không gây nguy hại lớn, thì một vài
năm trở lại đây, hành vi tội phạm mở rộng theo chiều hướng nguy hiểm hơn:
Giết người cướp của, hiếp dâm, mua bán ma túy... Tình trạng người vị thành
niên tụ tập thành băng nhóm, dùng hung khí để giải quyết mâu thuẫn khá phổ
biến. Hành vi phạm tội của người vị thành niên ngày một hung hãn, phương
thức, thủ đoạn hết sức nguy hiểm, tinh vi, nhiều vụ rất dã man và mất hết tính
người. Một điều đáng lo ngại nữa là về lứa tuổi, tình trạng người phạm tội có
xu hướng ngày càng trẻ hóa, tuy ở độ tuổi còn rất trẻ, song hành vi phạm tội
của các bị cáo là rất nguy hiểm và quyết liệt, có sự chuẩn bị về công cụ,

phương tiện với thủ đoạn tinh vi. Do vậy, hậu quả để lại là rất nặng nề, gây lo
ngại trong nhân dân và gây dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng đến tình hình
trật tự chung tại địa phương.
Những căn cứ lí luận và yêu cầu thực tiễn nêu trên là lí do thúc đẩy tác
giả lựa chọn đề tài “Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người dưới
18 tuổi từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” cho luận văn tốt nghiệp của mình
nhằm tìm hiểu và đánh giá những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi và thực
trạng hoạt động áp dụng các quy định đó vào xử lí các vụ án trên thực tế. Trên
cơ sở đó để tìm ra những hạn chế tồn tại trong quy định của pháp luật và đưa
ra những giải pháp để khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu lực pháp luật trên
thực tế, góp phần bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích chính đáng của người dưới 18
tuổi và những người khác có liên quan.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước khi chọn đề tài “Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người
dưới 18 tuổi từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” cho luận văn của mình, tác giả đã
tham khảo một số nghiên cứu về lĩnh vực tư pháp đối với người chưa thành

3


niên như: Nguyễn Thu Huyền, “Thủ tục xét xử những vụ án mà bị cáo là
người chưa thành niên: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ
luật học 2006, Đại học quốc gia Hà Nội; Đỗ Xuân Hồng , “Xét xử vụ án có bị
cáo là người chưa thành niên theo luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn
thạc sĩ luật học 2014, Đại học quốc gia Hà Nội; Quách Hữu Thái: “Những
vướng mắc trong thực tiễn xét xử người chưa thành niên phạm tội”; Trần
Hưng Bình: “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”,...[18,tr6]
Từ việc tìm hiểu những sản phẩm nghiên cứu trên, tác giả đã có sự tiếp

thu, tận dụng một số nội dung đã được công nhận vào triển khai và làm cơ sở
nền tảng cho công trình nghiên cứu của mình. Qua những phân tích đánh giá,
tác giả nhận thấy rằng thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người dưới
18 tuổi nói chung và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh vẫn chưa thực sự
hiệu quả và tổn tại những hạn chế nhất định.
Do vậy, để tìm hiểu những hạn chế đó cũng như có giải pháp hiệu quả
để khắc phục, việc tác giả lựa chọn đề tài “Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị
cáo là người dưới 18 tuổi từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” là cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Thực hiện luận văn tác giả với mong muốn tìm hiểm và phân tích để có
cái nhìn toàn diện về các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện thủ
tục xét xử sơ thẩm các vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi cụ thể là trên
địa cấp địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Để từ đó có thể đưa ra giải pháp hoàn thiện
quy định của pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người
dưới 18 tuổi nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện luận văn, tác giả hướng tới thực hiện các nhiệm vụ sau:

4


- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận như khái niệm thủ tục xét xử
sơ thẩm đối với người dưới 18 tuổi; đặc điểm tâm lý lứa tuổi của người dưới
18 tuổi;
- Phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật về nhữn nội dung:
Người dưới 18 tuổi; trình tự, thủ tục xét xử hình sự sơ thẩm đối với vụ án mà
bị cáo là người dưới 18 tuổi;
- Phân tích và đánh giá thực trạng xét xử hình sự sơ thẩm đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh; chỉ ra những kết quả đạt

được, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tập trung vào những đối tượng
chính sau:
- Quy định của pháp luật về thủ tục xét xử hình sự sơ thẩm đối với
người dưới 18 tuổi.
- Thực trạng xét xử hình sự sơ thẩm đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội tại tỉnh Quảng Ninh.
4.2 Phạm vi nghiên cứu.
Về không gian: Để phân tích được tập trụng, chi tiết tác giả chỉ tập
trung nghiên cứu về công tác xét xử sơ thẩm của Tòa án hai cấp trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh, đối với các cấp xét xử khác như phúc thẩm, giám đốc thẩm
hay tái thẩm và với những người tham gia tố tụng khác như người bị hại,
người làm chứng dưới 18 tuổi tác giả không đi sâu mà sẽ nghiên cứu ở những
công trình về sau.
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động xét xử hình sự
sơ thẩm vụ án có bị cáo là người dưới 18 tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
trong thời gian 6 năm từ 2013 đến 2018.

5


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình nghiên cứu tác giả có sử dụng một số phượng pháp
luận như:
- Thứ nhất, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.
- Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với các quan điểm, đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, ngoài phương
pháp luận, trong quá trình nghiên cứu để thực hiện khóa luận, tác giả đã sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp bình luận, diễn giải;
phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương
pháp thống kê...
- Phương pháp bình luận, diễn giải...được sử dụng để nghiên cứu tổng
quan về lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện thủ tục xét xử
sơ thẩm các vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn phân tích và tổng kết lại
những kết quả của các công trình nghiên cứu và thực tiễn thực hiện pháp luật
về thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi. Từ đó
nhận xét, đánh giá kết quả đạt được, hạn chế tồn tại và đề xuất giải pháp hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện thực hiện pháp luật về thủ tục
xét xử sơ thẩm các vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận.
Qua quá trình nghiên cứu, tìm tòi và phân tích của mình tác giả đã có
những đóng góp riêng vào những nội dụng lí luận về thủ tục xét xử sơ thẩm
vụ án có bị cáo là người dưới 18 tuổi. Vì trong nội dụng nghiên cứu của mình
không dừng lại ở việc tìm hiểu, tác giả còn đưa ra những nhận đinh về những

6


ưu, hạn chế, đồng thời từ đó đưa ra những giải pháp mang tính quan điểm cá
nhân để góp phần hoàn thiện những nội dung lí luận và pháp luật về thủ tục
xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã có những tìm hiểu và nghiên

cứu từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh. Với những số liệu cụ thể này tác giả đã
phát hiện ra những bất hợp lí còn tồn tại trong quy định của pháp luật về
những thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi cùng như
những khó khăn khi áp dụng chúng vào việc giải quyết xử lí những vụ án thực
tế. Qua đó, đưa ra những đề xuất về giải pháp làm sao có thể nâng cao được
hiệu quả thực hiện hủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người dưới 18
tuổi, góp phần bao vệ quyền lợi cra người dưới 18 tuổi và những chủ thể khác
liên quan.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn có kết cấu gồm những phần sau:
- Phần mở đầu,
- Nội dung chính của gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận và lịch sử quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự mà bị cáo lài người dưới 18 tuổi.
Chương 2: Tình hình thực hiện thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
mà bị cáo là người dưới 18 tuổi tại tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp
luật về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi.
- Phần Kết luận.

7


Chương 1
LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI
1.1. Lý luận về thủ tục xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là người
dưới 18 tuổi
1.1.1. Khái niệm thủ tục xét xử vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi
Theo quy định của BLHS năm 2015 thì người chưa thành niên là những

người chưa đủ 18 tuổi, nhưng chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi
đến dưới 18 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội, còn
người chưa thành niên dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trong đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội
cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về
mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. [27,tr9]
Theo Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “ Bị cáo là
người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa
vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này [27,tr86]”. Đồng thời
theo quy định tại Điều 12 của BLHS năm 2015 về tuổi chịu trách nhiệm hình
sự, thì có thể hiểu bị cáo là người dưới 18 tuổi là người từ đủ 14 tuổi đến
chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.[27,tr9]
Từ phân tích trên có thể hiểu: “Bị cáo dưới 18 tuổi là người từ đủ 14 tuổi
đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự
quy định là tội phạm bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”.

8


Việc xác định tuổi của bị cáo là người dưới 18 tuổi rất quan trọng vì đây
là căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn, áp dụng các thủ tục đặc biệt đối
với bị cáo nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người phạm tội dưới
18 tuổi. Việc xác định tuổi của bị cáo còn giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác
định việc xét xử và áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi.
18 tuổi là độ tuổi mà chủ thể vẫn còn non nớt về nhận thức và đôi khi

chịu tác động rất lớn từ những yếu tố bên ngoài. Chính vì vậy, trong xét xử
với người dưới 18 tuổi Đảng và Nhà nước ta không đặt nặng mục đích trừng
phạt mà mục tiêu cuối cùng hướng tới là nhằm giáo dục, tạo điều kiện để họ
được sửa chữa phát triển theo đúng độ tuổi của mình. Vì vậy, Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015 đã có một chương riêng (Chương XXVIII) quy định về thủ
tục tố tụng trong xét xử sơ thẩm đối với vụ án mà người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là người dưới 18 tuổi.
Việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được chia thành 02 giai đoạn là
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và phiên tòa hình sự sơ thẩm. Còn thủ
tục xét xử là cách thức tiến hành giải quyết một vụ án hình sự. Từ sự phân
tích trên ta có thể đưa ra khái niệm thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà bị
cáo là người dưới 18 tuổi như sau: “Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà
bị cáo là người dưới 18 tuổi là cách thức tiến hành giải quyết vụ án hình sự
đối với người dưới 18 tuổi đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử ở cấp xét xử
thứ nhất (cấp sơ thẩm) bằng việc ra bản án, quyết định bị cáo có tội hay
không có tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp hoặc các quyết định tố tụng
khác theo quy định của pháp luật”.
Thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam là tổng hợp các quy định về thủ tục đặc
biệt theo hướng hoặc mang tính chất nhân đạo đối với bị cáo là người dưới 18
tuổi nhằm mục đích xét xử vụ án một cách khách quan, toàn diện và tuân thủ

9


theo đúng pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo là người
dưới 18 tuổi.
1.1.2. Đặc điểm thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà bị cáo là
người dưới 18 tuổi
Qua nghiên cứu các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

mà bị cáo là người dưới 18 tuổi, chúng ta có thể hiểu: Các quy định về thủ tục
tố tụng đối với người chưa thành niên có những đặc trưng so với thủ tục tố
tụng áp dụng đối với người thành niên. Cụ thể như sau:
* Thứ nhất, phạm vi áp dụng thủ tục xét xử đối với người dưới 18 tuổi
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 đã dành một chương
(chương XXVIII) quy định về thủ tục đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi.
Phạm vi áp dụng của Chương này được thể hiện tại Điều 413 Bộ luật tố tụng
hình sự như sau: “Thủ tục tố tụng đối với người bị buộc tội, người bị hại,
người làm chứng là người dưới 18 tuổi được áp dụng theo quy định của
Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái
với quy định của Chương này”.
Như vậy, có thể hiểu phạm vi áp dụng thủ tục xét xử đối với bị cáo là
người dưới 18 tuổi bao gồm các quy định tại Chương XXVIII Bộ luật tố tụng
hình sự (từ Điều 413 đến Điều 430); Thông tư số: 01/2016/TT-CA ngày
21/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư số: 01/2017/TT-TANDTC
ngày 28/07/2017 của tòa án nhân dân tối cao; Thông tư số: 02/2018/TTTANDTC ngày 21/09/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư số:
06/2018/TTLH-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018
của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ
Tư pháp, Bộ Lao động thương binh xã hội, cùng những văn bản hướng dẫn và
các văn bản pháp luật liên quan.
* Thứ hai, những vấn đề cần xác định rõ trong vụ án mà bị cáo là
người dưới 18 tuổi

10


Khi tiến hành xét xử với những vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi,
ngoài những vấn đề bắt buộc phải chứng minh đối với các vụ án hình sự nói
chung, thì theo quy định tại Điều 416 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Tòa án
cần phải xác định rõ các vấn đề sau đây:

Một là, tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ
nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi phạm tội: Việc xác
định tuổi của bị cáo đặc biệt quan trọng vì đây là căn cứ để truy cứu trách
nhiệm hình sự của người phạm tội cũng như việc xác định trình độ phát
triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội giúp
cho người tiến hành tố tụng có thể đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm
cho xã hội do hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi gây ra để có thể áp
dụng biện pháp tư pháp hay hình phạt thích hợp, bảo đảm chế độ thi hành
án theo quy định của pháp luật.
Hai là, Điều kiện sống và giáo dục: “Hành vi phạm tội của người dưới
18 tuổi thường bắt nguồn từ điều kiện sống và giáo dục trong gia đình, nhà
trường và xã hội”.
Ba là, cơ quan xét xử cần phải quan tâm đến yếu tố xúi giục phạm tội
của người thành niên: Vì bản thân những người dưới 18 tuổi vẫn chưa thực sự
ý thức được mức độ nguy hiểm trong hành vi của mình và đôi khi còn chịu sự
ảnh hưởng, xúi giục từ người khác, đặc biệt là người thành niên.
Bốn là, xác định chính xác những yếu tố nguyên nhân, điều kiện, hoàn
cảnh phạm tội của người dưới 18 tuổi. Muốn khắc phục khó khăn phải tìm ra
được nguyên nhân. Vì vậy muốn hoạt động xét xử đạt hiệu quả cũng như
đúng mục đích, ý nghĩa thì trước tiên cần xác định được nguyên nhân, điều
kiện, hoàn cảnh phạm tội của người dưới 18 tuổi để đưa ra được hướng xử lí
phù hợp và hiệu quả nhất.

11


* Thứ ba, về người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên)
Xuất phát từ những đặc điểm tâm sinh lý, trình độ, khả năng nhận thức
của người dưới 18 tuổi, pháp luật TTHS có những quy định đặc biệt để áp
dụng riêng đối với những trường hợp mà người bị buộc tội là người dưới 18

tuổi. Theo quy định tại khoản 1, điều 423, BLTTHS 2015 quy định: “1.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án phải có một Hội thẩm là giáo viên
hoặc cán bộ Đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý
người dưới 18 tuổi”[27,tr62]. Như vậy, trong Hội đồng xét xử bắt buộc phải
có một Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi.
* Thứ tư, bắt buộc phải có sự tham gia của người bào chữa.
So với thủ tục xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là người thành niên thì
thủ tục xét xử sơ thẩm đối vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi, bắt
buộc phải có sự tham gia của người bào chữa.
Trong BLTTHS 2015 quy định bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ
người khác bào chữa.Tuy nhiên cũng trong BLTTHS 2015 lại có quy định
riêng về sự tham gia của người bào chữa khi bị cáo là người dưới 18 tuổi. Đối
với bị cáo là người dưới 18 tuổi, nếu họ không thể mời được người bào chưa
cho mình thì khi ấy cơ quan xét xử có nghĩa vụ yêu cầu Đoàn luật sư, Trung
tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cử
người bào chữa cho họ. Đây là trường hợp đặc biệt khi Tòa án chỉ định người
bào chữa và nó có những điểm đặc trưng sau:
Một là, cơ sở pháp lý đầu tiên để người bào chữa tham gia vào vụ án là
sự chủ động thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo từ phía
các cơ quan tiến hành tố tụng thông qua hình thức yêu cầu hoặc đề nghị cơ
quan có thẩm quyền cử người bào chữa cho bị cáo.

12


Hai là, quyết định quản lý của cơ quan có thẩm quyền
Ba là, bị cáo là người dưới 18 tuổi vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc
từ chối người bào chữa đã được cử cho họ những quyền này không có tính
tuyệt đối.

Bốn là, chi phí cho người bào chữa do Nhà nước chịu.
* Thứ năm, sự tham gia của người đại diện, nhà trường hoặc tổ chức
* Thứ sáu, Cân nhắc lựa chọn biện pháp ngăn chặn phù hợp với bị cáo
dưới 18 tuổi.
Hiện nay, theo LTTHS có các biện pháp ngăn chặn sau: “giữ người
trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm,
cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh..”. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn
nào sẽ do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định dựa trên kết quả nghiên cứu về tính
chất, mức độ và hậu quả trong hành vi của người dưới 18 tuổi.
Trong đó biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ,
tạm giam đối với người dưới 18 phạm tội là biện pháp đặc biệt và được uy
định rất chi tiết trong BLTThS cụ thể như sau:
Về các trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo là
người dưới 18 tuổi:
- Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm
giam chỉ có thể áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi trong
trường hợp họ phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng;
- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý,
tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng.
- Đối với bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị xét xử về tội nghiêm
trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù

13


đến 02 năm thì có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội, bỏ
trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. “
Về thời hạn tạm giam, đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

bằng hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên.
Về việc giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, nếu
xét thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi là
không cần thiết, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao người
bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện của họ giám sát để bảo
đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng. Những người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát
chặt chẽ người dưới 18 tuổi, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó.
Hiện nay, không có văn bản pháp luật nào hướng dẫn về việc người đại diện
có quyền từ chối không thực hiện nghĩa vụ giám sát của mình khi được yêu
cầu, mặt khác theo quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
năm 1991, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cha mẹ, ông bà, các thành
viên lớn tuổi khác trong gia đình và người đỡ đầu có trách nhiệm về việc
chăm sóc, nuôi dạy con chưa thành niên, cho nên họ phải có nghĩa vụ giám
sát, giáo dục, chăm sóc người dưới 18 tuổi. Như vậy, có nghĩa là trong mọi
trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu thì việc giám sát người bị buộc
tội là người dưới 18 tuổi, người đại diện phải thực hiện. Hay nói cách khác,
việc giám sát người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi vừa là quyền vừa là
nghĩa vụ của người đại diện.
1.1.3. Nguyên tắc tiến hành tố tụng trong xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự đối với người dưới 18 tuổi
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi,
đặc biệt là vụ án có bị cáo là người dưới 18 tuổi phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ
những nguyên tắc sau:

14


* Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi,

mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất
của người dưới 18 tuổi.
Người dưới 18 tuổi nói chung và người dưới 8 tuổi phạm tội nói riêng
đều là những người đang trong thời kì phát triển cả về vật chất lẫn tâm sinh lí.
Tâm lí những người ở đọ tuổi này vẫn còn nhiều thay đôi và thường chịu tác
động của rất nhiều yếu tố bên ngoài, của môi trường cũng như những mối
quan hệ xung quanh họ. Vì vậy, mà hành vi phạm tội của những người ở đô
tuổi này đôi khi xảy ra do sự bất ổn về mặt tâm lí, sự trẻ con háo thắng của
tuổi trẻ. Hơn nữa, đây là lứa tuổi sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự pháp triển của
cả tương lai đất nướ, họ rất cần có cơ hội được giáo dục, được tạo điều kiện
để sửa chữa sai lầm, hoàn thiện và trường thành bản thân. Vì vậy, trong khi
xét xử sơ thẩm những bị cáo dưới 18 tuổi cơ quan xét xử phải luôn đề cao
mục tiêu giáo dục răn đe, để người dưới 18 tuổi nhận thức được hành vi, mức
độ nguy hiểm trong hành vi của mình để từ đó sửa chữa mình, rền luyện hoàn
thiện bản thân, ý thức tôn trọng pháp luật, đạo đức xã hội. Để họ trở thành lớp
trẻ, là chủ nhân tương lai của đất nước như lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh.
* Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi.
Bất cứ ai cũng có những bí mật đời tư riêng, đặc biệt là đối với người
dưới 18 tuổi, đang ở lứa tuổi trưởng thành, việc giữ những bí mật trong quá
trình xét xử có ý nghĩa và ảnh hưởng rất nhiều đếnh tâm lí của người dưới 8
tuổi phạm tội Hiện nay, trong một số trường hợp, Tòa án xét xử quyết định vụ
án ra xét xử công khai nhằm mục tiêu răn đe, giáo dục công chúng, đây là
hình thức xét xử lưu động để mở rộng sức ảnh hưởng vào trong nhân dân.
Tuy nhiê, như một con dao hai lưỡi, việc xét xử công khai trong nhân dân đối
với người dưới 18 tuổi tác độnbg ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lí bị cáo, sẽ gây
cho người dưới 18 tuổi tâm lí e dè, mặc cảm về bản thân và rất khó có thể hòa

15



nhập lại với người thân bạn bè khi nghĩ rằng bạn bè đều biết về tội lỗi của họ
gây ra.
* Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới
18 tuổi, nhà trường, Ðoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm
lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt.
Người dưới 18 tuổi là người chưa thực sự phát triển hoàn thiện cả về
tinh thần lẫn thể chất, đặc biệt là về nhận thức. Đôi khi, người dưới 18 tuổi
không nhận thức được quyền, nghĩa vụ của mình, họ không biết cần làm gì và
phải làm gì. Vì vậy, trong trường hợp này cần phải có ựu tham gia của người
đại diện và những người khác có liên quan hoặc kinh nghiệm hiểu biết để
tham gia bảo vệ quyền lợi cho người dưới 18 tuổi một cách tốt nhất theo đúng
quy định của pháp luật. Tuy nhiên việc người đại diên và những người khác
có liên quan đến người 18 tuổi phạm tội tham gia tố tụng phải tuân thủ theo
quy định của pháp luật, tránh tình trạng lạm quyền, vi phạm điều cấm của
pháp luật.
* Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18
tuổi.
Điều 20 Khoản 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định:
“Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển
của trẻ em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình quan
tâm”. Từ quy định này có thể nhận thấy, nguyên tắc trên đã được Đảng và
nhà nước ta cụ thể hóa bằng quy định trong pháp luật hình sự, thể hiện chính
sách và chủ trương tôn trọng và bảo vệ quyền công dân theo ghi nhận của
Hiến pháp và Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
* Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người
dưới 18 tuổi.
Theo quy định cua BLTTHS 2015 đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi
thì trong trường hợp người đại diện hay người được người dưới 18 tuổi ủy


16


quyền mà không thể mời người bào chữa thì Tòa án sẽ có trách nhiệm cử
người bào chữa cho người dưới 18 tuổi. Nguyên tắc này xuất phát từ đjăc
điểm nhận thức chưa thực sự hoàn hiện của người dưới 18 tuổi, họ chưa thể tự
bào chữa được cho mình và đôi khi điều kiện gia đình cùng những điều kiện
khach quan khác mà họ không theer mời được người bào chữa cho mình. Vì
vậy, để hỗ trợ và bảo đảm tốt nhất cho người dưới 18 tuổi Tòa án sẽ chỉ định
người bào chữa nến trong trường hợp ngưởi dưới 18 tuổi không thêt tự bào
chữa cho mình
* Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến
người dưới 18 tuổi.
Đây là nguyên tắc đặt ra với việc xét xử một vụ án hình sự nói chung,
đặc biệt là với người dưới 18 tuổi nói riêng vì mục tiêu cuối cùng hướng tới
với xét xử người dưới 18 tuổi là giáo dục răn đ echo họ nhận ra lối của mình
từ đó đưa ra phương án, biện pháp để họ khắc phục và tiếp tục phát triển bản
thân. Yêu cầu giải quyết nhanh chóng ,kịp thời còn hướng tới hạn chế những
thủ tục dài dòng sự tắc trách của cơ quan tiến hành tố tụng gây ảnh hưởng đến
quyền lợi của người dưới 18 tuổi, những người khác liên quan cũng như lợi
ích của nhà nước, xã hội.
1.2. Pháp luật về thủ tục xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là người
dưới 18 tuổi trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
1.2.1. Vài nét về việc xét xử vụ án hình sự
Xét xử là giai đoạn trung tâm, quyết định quá trình giải quyết vụ án từ
khi khởi tố điều tra đến khi đưa bị cáo ra trước Tòa án. Một người dù phạm
tội bị bắt quả tang, bị bắt khẩn cấp, bị cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố
và bị Viện kiểm sát truy tố thì họ cũng chưa bị coi là có tội nếu như chưa bị
Tòa án kết án và bản án có hiệu lực pháp luật.
Trong quá trình xét xử, mọi chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra thu

thập trong quá trình điều tra được xem xét một cách công khai, những người

17


tham gia tố tụng được tranh luận, đối đáp với nhau trước Tòa án, người này
biết người khác khai như thế nào? Tại phiên tòa, Tòa án còn kiểm tra tính hợp
pháp trong hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người
tham gia tố tụng khác khác. Để đạt được mục đích yêu cầu của hoạt động xét
xử, Tòa án và những người tiến hành tố tụng trong giai đoạn xét xử phải tuân
thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự từ khâu chuẩn bị
đến việc xét xử tại phiên tòa và cuối cùng là tuyên án. Một phiên tòa công
khai, xét xử đúng người, đúng tội, bảo đảm tranh tụng dân chủ với người bào
chữa và những người tham gia tố tụng khác là một thành công của hoạt động
xét xử.
Một phiên tòa hình sự dù chỉ có một bị cáo hay nhiều bị cáo, dù bị cáo
bị truy tố về tội phạm ít nghiêm trọng hay tội nghiêm trọng; thời gian xét xử
có thể chỉ xảy ra trong một ngày hay nhiều ngày, cũng đều phải tuân theo một
trình tự nhất định bao gồm các bước (các giai đoạn): Thủ tục bắt đầu phiên
tòa, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án. Việc
xét xử tại phiên tòa đòi hỏi những người tiến hành tố tụng mà trước hết là
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không chỉ cần trình độ chuyên môn giỏi mà phải
có kinh nghiệm xét xử, kinh nghiệm điều khiển phiên tòa, xử lý tốt các tình
huống xảy ra tại phiên tòa v.v... Có thể nói, điều khiển phiên tòa là một nghệ
thuật, nó là thước đo đánh giá trình độ nghiệp vụ, năng lực công tác của người
tiến hành tố tụng. Thực tiễn xét xử cho thấy, có nhiều phiên tòa được công
chúng khen ngợi là công minh, nhưng cũng không ít phiên tòa không đạt yêu
cầu thậm chí gây sự bất bình cho những người dự phiên tòa, mặc dù bản án
không trái pháp luật nhưng tính thuyết phục không cao, không được nhân dân
đồng tình chỉ vì những người tiến hành tố tụng, nhất là Thẩm phán chủ tọa

phiên tòa và Kiểm sát viên thiếu tôn trọng những người tham gia tố tụng và
công chúng dự phiên tòa. Vì vậy, nghiên cứu các quy định của pháp luật về
thủ tục tại phiên tòa để vận dụng trong thực tiễn xét xử là rất cần thiết, không

18


chỉ đối với người tiến hành tố tụng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với
người tham gia tố tụng và mọi công dân để thực hiện việc kiểm tra giám sát
hoạt động xét xử của Toà án và Viện kiểm sát.
1.2.2. Thủ tục xét xử sơ thẩm đối với những vụ án mà bị cáo là
người dưới 18 tuổi trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
1.2.2.1. Thủ tục lấy lời khai, hỏi cung, đối chất đối với người dưới 18 tuổi.
Về thủ tục xét xử đối với người dưới 18 tuổi, BLTTHS năm 2015 quy
định nhiều nội dung mới theo hướng cụ thể hóa, bảo đảm phù hợp với người
dưới 18 tuổi và thống nhất với quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014.
Đối với việc lấy lời khai của người dưới 18 tuổi thì trước khi tiến hành
cơ quan tiến hành tố tụng phải có thông báo cho người bào chữa, người đại
diện hợp pháp hoặc người bảo vệ quyền lợi cho người dưới 18 tuổi về những
nội dung: Thời gian, địa điểm… Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải có mặt người bào
chữa hoặc người đại diện của họ.
Đồng thời, pháp luật TTHS 2015 còn quy định riêng đối với việc thực
hiện thủ tục lấy lời khai trong vụ án có bị cáo là người dưới 18 tuổi, theo đó
khi lấy lời khai buộc phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi tham dự.
Khi được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì Người bào chữa,
hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi cũng có thể hỏi người bị
bắt, bị tạm giữ, bị can là người dưới 18 tuổi. Việc thực hiện đặt câu hỏi của
người bào chữa, người đại diện hợp pháp đói với người bị bắt, bị tạm giữ sẽ

được tiến hành sau khi cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện lấy lời khai, hỏi cung.
Thời gian lấy lời khai người dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 1
ngày và mỗi lần không quá 2 giờ, trừ trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức
tạp. Thời gian hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi không quá hai lần trong 1
ngày và mỗi lần không quá 2 giờ, trừ các trường hợp: Phạm tội có tổ chức; Để

19


×