Tải bản đầy đủ (.pdf) (117 trang)

Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Sử dụng các phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước cho một số sông thuộc lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.94 MB, 117 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Cái Anh Tú

SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN 
CHẤT LƯỢNG NƯỚC  CHO MỘT SỐ SÔNG 
THUỘC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ, SÔNG ĐÁY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
 

Cái Anh Tú

SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN 
CHẤT LƯỢNG NƯỚC  CHO MỘT SỐ SÔNG 
THUỘC LƯU VỰC SÔNG NHUỆ, SÔNG ĐÁY

                    Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
                    Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG 

                                                                   NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
                                                                            


   PGS.TS:   Trần Yêm
2


LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được 
sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô trong Khoa Môi trường, gia đình và bạn bè.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Trần Yêm, người 
đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập cũng như  thực hiện luận  
văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Môi trường nói chung, Bộ 
môn Công nghệ Môi trường nói riêng đã tạo điều kiện tốt để tôi hoàn thành khóa  
học này.
Cuối cùng tôi xin cảm  ơn gia đình và bạn bè đã động viên, cổ  vũ tôi trong  
suốt quá trình học tập.

                                                               Hà Nội, ngày   tháng 12 năm 2013
                                                                      Người th ực hi ện lu ận văn

                                                                                Cái Anh Tú

3


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn 
này là trung thực và chưa hề bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự  giúp đỡ  cho việc thực hiện luận văn 

này đã được cảm  ơn và thông trích dẫn trong luận văn đều được chỉ  rõ 
nguồn gốc

                                     Hà Nội, ngày    tháng 12 năm 2013
                                                          Người thực hiện luận văn

                                                                                          Cái Anh Tú

4


MỤC LỤC

1 ­ 2
1
1
1

MỞ ĐẦU
Mục tiêu nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1.Một số đặc điểm chính về  điều kiện tự nhiên, kinh tế  ­ xã hội  

3 ­ 7

tại lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy
1.2.Một số nghiên cứu chính đã thực hiện về chất lượng nước sông 


7

Nhuệ ­ Đáy
1.3.Tổng quan về chỉ số chất lượng nước (WQI)
1.3.1.Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới về về áp dụng các chỉ 

7 ­ 8
8

số đánh giá chất lượng nước mặt
1.3.2.Tổng quan các nghiên cứu đã thưc hiện  ở  Việt Nam về  áp 

9 ­ 14

dụng các chỉ  số đánh giá chất lượng nước mặt
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả  quan trắc hiện trạng chất lượng nước sông Nhuệ, 
sông Đáy
3.2. Tính toán chỉ số thể hiện chất lượng nước sông Đáy – Nhuệ
3.2.1. Phương pháp 1 ­ Đánh giá sắp xếp chất lượng nước sông  

15 ­ 16
16 ­ 23
24
44
46 – 48


thông qua số  lần thông số  môi trường quan trắc đạt và không đat  
QCVN 
3.2.2. Phương pháp 2 – Đánh giá chất lượng nước thông qua việc 
tính toán chỉ số ô nhiễm tổng IB1 
3.2.3. Phương pháp 3 – Đánh giá chất lượng nước thông qua việc 
tính toán chỉ số WQI 

48
52

5


A) Kịch bản 1: Tính WQI không có trọng số
B) Kịch bản 2: Tính WQI có trọng số 
Trường hợp 1: Chỉ số WQI có trọng số riêng cho sông Đáy 

53 – 58
58 
60

Trường hợp 2: Chỉ số WQI có trọng số riêng cho sông Nhuệ

64

Trường hợp 3 ­ Trọng số chung cho cả lưu vực Nhuệ­Đáy

65

3.2.4. Phương pháp 4 – Đánh giá chất lượng nước thông qua việc 

xác định trạng thái chất lượng nước

70

3.2.5. Nhận xét  các  phương pháp đánh giá chất lượng nước 

71

Nhận xét  phương pháp đánh giá chất lượng nước thông qua số  lần  

71

quan trắc có thông số môi trường đạt và không đạt  QCVN
Nhận xét  phương pháp xác định chất lượng nước qua tính toán chỉ 

71

số giá trị tỷ lệ trung bình 
Nhận xét  phương pháp xác định chất lượng nước qua tính toán chỉ 

71

số WQI
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

80 ­ 84

85
86 ­ 88
           89 ­ 100

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

WQI

:

Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index)

6


QCVN
TCVN
UBND
TNMT
CLN
CTCP
CLN
BTNMT
BOD
COD
DO
QLMT
KTXH
PP
TCMT

A1
A2

:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

Quy chuẩn kỹ thuật môi trường Việt Nam
Tiêu chuẩn Việt Nam
Ủy ban nhân dân
Tài nguyên Môi trường
Chất lượng nước
Chỉ tiêu cho phép
Chất lượng nước
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhu cầu oxy sinh hóa  (Biochemical Oxygen Demand)
Nhu cầu oxy hóa học  (Chemical Oxygen Demand)

Lượng oxy hoà tan (Dissolvel Oxygen)
Quản lý môi trường
Kinh tế xã hội
Phương pháp
Tổng Cục môi trường
Sử  dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt và các 

:

mục đích khác như loại A2, B1 và B2.
Dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng phải áp 
dụng công nghệ xử lý phù hợp; bảo tồn động vật thủy 

B1

:

sinh, hoặc các mục đích sử dụng như loại B1 và B2
Dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục 
đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương  

B2

tự hoặc các mục đích sử dụng như loại B2
Giao  thông thủy và   các  mục   đích  khác   với  yêu cầu 
chất lượng nước thấp
DANH MỤC BẢNG

Tên bảng
Bảng 1– Các vị trí lấy mẫu sông Nhuệ 

Bảng 2 – Các vị trí lấy mẫu sông Đáy
Bảng 3 ­   Các thông số  quan trắc và phương pháp 
phân tích
Bảng 4 ­  Bảng quy định các giá trị qi, Bpi
Bảng 5 ­ Bảng quy định các giá trị  BPi và qi đối với 
DO% bão hòa

Trang
     15
     15
17
19
20
7


Bảng 6 ­ Bảng quy định các giá trị  BPi và qi đối với 
thông số pH
Bảng 7 ­ Mức đánh giá chất lượng nước theo chỉ  số 
WQI
Bảng   8 –   Phương pháp đánh giá   trạng thái chất 
lượng nước
Bảng 9 ­ Giá trị  pH tại các điểm lấy mẫu  dọc theo  
sông Nhuệ
Bảng 10 ­ Giá trị  pH tại các điểm lấy mẫu dọc theo  
sông Đáy
Bảng 11 ­ Giá trị TSS tại các điểm lấy mẫu  dọc theo 
sông Nhuệ
Bảng 12 ­ Giá trị TSS tại các điểm lấy mẫu  dọc theo 
sông Đáy 

Bảng 13 ­ Giá trị DO tại các điểm lấy mẫu  dọc theo 
sông Nhuệ

21

Bảng14 ­ Giá trị DO tại các điểm lấy mẫu  dọc theo 

29

22
23
24
24
26
26
28

sông Đáy 
Bảng 15 ­ Giá trị COD tại các điểm lấy mẫu  dọc 

30

theo sông Nhuệ 
Bảng 16 ­ Giá trị  COD tại các điểm lấy mẫu   dọc 

30

theo sông Đáy
Bảng 17 ­ Giá trị BOD tại các điểm lấy mẫu  dọc 


32

theo sông Nhuệ 
Bảng 18 ­  Giá trị BOD tại các điểm lấy mẫu dọc 

32

sông Đáy 
Bảng  19 ­ Giá trị NH4+ tại các điểm lấy mẫu  dọc 

35

theo sông Nhuệ
Bảng 20 ­ Giá trị NH4+ tại các điểm lấy mẫu dọc theo 
sông Đáy
Bảng 21 ­ Giá trị  PO43­  tại các điểm lấy mẫu   dọc 
theo sông Nhuệ

35
37

8


Bảng   22 ­ Giá trị  PO43­  tại các điểm lấy mẫu   dọc 
theo sông Đáy

37

Bảng   23 ­ Giá trị  Coliform   tại các điểm lấy mẫu 

dọc theo sông Nhuệ                        
Bảng   24 ­ Giá trị  Coliform   tại các điểm lấy mẫu 
dọc theo sông Đáy 
Bảng 25 ­ Tổng kết chất lượng nước dọc theo sông  
Nhuệ
Bảng 26 – Tổng kết chất lượng nước dọc theo sông 
Đáy

43

Bảng 27 – Đánh giá sắp xếp chất lượng nước sông 

47

37
44
45

Nhuệ  thông qua số lần thông số môi trường quan trắc  
đạt và không đat QCVN
Bảng 28 – Đánh giá sắp xếp chất lượng nước sông 

48

Đáy thông qua số  lần thông số  môi trường quan trắc 
đạt và không đat QCVN
Bảng 29 ­ Kết quả tính toán I tại các vị trí quan trắc 

    49


chất lượng nước sông Nhuệ vào mùa khô
Bảng 30 ­ Kết quả tính toán I tại các vị trí quan trắc 

49

chất lượng nước sông Đáy vào mùa khô
Bảng 31 ­ Kết quả tính toán I tại các vị trí quan trắc 

50

chất lượng nước sông Nhuệ vào mùa mưa
Bảng 32 ­ Kết quả tính toán I tại các vị trí quan trắc 

51

chất lượng nước sông Đáy vào mùa mưa
Bảng 33 ­ Bảng quy định các giá trị qi, BPi
Bảng 34 ­ Tính WQI các thông số của các mẫu nước 
sông Nhuệ 
Bảng 35 ­ Tính WQI các thông số của các mẫu nước 
sông Đáy 
Bảng 36 ­ Kết quả  tính toán WQI và mức đánh giá 
chất lượng nước sông Nhuệ vào mùa khô
Bảng 37 ­ Kết quả  tính toán WQI và mức đánh giá 
chất lượng nước 

53
53
54
54

55

9


sông Nhuệ vào mùa mưa
Bảng 38 ­ Kết quả  tính toán WQI và mức đánh giá 
chất lượng nước  sông Đáy vào mùa khô
Bảng 39 ­ Kết quả  tính toán WQI và mức đánh giá 
chất lượng nước  sông Đáy vào mùa mưa
Bảng 40 – Trọng số đối với các thông số môi trường  
nước sông theo các trường hợp khác nhau
Bảng 41 ­ Tính WQI các thông số trên các mẫu ở sông  
Đáy 
Bảng 42 ­  Đánh giá chất lượng thông qua chỉ số WQI

56
57
60
60
61

(trường hợp có trọng số)
Bảng  43 ­ Đánh giá chất lượng sông Đáy (trường hợp 

62

có trọng số)
Bảng 44 ­ Tính WQI cho các thông số ở sông Nhuệ
Bảng 45   ­  Đánh giá  chất lượng  sông Nhuệ  (trường 


63
63

hợp có trọng số)
Bảng 46   ­  Đánh giá  chất lượng  sông Nhuệ  (trường 

64

hợp có trọng số chung lưu vực)
Bảng   47   –   So   sánh   tính   chất   lượng   nước   theo 
các kịch bản và trường hợp khác nhau

67 ­ 

Bảng   48     –   Phương   pháp   xác   định   trạng   thái   chất  

70

lượng nước
Bảng   49   ­   Phương   pháp   xác   định   trạng   thái   chất 

71

lượng nước:Áp dụng cho thông số BOD
Bảng 50 – Tóm tắt so sánh các vấn đề  do luận văn  
đưa ra so sánh với các nghiên cứu trước đây 

68


78 ­ 
79

10


11


MỞ ĐẦU
Số liệu quan trắc nước mặt từ các chương trình quan trắc thường được sử dụng 
trong các báo cáo hiện trạng môi trường các lưu vực sông. Các thông số  trong môi 
trường nước được phân tích đánh giá và đưa ra các nhận định về  hiện trạng và diễn 
biến của chất lượng nước.
Ngoài các phân tích đánh giá cho từng thông số, các bộ  chỉ  thị  môi trường quốc  
gia cũng đã được xây dựng. Bộ chỉ thị môi trường nước mặt lục địa đã có quy định chi  
tiết và đang được áp dụng cho cấp độ địa phương cũng như quốc gia.
Trước đây,  đã có nhiều chương trình quan trắc  ở  lưu vực  sông Nhệu –  Đáy 
nhưng nhìn chung hoạt động quan trắc vẫn còn một số hạn chế như:
­ Các dữ liệu quan trắc được thu thập chưa đầy đủ. 
­ Một số chương trình quan trắc chưa được gắn liền với  mục tiêu sử dụng nước.
­ Phương pháp tiếp cận, phương pháp đánh giá chất lượng nước hiện vẫn còn chưa
thống nhất, chưa hệ thống,  trong đó có việc sử dung các chỉ số để đánh giá.
Chỉ số chất lượng nước và các phương pháp đánh giá chất lượng nước là công 
cụ 
phục vụ  việc đánh giá mức độ  ô nhiễm từng đoạn sông phục vụ  mục đích quy hoạch 
sử  dụng hợp lý nguồn nước mặt và xây dựng định hướng kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ 
môi trường nước. Từ  đó, xây dựng các biện pháp để  kiểm soát ô nhiễm môi trường 
nước tốt hơn, đây là một vấn đề rất cần thiết và cấp bách. 
Lưu vực sông Nhuệ ­ Đáy là một trong ba lưu vực được quan tâm hàng đầu trong  

lĩnh vực bảo vệ môi trường lưu vực sông ở  Việt Nam do các chức năng và vị  trí quan 
trọng của lưu vực.
 Luận văn “Sử dụng các phương pháp tính toán chỉ số  chất lượng nước cho một 
số sông thuộc lưu vực sông Nhuệ ­ sông Đáy” được thực hiện với các mục tiêu, phạm 
vi và nội dung  nghiên cứu chính như sau:
1


Mục tiêu nghiên cứu
­

Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường sông Nhuệ ­ Đáy thông qua việc 
áp dụng phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước.

­

 Tác giả  được áp dụng những kiến thức đã được đào tạo trong nhà trường vào  
điều kiện thực tế. 

Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đã tiến hành 12 đợt khảo sát, đo đạc và lấy mẫu phân tích trong 12 
tháng liên tục (từ  tháng 11 năm 2012 đến tháng 10 năm 2013) tại tất cả  các điểm lấy 
mẫu.
Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu bao gồm các vấn đề chính như sau:
1. Hiện trạng chất lượng môi trường nước sông tại  sông Nhuệ, sông Đáy
­ Kết quả quan trắc hiện trạng chất lượng nước sông Đáy.
­ Kết quả quan trắc hiện trạng chất lượng nước sông Nhuệ
    2. Tính toán chỉ số thể hiện chất lượng nước sông Đáy – Nhuệ
Kết luận và kiến nghị


2


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1.

Một số  đặc điểm chính về  điều kiện tự  nhiên, kinh tế  ­ xã hội tại  

lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy
Lưu vực sông Nhuệ  ­ Đáy có tọa độ  địa lý từ  200 ­ 21020' vĩ độ  Bắc và 1050 ­  
106030' kinh độ  Đông, diện tích 7665 km2, chiếm 10% diện tích toàn lưu vực sông 
Hồng, Bao gồm địa phận hành chính của các tỉnh sau:
Tỉnh Hòa Bình: gồm các huyện Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy.
Thành phố Hà Nội: gồm nội thành, quận Hà Đông (Tp.Hà Đông), các huyện Từ 
Liêm, Thanh Trì, Đan Phượng, Hoài Đức, Thường Tín, Phú Xuyên, Thanh Oai,  Ứng  
Hòa, Chương Mỹ, Mỹ Đức.
Tỉnh Hà Nam: gồm thành phố  Phủ  Lý và các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Kim  
Bảng, Bình Lục, Thanh Liêm.
Tỉnh Nam Định: gồm thành phố  Nam Đinh và các huyện Nam Trực, Vụ  Bản,  
Xuân Trường, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Ý Yên, Giao Thủy, Hải Hậu.
Tỉnh Ninh Bình: gồm thành phố Ninh Bình, tp. Tam Điệp và các huyện Gia Viễn,  
Nho Quan, Hoa Lư, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn. 
Lưu vực được giới hạn như sau:
3


Phía Bắc và phía Đông được giới hạn bởi đê Sông Hồng kể  từ  ngã ba Trung Hà 
tới cửa Ba Lạt với chiều dài 242 km.

Phía Tây Bắc giáp với Sông Đà từ Ngòi Lát tới Trung Hà với chiều dài khoảng 33  
km.
Phía Tây và Tây Nam là đường phân lưu giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực 
sông Mã bởi dãy núi Ba Vì, Cúc Phương – Tam Điệp, kết thúc tại núi Mai An Tiêm (nơi  
có sông Tống gặp sông Cầu Hội) và tiếp theo là sông Càn dài 10km rồi đổ  ra biển tại  
Cửa Càn.
Phía Đông và Đông Nam là biển Đông, có chiều dài khoảng 95 km từ cửa Ba Lạt  
tới Cửa Càn.
Lưu vực sông Nhuệ  ­ Đáy là khu vực có nền kinh tế  ­ xã hội phát triển. Trong 
vùng đã hình thành một mạng lưới đô thị, với Hà Nội là thủ  đô và là thành phố  loại I 
trực thuộc Trung ương, thành phố Nam Định là đô thị loại 2, ngoài ra còn các thị xã tỉnh 
lị và thị xã công nghiệp.
Theo kết quả  khảo sát   của Bộ  Tài nguyên và Môi trường trong tháng 8/2013,  
trung bình mỗi ngày hiện nay 2 con sông Nhuệ và Đáy phải tiếp nhận khoảng 3,8 triệu  
m3 nước thải các loại, trong đó Hà Nội chiếm tới 48,8%, các tỉnh khác lần lượt là Nam  
Định 17,8%, Hà Nam 15%, Ninh Bình 14% và Hoà Bình chiếm 4,4%. Và trong 3,8 triệu  
m3 nước thải đó thì nước thải từ  trồng trọt và chăn nuôi là 2,6 triệu m3 chiếm 62%  
tổng lượng thải, nước thải công nghiệp chiếm 16% (tương đương 636.000 m3 nước  
thải)… Theo sở  TNMT Hà Nội, có hơn 700 nguồn thải công nghiệp, làng nghề, bệnh 
viện, sinh hoạt vào sông Nhuệ­Đáy hầu hết không qua xử lý /1/ /2/
Trên lưu vực này có  khoảng 60­70% dân số toàn lưu vực sản xuất nông nghiệp,  
sử  dụng phân bón và thuốc bảo vệ  thực vật không đúng quy cách. Bên cạnh đó, chăn  
nuôi đang được khuyến khích đầu tư phát triển với số lượng đàn vật nuôi không ngừng 
tăng theo thời gian đang tác động rất xấu đến lượng nước thải, bởi hầu hết lượng nước  
thải đều đổ xuống các nguồn nước mặt.
4


Theo số liệu thống kê của các Sở TN&MT các tỉnh, thành phố  trong lưu vực thì 
hiện nay trong lưu vực có 458 làng nghề, phần lớn các cơ  sở  tiểu thủ  công nghiệp tại  

các làng nghề đều phát triển tự phát theo yêu cầu của thị trường nên thiết bị, công nghệ 
đơn giản, mặt bằng sản xuất nhỏ, khả năng đầu tư  cho các hệ  thống xử  lý nước thải 
rất hạn chế. Nước thải của các làng nghề này không qua xử lý hoặc xử lý ko hiệu quả.  
Tổng lượng nước thải phát sinh từ  các làng nghề  này khoảng 50.000­60.000m3 nước 
thải/ngày, trong đó riêng ở Hà Nội đã chiếm khoảng 40% /1/ /2/. 
Về đặc điểm thủy văn, nói chung, 90% lượng dòng chảy trên lưu vực sông Đáy 
có nguồn gốc từ  sông Hồng chuyển sang, chỉ  10% còn lại bắt nguồn từ  trên lưu vực.  
Tổng dòng chảy năm khoảng 28,8 tỉ m3, trong đó có đến 25,8 tỉ m3 (chiếm 85­90%) bắt  
nguồn từ  sông Hồng qua sông Đào. Lượng dòng chảy trên sông Hoàng Long chiếm  
khoảng 2.4% tổng dòng chảy năm, tương đương 0.68 tỉ m3. Lượng dòng chảy trên sông  
Tích vào sông Đáy tại Ba Thá chiếm khoảng 4.7%, tương đương 1.35 tỉ m3.
 Mật độ lưới sông trong lưu vực biến đổi trong phạm vi 0.7 ­ 1.2 km/km2. Hệ thống 
sông này gồm 2 con sông chính là sông Nhuệ và sông Đáy.
Chế độ thủy văn sông Nhuệ ­ sông Đáy không những chịu ảnh hưởng của các yếu 
tố mặt đệm trên bề mặt lưu vực, các yếu tố khí hậu mà còn phụ thuộc vào chế độ dòng  
chảy của nước sông Hồng và các sông khác cũng như chế độ vận hành của các công trình 
thủy lợi trên sông. Vì thế mà chế độ thủy văn ở đây rất phức tạp và có sự khác nhau nhất 
định giữa các đoạn sông.
Sự phân bố theo thời gian thể hiện rõ nét thông qua phân phối dòng chảy trong năm.  
Phân phối dòng chảy năm phụ thuộc vào sự phân phối theo mùa của lượng mưa năm nên  
dòng chảy trong năm cũng phân phối không đều và thể hiện hai mùa rõ rệt là mùa mưa và 
mùa khô. Mùa mưa từ tháng V đến tháng X, chiếm 80 ­ 85% lượng mưa cả năm. Mùa khô 
từ tháng XI đến tháng IV năm sau.
a) Sông Nhuệ: bắt nguồn tại cống Liên Mạc, lấy nước từ sông Hồng chảy vào. Đây  
là nguồn nước cấp cho nhiều hệ  thống, công trình thủy lợi như  Hà Đông, Đồng Quan, 
Nhật Tựu, Lương Cổ  ­ Điệp Sơn. Ngoài ra, sông Nhuệ  còn đóng vai trò tiêu nước cho 
5


thành phố Hà Nội và thị xã Hà Đông. Nước sông Tô Lịch thường xuyên xả vào sông Nhuệ 

với lưu lượng trung bình từ 11 ­ 17 m3/s, lưu lượng cực đại đạt 30 m3/s. Sông Nhuệ dài 75 
km, chảy vào sông Đáy tại thị  xã Phủ  Lý, Hà Nam. Lưu vực sông Nhuệ  có diện tích 
khoảng 1.070 km2, chiếm 13,5% tổng diện tích toàn lưu vực. 
 Nối liền sông Nhuệ với sông Đáy có các sông Vân Đình dài 11,8 km, sông La Khê 
dài 6,8 km, Ngoại Độ dài 12 km, sông Duy tiên dài 21 km, một số sông nhỏ khác tạo thành  
một mạng lưới tưới tiêu tự chảy hoàn chỉnh. Tổng chiều dài 113,6 km, lưu lượng đến 150 
m3/s vào mùa mưa và mùa cạn chỉ đạt 41m3/s. 
Sông Nhuệ có lưu lượng đến 150 m3/s vào mùa mưa. Mùa cạn chỉ đạt 41m3/s. 
Chế độ dòng chảy của sông Nhuệ chịu ảnh hưởng nhiều bởi chế độ vận hành của  
các công trình thủy lợi trên sông. Mực nước sông Nhuệ  về  mùa mưa tại hạ  lưu đập Hà 
Đông nơi cửa xả của đập Thanh Liệt khoảng 5,20 ­ 5,77 m. Cao độ ruộng ven sông 5,4m.  
Mật độ lưới sông trong lưu vực biến đổi trong phạm vi 0.7 ­ 1.2 km/km 2. Hệ thống sông 
này gồm 2 con sông chính là sông Nhuệ và sông Đáy.
Chế độ thủy văn sông Nhuệ ­ sông Đáy không những chịu ảnh hưởng của các yếu 
tố mặt đệm trên bề mặt lưu vực, các yếu tố khí hậu mà còn phụ thuộc vào chế độ dòng  
chảy của nước sông Hồng và các sông khác cũng như chế độ vận hành của các công trình 
thủy lợi trên sông. Vì thế mà chế độ thủy văn ở đây rất phức tạp và có sự khác nhau nhất 
định giữa các đoạn sông.
Sự phân bố theo thời gian thể hiện rõ nét thông qua phân phối dòng chảy trong năm.  
Phân phối dòng chảy năm phụ thuộc vào sự phân phối theo mùa của lượng mưa năm nên  
dòng chảy trong năm cũng phân phối không đều và thể hiện hai mùa rõ rệt là mùa mưa và 
mùa khô. Mùa mưa từ tháng V đến tháng X, chiếm 80 ­ 85% lượng mưa cả năm. Mùa khô 
từ tháng XI đến tháng IV năm sau.
b) Sông Đáy: Nguyên là một phân lưu lớn của sông Hồng, chảy theo hướng Tây 
Bắc – Đông Nam và đổ  ra biển Đông tại cửa Đáy. Kể  từ  năm 1937, sau khi đập Đáy  
được xây dựng, sông Đáy hầu như  chỉ nhận nước từ  sông Hồng qua cửa đập Đáy vào 
những năm phân lũ. Vì vậy, phần đầu nguồn sông Đáy, khoảng 70km từ  km 0 đến Ba  
Thá, coi như đoạn sông chết. Lượng nước để nuôi sông Đáy chủ yếu do các sông nhánh  
6



cung cấp, quan trọng nhất là sông Tích, sông Bôi, sông Đào và sông Nhuệ. Sông Đáy dài 
237 km, diện tích lưu vực khoảng 6.592 km2  (chiếm 83% diện tích toàn LVS Nhuệ  ­ 
Đáy). Chế độ dòng chảy của sông Đáy rất phức tạp và có sự  khác nhau giữa các đoạn  
sông do địa hình lòng dẫn và  ảnh hưởng từ  chế  độ  dòng chảy của sông Đào và triều  
cường
Sông Đáy có chiều dài khoảng 240 km, diện tích lưu vực xấp xỉ 850.000 ha. Sông 
Đáy nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông  Hồng, bắt đầu từ  cửa  Hát  
Môn chảy theo hướng  Đông  Bắc – Tây Nam rồi đổ  ra biển qua Cửa  Đáy. Sông Đáy  
bản thân nó cũng có các sông nhánh khác đổ vào nên chế độ dòng chảy tương đối phức  
tạp, vừa chịu  ảnh hưởng của sông  Hồng vừa chịu  ảnh hưởng của các sông nội địa và 
thủy triều. Nhìn chung, sông Đáy hoàn toàn mang các đặc thù của sông đồng bằng. Vào  
mùa lũ, dòng chảy lũ trên sông Đáy phản ánh các đặc trưng chế độ dòng chảy lũ cả trên  
sông Hồng cũng như  trên vùng núi. Do có đập Đáy, nước sông Hồng không thường  
xuyên vào sông Đáy qua cửa đập này trừ những khi phân lũ. Khi đập đáy đóng, sông Đáy 
chủ yếu nhận nước từ các sông nhánh là: sông Tích, sông Thanh Hà, Sông Châu Giang,  
sông Nhuệ, sông Hoàng Long, sông Sắt, sông Đào và sông Bút, phần đầu nguồn sông (từ 
km 0 đến Ba Thá dài 71 km) coi như một đoạn sông chết. Ở đoạn sông này xảy ra hiện 
tượng bồi lắng, nhân dân ven sông lấn đất canh tác làm dòng sông hẹp và nông, cản trở 
việc thoát lũ mùa mưa. Tại điểm giao nhau giữa sông Đáy và sông Hồng thuộc địa phận 
tỉnh Hà Tây cũ có hai công trình kiểm soát lũ trên sông Đáy, điều tiết dòng chảy từ sông 
Hồng vào. Việc tiêu nước trên sông Đáy dùng động lực là chính, chỉ có một số khu vực  
miền núi, trung du giáp biển là có thể tự chảy vì lợi dụng được độ dốc và thủy triều.

1.2.

Một số nghiên cứu chính đã thực hiện về chất lượng nước sông Nhuệ ­ Đáy
Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu về chất lượng nước sông

Nhuệ ­ Đáy, trong đó tiêu biểu là nghiên cứu:


7


­

Nghiên cứu của Trường Đại học Thuỷ  lợi và Viện Quy hoạch Thuỷ  lợi thông 
qua đề 

tài nghiên cứu khoa học nhằm tìm giải pháp làm hồi phục lại dòng sông Đáy.
Qua phân tích tổng hợp và tính toán, nghiên cứu  đã đưa ra phương án cải tạo  sông 

Đáy thành sông tự nhiên nhằm duy trì dòng chảy sông Đáy với lưu lượng vào mùa 
kiệt từ  36 ­ 106 m3/s, mùa lũ khoảng 800m3/s, các giải pháp công trình được đề 
xuất
­

Nghiên cứu điều tra khảo sát nguồn thải sông Nhuệ ­ Đáy, Tổng Cục Môi trường

2010 với những kết quả chính như sau:
Chất lượng nước sông Nhuệ ­ Đáy đang bị ô nhiễm do chịu ảnh hưởng của nước 
thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải làng nghề chưa được xử lý hoặc xử lý 
chưa đạt yêu cầu đã đổ trực tiếp vào sông. Nghiên cứu đã đưa ra các mức xả thải khác  
nhau từ các nguồn (Hình 1) /12/

Tỷ lệ nước thải công nghiệp đổ vào lưu vực sông Nhuệ Đáy

7%

7%


2%

8%

Hà Nôi
Hà Nam
Nam Định
Ninh Bình
Hòa Bình
76%

Tỷ lệ nước thải công nghiệp đổ vào 

Tỷ lệ nước thải công nghiệp đổ vào 

lưu vực sông Đáy – Nhuệ /12/

lưu vực sông Đáy – Nhuệ /12/

Tỷ lệ nước thải bệnh viện đổ vào lưu 

Tỷ lệ phân bố các làng nghề trên lưu 

8


vực sông Đáy – Nhuệ /12/
vực sông Đáy – Nhuệ /12/
Hình 1 – Tỷ lệ các nguồn nước đổ vào sông lưu vực sông Nhuệ – Đáy /12/

1.3.

Tổng quan về chỉ số chất lượng nước (WQI)

1.3.1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế  giới về về áp dụng các chỉ  số đánh giá  
chất lượng nước mặt
Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index­ WQI) là một chỉ  số  tổ  hợp được  
tính toán từ  các thông số chất lượng nước xác định thông qua một công thức toán học. 
WQI dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và được biểu diễn qua một thang 
điểm.
Hiện nay, có rất nhiều quốc gia, địa phương xây dựng và áp dụng chỉ  số  WQI.  
Thông qua một mô hình tính toán, từ các thông số khác nhau ta thu được một chỉ số duy  
nhất. Sau đó chất lượng nước có thể được so sánh với nhau thông qua chỉ số đó. Đây là 
phương pháp đơn giản so với việc phân tích một loạt các thông số /20/ /22/ /23/.
* Các ứng dụng chủ yếu của WQI bao gồm:
­ Phục vụ quá trình ra quyết định: WQI có thể được sử dụng làm cơ sở cho việc ra 
các quyết định phân bổ tài chính và xác định các vấn đề ưu tiên.
­ Phân vùng chất lượng nước
­ Thực thi tiêu chuẩn: WQI có thể đánh giá được mức độ đáp ứng/không đáp ứng 
của chất lượng nước đối với tiêu chuẩn hiện hành
­ Phân tích diễn biến chất lượng nước theo không gian và thời gian.
­ Công bố thông tin cho cộng đồng
­ Nghiên cứu khoa học: các nghiên cứu chuyên sâu về chất lượng nước thường 
không sử dụng WQI, tuy nhiên WQI có thể sử dụng cho các nghiên cứu vĩ mô khác như 
đánh giá tác động của quá trình đô thị  hóa đến chất lượng nước khu vực, đánh giá hiệu 
quả kiểm soát phát thải,… 
* Quy trình xây dựng WQI:
9



Quy trình xây dựng mô hình chỉ số chất lượng nước thông qua 4 bước:
­ Bước 1: Lựa chọn thông số
­ Bước 2: Chuyển đổi các thông số về cùng một thang đo – tính toán WQI thông  
số
­ Bước 3: Trọng số
­ Bước 4: Tính toán chỉ số WQI cuối cùng
Có rất nhiều quốc gia đã đưa áp dụng WQI vào thực tiễn, cũng như có nhiều các 
nhà khoa học nghiên cứu về các mô hình WQI.
Hoa Kỳ: WQI được xây dựng cho mỗi bang, đa số các bang tiếp cận theo phương  
pháp của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation­NSF) – sau đây gọi 
tắt  là  WQI­NSF 
Canada: Phương pháp do Cơ  quan Bảo vệ  môi trường Canada (The Canadian  
Council of Ministers of the Environment ­ CCME, 2001) xây dựng
Châu Âu: Các quốc gia  ở châu Âu chủ  yếu được xây dựng phát triển từ  WQI – 
NSF (của Hoa Kỳ), tuy nhiên mỗi Quốc gia – địa phương lựa chọn các thông số  và 
phương pháp tính chỉ số phụ riêng
Các quốc gia Malaysia,  Ấn Độ phát triển từ WQI – NSF, nhưng mỗi quốc gia có 
thể xây dựng nhiều loại WQI cho từng mục đích sử dụng.
1.3.2. Tổng quan các nghiên cứu đã thưc hiện ở Việt Nam về áp dụng các chỉ   số 
đánh giá chất lượng nước mặt
Phạm Thị  Minh Hạnh, 2008  đưa ra mô hình WQI với chỉ số chất lượng nước  
được chia làm 2 loại là: Chỉ số chất lượng nước cơ bản IB và chỉ  số chất lượng nước 
tổng hợp IO. Chỉ  số  chất lượng nước cơ  bản được tính cho 8 thông số  chính (COD,  
BOD5, DO, độ  đục, SS, NH4+ ­ N, PO43­­P và  Coliform. Chỉ  số  chất lượng nước tổng  
hợp ngoài 8 thông số trên được tính thêm các thông số pH, nhiệt độ, các kim loại nặng 

10


và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nước, chỉ số chất lượng nước tổng hợp cung  

cấp nhiều thông tin hơn cho việc đánh giá chất lượng nước.
Năm 2009, tổng cục môi trường đã thực hiện tính toán WQI cho sông Cầu, sông 
Công và sông Ngũ huyện Khê, 2009  và đưa ra nhận định là: 
­

Sông   Cầu     có   69%   số   mẫu   quan   trắc   đạt   chất   lượng   nước   với   WQI   thuộc  
khoảng 76 

– 90, có 31% số mẫu quan trắc có WQI thuộc khoảng 51 – 75. 
­

Sông Công: Kết quả  tính toán WQI có thể  nhận thấy dễ  dàng có 69% số  mẫu  
quan 

trắc đạt chất lượng nước với WQI thuộc khoảng 76 – 90, có 31% số mẫu quan trắc có 
WQI thuộc khoảng 51 – 75.
­

So với công Cầu và sông Công thì sông Ngũ Huyện Khê có tỉ  lệ  các thông số 
vượt 

các mức trong Quy chuẩn cao hơn, tức có mức độ ô nhiễm lớn hơn. Có nhiều thông số 
vượt mức B1 đến trên 30% số mẫu quan trắc /19/.
Mỗi thông số  sẽ  xác định một chỉ  số  chất lượng nước phụ, chỉ  số  WQI cuối  
cùng được xác định bằng việc kết hợp phương pháp trung bình cộng và trung bình nhân 
không trọng số /19/.
Trong 10 năm gần đây, CLN tại các sông trên địa bàn Hà Nội đã được nhiều đơn 
vị, đề  tài, dự  án quan trắc, đánh giá /12/ /14/ /15/ 19/.. Công tác này đã và đang được 
Trung tâm Quan trắc và Phân tích Tài nguyên Môi trường (TNMT) (Sở TN&MT Hà Nội)  
thực hiện với tần suất trên 300 điểm quan trắc phủ  khắp các sông lớn, nhỏ  trong khu 

vực nội thành và ngoại thành. Dựa vào kết quả quan trắc của Sở TN&MT Hà Nội  /14/,  
số liệu phân tích diễn biến CLN theo chiều dài các sông chính kết hợp phương pháp xác 
định chỉ số CLN (WQI) đề  xuất trong Đề  tài "Nghiên cứu phân vùng chất lương nước  
sông hồ  theo WQI và đề  xuất phương án sử  dụng, BVMT nước mặt vùng Hà Nội" đã  
được Sở KHCN TP. Hà Nội nghiệm thu (2010).
11


Phân vùng CLN sông, hồ (phân vùng theo chất lượng và mức độ  ô nhiễm nguồn  
nước) đối vói một lưu vực sông hoặc một địa phương là nội dung đặc biệt quan trọng 
không chỉ trong quản lý môi trường mà còn phục vụ cho quy hoạch sử dụng và BVMT 
nước. Trong năm 2008, Bộ TN&MT đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về CLN  
mặt (QCVN 08:2008/BTNMT). 
Để  có cơ  sở khoa học và thực tiễn trong việc phân loại và phân vùng CLN theo 
QCVN 08:2008/BTNMT cần áp dụng hệ  thống phân loại theo chỉ  số, CLN (WQI) phù 
họp đặc điểm nguồn nước của địa phương hoặc lưu vực.
Khi có phân vùng tốt, các cấp lãnh đạo và các sở, ngành, doanh nghiệp  ở TP. Hà 
Nội và cộng đồng sẽ  xác định rõ: vùng (đoạn sông) đạt yêu cầu về  CLN an toàn cho 
cấp nước sinh hoạt (lấy nước cho nhà máy nước); vùng đạt yêu cầu về  CLN có khả 
năng nuôi trồng thủy sản an toàn, có hiệu quả kinh tế; vùng có khả năng cấp nước thủy 
lợi an toàn, có chất lượng tốt; vùng có khả năng xây dựng cơ sở thể thao, du lịch dưới  
nước đủ tiêu chuẩn; vùng không thể sử dụng cho các mục đích trên, cần ưu tiên xử lý,  
kiểm soát ô nhiễm.
Để  khắc phục khó khăn trên, cần phải có một hoặc một hệ  thống chỉ  số  cho 
phép lượng hoá được CLN (nghĩa là biểu diễn CLN theo một thang điểm thống nhất), 
có khả  năng mô tả  tác động tổng hợp của nồng độ  nhiều thành phần hoá – lý – sinh 
trong nguồn nước. Một trong số  chỉ  số  đó là chỉ  số  chất lượng nước (Water Quality  
Index ­ WQI). 
Năm   2008   Sở   KHCN   TP.   Hà   Nội   đã   giao   Viện   Môi   trường   và   Phát   triển 
(VESDEC) triển khai Đề  tài: Nghiên cứu phân vùng CLN các sông, hồ trên địa bàn TP.  

Hà Nội (năm 2010). Trong Đề  tài, nhóm nghiên cứu đã đề  xuất 2 mô hình có thể  sử 
dụng để phân loại CLN ở từng điểm quan trắc tại các sông, hồ trên địa bàn Hà Nội, từ 
đó kết họp với các phương pháp đo đạc diễn biến CLN liên tục theo các dòng sông có 
thể cho phép phân vùng CLN các sông, hồ chính /5/. 

12


Trong công tác quy hoạch quản lý tài nguyên nước, việc phân vùng CLN trên một 
diện rộng là một yêu cầu hết sức quan trọng và WQI là một công cụ  hữu hiệu để  đáp 
ứng nhiệm vụ này. Để phục vụ cho công tác quy hoạch tài nguyên nước của Viện Quy  
hoạch Thủy lợi miền Nam, WQI đã được được nghiên cứu và sử  dụng cho đánh giá  
CLN.   
Khi đánh giá CLN qua nhiều thông số riêng biệt sẽ không nói lên diễn biến CLN  
tổng quát của một con sông ( hay đoạn sông) và do vậy khó so sánh CLN từng vùng của  
một con sông, so sánh CLN của con sông này với con sông khác, CLN thời gian này với  
thời gian khác (theo tháng, theo mùa), CLN hiện tại so với tương lai… Vì thế, sẽ  gây 
khó khăn cho công tác giám sát diễn biễn CLN, khó đánh giá hiệu quả đầu tư để bảo vệ 
nguồn nước và kiểm soát ô nhiễm nước… 
Khi đánh giá qua các thông số  CLN riêng biệt, chỉ  các nhà khoa học hoặc nhà  
chuyên môn mới hiểu được, do đó, khó thông tin về CLN cho cộng đồng và các cơ quan 
quản lý Nhà nước, các nhà lãnh đạo để  ra các quyết định phù hợp về  bảo vệ  và khai  
thác nguồn nước…
Để khắc phục các khó khăn trên, cần phải có một hoặc hệ thống chỉ số cho phép  
lượng hóa được CLN (biểu diễn CLN theo một thang điểm thống nhất), có khả  năng  
mô tả  tác động tổng hợp của nồng độ  nhiều thành phần hóa – lý ­ sinh trong nguồn  
nước. Một trong những chỉ  số  đó là chỉ  số  chất lượng nước ( Water Quality Index –  
WQI).
Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu và đề xuất và áp dụng về bộ chỉ số CLN  
như các WQI­2 và WQI­4 được sử dụng để đánh giá số liệu CLN trên sông Sài Gòn tại 

Phú Cường, Bình Phước và Phú An trong thời gian từ  2003 đến 2007. Một số  nghiên  
cứu điển hình như sau:
­ Nghiên cứu của TS. Tôn Thất Lãng, sử dụng chỉ số chất lượng nước (WQI) để 
đánh giá và phân vùng chất lượng nước sông Hậu năm 2008 /9/.

13


Nghiên cứu  ở  đây đã sử  dụng WQI để  đánh giá và phân vùng chất lượng sông 
Hậu với mô hình WQI với nhóm gồm 6 thông số: pH, DO, BOD, COD, TSS, Coliform.  
Mô hình có ứngdụng phương pháp Delphi và phương pháp đường cong tỷ lệ.
Để  phục vụ  công tác quản lý và kiểm soát chất lượng nước sông Hậu, chỉ  số 
chất lượng nước được xây dựng dựa vào phương pháp Delphi. Các hệ  thống câu hỏi 
được gởi đến 40 chuyên gia chất lượng nước tại các Viện Nghiên cứu, trường Đại học, 
Trung tâm Môi trường v.v… 
Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo các chỉ  số  chất lượng nước (WQI)  
và đánh giá khả  năng sử  dụng các nguồn nước sông, kênh rạch  ở  vùng thành phố  Hồ 
Chí Minh” năm 2008 do PGS. TS Lê Trình làm chủ  nhiệm là một trong những nghiên  
cứu đầu tiên ở Việt Nam về phân vùng chất lượng nước theo WQI. Nghiên cứu đã xác 
định với tính định lượng cao các yếu tố ảnh hưởng đến CLN vùng TP. HCM (thủy văn,  
các nguồn thải CN, sinh hoạt, nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản) và dự  báo đến năm 
2020.  Nghiên cứu đã đưa ra diễn biến chất lượng nước (ô nhiễm nước) các sông rạch  
chính theo không gian và thời gian và thiết lập hệ thống WQI phù hợp cho TP. HCM (và 
cả lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn) và tính WQI cho 35 điểm khảo sát vào tháng 3 và 
tháng 9.2007. Dựa vào điểm số  về  WQI chất lượng nước tại các điểm đã được phân 
thành 5 loại (I – V). /7/ 
Nghiên cứu “Áp dụng phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI) cho  
sông Hồng (đoạn chảy qua địa bàn thành phố  Hà Nội)” do Nguyễn duy Phú, Trịnh Thị 
Thanh, 2010 được tiến hành  Nghiên cứu đã đánh giá các yếu tố có khả năng ảnh hưởng  
đến chất lượng nước sông Hồng (đoạn chảy qua địa bàn thành phố Hà Nội) và đánh giá  

hiện trạng nước sông Hồng (đoạn chảy qua địa bàn thành phố  Hà Nội) vào mùa lũ và 
mùa cạn năm 2010. Xây dựng sơ đồ  hiện trạng môi trường nước theo chỉ  số WQI và 
đánh giá khả  năng sử  dụng nguồn nước sông Hồng (đoạn chảy qua địa bàn TP. Hà  
Nội): Tính toán chỉ  số  chất lượng nước (WQI) theo Quyết  định số  879/QĐ­TCMT; 
Phương pháp đánh giá chất lượng nước theo chỉ tiêu tổng hợp; Đề  xuất phương pháp  
14


×