Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (156.23 KB, 15 trang )

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1.1 Tổng quan về phương thức tín dụng chứng từ:
1.1.1 Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ
Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó ngân hàng (ngân hàng mở thư tín
dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết thanh toán một số
tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi) hoặc trả theo lệnh của người này, hoặc
chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó, với điều kiện người
này thực hiện thực hiện đầy đủ các yêu cầu của thư tín dụng và xuất trình cho ngân hàng
bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản, điều kiện đã ghi trong thư tín dụng.
( Tiến sĩ Trầm Thị Xuân Hương (2008). “Thanh toán quốc tế”. NXB Lao Động- Xã
Hội ).
1.1.2 Cở sở pháp lý về phương thức tín dụng chứng từ
Cơ sở pháp lý thông thường được dùng trong phương thức tín dụng chứng từ là
UCP 600.
UCP là viết tắt của “The Uniform Custom and Practice for Documentary
Credits” (Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ). Bản UCP đầu tiên được
ICC phát hành từ năm 1933 với mục đích khắc phục các xung đột về luật điều chỉnh tín
dụng chứng từ giữa các quốc gia bằng việc xây dựng một bản quy tắc thống nhất cho hoạt
động tín dụng chứng từ. Theo đánh giá của các chuyên gia, UCP là bản quy tắc (thông lệ
quốc tế) tư nhân thành công nhất trong lĩnh vực thương mại. Ngày nay, UCP là cơ sở pháp
lý quan trọng. Ngày 25 tháng 10 năm 2006, ICC đã thông qua Bản Quy tắc thực
hành thống nhất về tín dụng chứng
từ số 600 (UCP 600) thay cho UCP 500. UCP 600 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm
2007.
UCP 600 có những thay đổi cơ bản đối với UCP 500 như sau:
Thứ nhất, về hình thức, UCP 600 được bố cục lại với 39 điều khoản (so với 49 điều
khoản của UCP 500), trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm
rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500. Chẳng hạn, điều 2
“Definitions” (Định nghĩa) của UCP 600 đã nêu ra một loạt định nghĩa như: Advising
bank, Applicant, Beneficiary, Complying presentation, Confirmation, Confirming bank,


Credit, Honour, Negotiation, Presentation…
Thứ hai, UCP 600 đã quy định rõ thời gian cho việc từ chối hoặc chấp nhận các
chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định “5 ngày làm việc ngân hàng” (five banking
days). Ở UCP 500, khoảng thời gian này được quy định không rõ ràng là “Thời gian hợp
lý” (Reasonable Time) và “Không chậm trễ” (Without delay) để kiểm tra chứng từ và
thông báo chứng từ bất hợp lệ.
Thứ ba, UCP 600 đã đưa ra quy định mới về địa chỉ của người yêu cầu mở và
người hưởng lợi thư tín dụng phải được thể hiện trên chứng từ xuất trình đúng như trong
L/C.
Thứ tư, theo UCP 600, ngân hàng phát hành được phép từ chối chứng từ và giao bộ
chứng từ cho người yêu cầu mở thư tín dụng khi nhận được chấp nhận bộ chứng từ bất hợp
lệ của họ.
1.1.3 Các bên tham gia phương thức tín dụng chứng từ
Người xin mở thư tín dụng ( The applicacant for the credit ): là người nhập khẩu
hàng hóa, người mua.
Ngân hàng mở L/C ( The isuing bank or openingbank ): là NH đại diện cho người
nhập khẩu, cấp tín dụng cho người nhập khẩu.
Người hưởng lợi ( The beneficiary ): là người xuất khẩu hàng hóa, người bán hoặc
bất cứ người nào khác mà người xuất khẩu chỉ định.
Ngân hàng thông báo L/C ( The advising bank ): thường là NH đại lý của NH mở
L/C ở nước người xuất khẩu.
Ngân hàng xác nhận ( The confirming bank ): là NH xác nhận trách nhiệm của mình
sẽ cùng NH mở L/C bảo đảm việc trả tiền cho người xuất khẩu trong trường hợp ngân
hàng mở L/C không đủ khả năng thanh toán. NH xác nhận có thể vừa là NH thông báo thư
tín dụng hay là một NH khác do người xuất khẩu yêu cầu. Thường là một NH lớn, có uy
tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế.
Ngân hàng thanh toán ( The paying bank ): có thể là NH mở L/C hoặc là một NH
khác được NH mở L/C chỉ định thay mình thanh toán trả tiền cho người xuất khẩu hay
chiết khấu hối phiếu. Trường hợp NH làm nhiệm vụ chiết khấu hối phiếu thì gọi là NH
chiết khấu ( The negotiating bank ). Nếu địa điểm trả tiền quy định tại nước người xuất

khẩu thì NH trả tiền thường là NH thông báo. Trách nhiệm của NH thông báo giống như
ngân hàng mở thư tín dụng khi nhận bộ chứng từ của người xuất khẩu chuyển đến.
1.1.4 Quy trình nghiệp vụ thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
( Tiến sĩ Trầm Thị Xuân Hương (2008). “Thanh toán quốc tế”. NXB Lao Động-
Xã Hội ).
GIẢI THÍCH SƠ ĐỒ:
(1) Nhà nhập khẩu làm đơn xin mở LC và nộp vào Ngân hàng các giấy tờ cần thiết,
thực hiện ký quỹ theo yêu cầu để Ngân hàng phát hành LC cho người xuất khẩu.
(2) Ngân hàng phát hành LC theo đúng yêu cầu của đơn xin mở LC và chuyển tới
Ngân hàng đại lý của mình tại nước xuất khẩu.
(3) Ngân hàng thông báo chuyển LC bản gốc tới cho nhà xuất khẩu để đánh giá khả
năng thực hiện LC và đề nghị tu chỉnh khi cần thiết.
(4) Nhà xuất khẩu giao hàng theo đúng quy định của LC và các văn bản tu chỉnh LC
(nếu có).
(5) Người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo đúng quy định của LC và các văn bản tu
chỉnh (nếu có) xuất trình cho Ngân hàng đúng thời hạn quy định.
(6) Ngân hàng đại lý sau khi kiểm tra tính hợp lý của bộ chứng từ thì chuyển tới Ngân
hàng phát hành.
(7) Ngân hàng phát hành thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ thanh toán:
• Nếu thấy phù hợp với quy định của LC thì tiến hành trả tiền hoặc chấp nhận hối
phiếu (đối với LC trả chậm).
• Nếu thấy bộ chứng từ không phù hợp với quy định của LC thì từ chối thanh toán
và gửi trả bộ chứng từ cho người xuất khẩu.
(8) Ngân hàng phát hành thư tín dụng trao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu và phát lệnh
đòi tiền nhà nhập khẩu.
(9) Nhà nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ:
• Nếu thấy phù hợp với quy định của LC thì đến Ngân hàng làm thủ tục thanh
toán, Ngân hàng phát hành ký hậu bộ chứng từ cho đi nhận hàng.
• Nếu thấy không phù hợp với quy định của LC thì nhà nhập khẩu có quyền từ
chối thanh toán.

(10) Nhà xuất khẩu nhận được tiền thanh toán.
1.2 Thư tín dụng (letter of credit- L/C)
1.2.1 Khái niệm về thư tín dụng
Thư tín dụng là một văn bản cam kết dùng trong thanh toán, trong đó một ngân
hàng (ngân hàng bên người nhập khẩu) theo yêu cầu của một khách hàng (người nhập
khẩu) mở thư tín dụng ủy nhiệm chi cho chi nhánh hay đại lý của mình ở nước ngoài
( ngân hàng bên người xuất khẩu) trả tiền cho người hưởng (người xuất khẩu) ghi rõ trong
thư tín dụng một số tiền nhất định, trong phạm vi thời hạn quy định với điều kiện là người
hưởng ( người xuất khẩu) xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với các điều kiện quy
định trong thư tín dụng.
1.2.2 Nội dung chủ yếu trong thư tín dụng
- Số hiệu, địa điểm, ngày mở L/C
- Loại thư tín dụng
- Tên và địa chỉ của những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng
từ
- Số tiền của L/C
- Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong L/C
- Những nội dung liên quan đến hàng hóa và vận chuyển giao nhận hàng hóa
- Những chứng từ mà người hưởng lợi phải xuất trình
- Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C
- Những điều khoản đặc biệt khác
- Chữ ký của nhân viên ngân hàng mở L/C
1.2.3 Phân loại thư tín dụng
1.2.3.1 Các loại thư tín dụng cơ bản
1.2.3.1.1 L/C có thể hủy ngang
Là loại thư tín dụng sau khi đã mở cho nhà xuất khẩu hưởng thì nhà nhập khẩu
được quyền sửa đổi, điều chỉ, bổ sung hoặc hủy bỏ ngang mà không cần sự chấp thuận của
nhà xuất khẩu tức là quyền thuộc về nhà nhập khẩu.
Loại thư tín dụng này ít được sử dụng vì nó gây bị động cho nhà xuất khẩu. Tuy
nhiên tính chất được hủy ngang vẫn được áp dụng trong một số loại thư tín dụng đặc biệt.

1.2.3.1.2 L/C không được phép hủy ngang
Là loại thư tín dụng khi nhà nhập khẩu mở cho nhà xuất khẩu thì nhà nhập khẩu
không được quyền chỉnh sửa, bổ sung hoặc hủy bỏ nếu nhà xuất khẩu không đồng ý, quyền
thuộc về nhà xuất khẩu.
Loại L/C này là loại L/C rất được ưu chuộng và sử dụng rộng rãi, một loại thư tín
dụng không ghi rõ loại thư tín dụng gì thì người ta được quyền hiểu là thư tín dụng không
được phép hủy ngang.
1.2.3.1.3 L/C không hủy ngang và có xác nhận
Là loại thư tín dụng ngoài yêu cầu không được phép hủy ngang còn có yêu cầu
khác là phải có xác nhận của NH thứ 3 về khả năng thanh toán của L/C. Ngân hàng thứ 3
có thể là NH thông báo hoặc một NH nào đó ngoài NH thông báo.
Việc xác nhận L/C có nghĩa là NH xác nhận cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu khi
nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán phù hợp với điều kiện trong L/C diễn ra
khi NH mở từ chối thanh toán.
Như vậy loại thư tín dụng này có đến 2 sự cam kết trả tiền: sự cam kết của NH mở,
sự cam kết của NH xác nhận. Mặc dù là chắc chắn và an toàn nhưng loại thư tín dụng này
ít được sử dụng vì chỉ áp dụng trong trường hợp nhà xuất khẩu không tin NH mở thư tín
dụng về cam kết trả tiền, sự không tin đó có thể là thiếu thông tin đầy đủ về NH mở vì khi
xác nhận buộc phải trả phí xác nhận.
1.2.3.2 Các loại thư tín dụng đặc biệt
1.2.3.2.1 L/C thương mại

×