Tải bản đầy đủ (.docx) (39 trang)

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU ĐẦU TƯ THEO NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2001 ĐẾN 2005

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (204.21 KB, 39 trang )

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU ĐẦU TƯ THEO NGÀNH
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2001 ĐẾN 2005
3.1. Những căn cứ và quan điểm chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo
ngành trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2001-2005
3.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến phát triển kinh tế
Thủ đô
3.1.1.1 Bối cảnh quốc tế: Ngày nay bất kỳ một quốc gia nào khi lựa chọn và
quyết định mục tiêu, con đường phát triển của mình đều phải đặt trong bối
cảnh phát triển chung của kinh tế khu vực và thế giới. Mối quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng tăng thì ảnh hưởng của môi trường
kinh tế quốc tế đối với sự phát triển của mỗi nước ngày càng lớn.
Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược trong khu vực được đánh giá là năng
động nhất thế giới liên tục trong 4 năm qua, tất yếu phát triển kinh tế của Việt
Nam chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự phát triển kinh tế của cả khu vực.
Theo tôi tác động của sự phát triển kinh tế khu vực đến nền kinh tế Việt
Nam nói chung, kinh tế Hà nội nói riêng tập trung vào một số nội dung chủ yếu
sau đây:
Thứ nhất, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam và Hà Nội nói
riêng chịu sự chi phối của những xu hướng có tính quy luật của quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực Đông- Đông Nam Á.
Các nhà kinh tế Việt Nam đã thống nhất nêu ra một số xu hướng có tính
quy luật của quá trình chuyển dịch ở khu vực Đông- Đông Nam Á. Những xu
hướng đó là:
+ Quá trình chuyển dịch cơ cấu trong khu vực mang tính tiếp nối giữa
các nhóm các nước khác nhau. Một mặt các nước đi sau tiếp nhận cơ cấu một
cách lần lượt cơ cấu của các nước đi trước, mặt khác tuỳ theo điều kiện riêng
có mà mỗi nước đi sau có thể thực hiện một sự nhảy vọt trong chuyển dịch cơ
cấu và nhờ đó mà rút ngắn được về mặt thời gian trong quá trình phát triển.
+ Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu, hầu hết các nước đều phải trải
qua thời kỳ phát triển sản xuất hàng thay thế nhập khẩu trước khi bành
trướng xuất khẩu. Tuy nhiên độ dài ngắn của thời kỳ thay thế nhập khẩu tuỳ


thuộc vào quy mô của thị trường nội địa, năng lực được tạo ra và khả năng
tăng trưởng cao của ngành sản xuất sản phẩm đó.
+ Chuyển dịch cơ cấu gắn liền với quá trình chuyển từ sản xuất sản
phẩm có hàm lượng lao động cao sang sản phẩm có hàm lượng vốn và công
nghệ cao.
- Thứ hai, sự biến đổi của thị trường khu vực cả về dung lượng lẫn cơ
cấu có tác động lớn đến tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam nói
chung, Hà Nội nói riêng và quy định những đặc điểm và nội dung trong chuyển
dịch cơ cấu đầu tư ở nước ta.
Dung lượng thị trường khu vực rất lớn và đang có chiều hướng tăng
nhanh do các nguyên nhân sau đây;
+Dân số của khu vực Đông-Đông Nam Á rất đông và vẫn tiếp tục tăng
nhanh với tỷ lệ tăng tự nhiên trung bình trên 2%.
+ Mức thu nhập bình quân còn thấp song có xu hướng tăng rất nhanh do
tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại nhanh nhất thế giới.
+ Tăng trưởng kinh tế làm cho nhu cầu đầu tư tăng nhanh, vì vậy không
những thị trường hàng tiêu dùng mà thị trường tư liệu sản xuất cũng không
ngừng mở rộng với tốc độ cao.
Thứ ba, là xu hướng chuyển giao vốn và công nghệ: Hiện nay trong khu
vực đang tồn tại hai dòng vốn, một là từ các nước phát triển và hai là từ các
nước trong khu vực. Hai dòng vốn cùng tồn tại, tạo ra một xu hướng cạnh
tranh khá gay gắt cả từ phía xuất khẩu vốn, cả từ phía tiếp nhận vốn.
Cùng với quá trình chuyển giao vốn là xu hướng chuyển giao công nghệ.
Hiện nay trong khu vực, xét về mặt bản chất đang diễn ra hai hình thái chuyển
giao, một là theo lôgic tuần tự từ các nước đi trước sang các nước đi sau, hai
là theo kiểu nhảy vọt, rút ngắn. Hình thái thứ nhất thường gắn liền với đầu tư
trực tiếp nước ngoài và bên tiếp nhận vốn thường đồng thời cũng phải chấp
nhận những bất lợi thế nhất định. Vì vậy, không thể hy vọng sự nhảy vọt về
mặt công nghệ nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển nếu chỉ dựa vào nguồn
vốn FDI, mà cần phải đưa ra một chiến lược đầu tư- công nghệ thích hợp cho

cả thời kỳ trung và dài hạn.
3.1.1.2 Bối cảnh trong nước:
- Dự báo trong thời gian tới, tình hình chính trị - xã hội trong nước tiếp
tục ổn định , tạo điều kiện rất quan trọng cho phát triển kinh tế. Cơ sở vững
chắc cho dụ báo đó là trong hơn một thập kỹ đổi mới vừa qua , Đảng đã lãnh
đạo nhân dân ta giành được những thành tựu to lớn, tạo nên những biến
chuyển sâu sắc trong phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội. Điều đó đã khẳng
định lòng tin của nhân dân với Đảng. Sự ổn định tình hình chính trị xã hội là
nhân tố đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển
kinh tế .
- Có thêm thế và lực mới, Đảng ta chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công
cuộc đổi mới , tiếp tục công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Trong kế hoạch 5 - 10 năm tới, Nhà nước chủ trương nâng cấp và hoàn
thiện về cơ bản hệ thống đường giao thông trên các tuyến nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm trong đó có trục Bắc - Nam, các tuyến từ Hà nội và Thành
phố Hồ Chí Minh đi các khu công nghiệp và các vùng kinh tế trọng điểm, đầu
tư hoàn thành cầu Thanh trì, cầu Bính, cầu bãi cháy; nâng cấp tuyến đường sắt
thống nhất và tuyến đường sắt Hà nội - Lào cai, Hà nội - Lạng sơn; Cải tạo và
nâng cấp các cảng Cái lân, Hải phòng; mở rộng và nâng cấp sân bay quốc tế
Nội bài . Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, nhất là tam giác tăng trưởng Hà
nội - Hải phòng - Quảng ninh được coi trọng đầu tư và nâng cao tính liên kết
trong chiến lược phát triển kinh tế chung của toàn vùng. Sự phát triển hệ
thống cơ sở hạ tầng của khu vực và các tuyến giao thông đầu mối từ Hà nội đi
đến các tỉnh, thành phố khác, các khu công nghiệp, khu chế xuất trong kế
hoạch 5-10 năm tới sẽ có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế Thủ đô,
nhất là trong chiến lược điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
- Trong 5 năm tới là giai đoạn đầu Hà nội thực hiện xây dựng và phát
triển Thủ đô theo quy hoạch điều chỉnh đã được Chính phủ phê duyệt
( Quyết định 108/ 1998/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ).Theo phương án
quy hoạch điều chỉnh thì Hà nội sẽ phát triển mạnh sang bờ Bắc sông Hồng,

mở rộng đô thị về phía tây và tây bắc với sự hình thành một chùm đô thị vệ
tinh. Định hướng chiến lược phát triển kinh tế nói chung chuyển dịch cơ cấu
kinh tế Thủ đô nói riêng và điều chỉnh cơ cấu đầu tư phải đặt trong mối quan
hệ chặt chẽ với định hướng xây dựng và phát triển đô thị theo quy hoạch.
3.1.2. Căn cứ chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành ở Hà Nội thời gian
tới
Cơ cấu kinh tế Hà Nội giai đoạn 1996-2000 nhất là năm 2000, xét về tỷ
trọng GDP thì ngành CN&XDCB chiếm 38,48% Nông nghiệp là 3,49% và DV
chiếm 58,03%. Như vậy nhìn về hình thức(định lượng) biểu hiện thì cơ cấu
kinh tế của Hà Nội là DV-CN-NN. Đó là cơ cấu của nền kinh tế phát triển, tuy
nhiên nếu đi sâu vào phân tích kỹ bản chất của cơ cấu từng ngành thì hiện nay
cơ cấu kinh tế của Hà Nội mới ở giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH sức sản
xuất còn ở trình độ thấp, cho nên các dịch vụ sản xuất không thể phát triển ơ
trình độ cao được cụ thể ngành dịch vụ có tỷ trọng GDP cao song lĩnh vực dịch
vụ hiện đại có tác dụng hỗ trợ các ngành kinh tế khác như ngân hàng, tài
chính,KH-CN, GD-ĐT còn chiếm tỷ trọng nhỏ. Thậm chí lĩnh vực KH-CN còn
giảm tỷ trọng từ 2,51% (1996) còn 1,96%(2000), vận tải kho bãi, thông tin liên
lạc giảm từ 15,75% (1996) còn 11,79% (2000) (đó là vì không có đối tượng
phục vụ hay nói cách khác là đối tượng phục vụ chưa đòi hỏi dịch vụ phát triển
ở trình độ cao điều này giải thích tại sao Thị trường chứng khoán, Bảo hiểm,
Tư vấn Pháp luật...ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng chưa phát triển)
hoạt động tín dụng hầu như không có sự tăng trưởng trong giai đoạn 1998-
2000 sự đóng góp của các ngành tài chính tín dụng và khoa học công nghệ
trong cơ cấu GDP của Hà Nội trong giai đoạn 1998-2000 chỉ đạt mức 5%.Cho
nên thực chất cơ cấu kinh tế vẫn là CN-DV-NN., hơn thế nữa cơ cấu này còn có
những hạn chế nhất định:
Thứ nhất sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hình thành các ngành trọng
điểm, ngành mũi nhọn còn chậm so với mục đích đề ra xét trên bình diện toàn
nền kinh tế cũng như trong nội bộ ngành.
Thứ hai vai trò của thị trường tài chính-ngân hàng trong việc hỗ trợ

thúc đẩy, điều tiết sự chuyển dịch cơ cấu ngành và phát triển các ngành mũi
nhọn, trọng điểm còn chậm chễ.
Thứ ba sự chuyển dịch cơ cấu ngành chưa thực sự gắn liền với sự
chuyển dịch cơ cấu vùng bởi vì các thành phần kinh tế chưa tạo được mối quan
hệ chặt chẽ giữa các ngành CN-DV-NN
Như vậy cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành dịch vụ nói riêng của
Hà Nội trong giai đoạn 1996-2000 không đáp ứng được nhu cầu đi vào phát
triển các lĩnh vực dịch vụ hiện đại mà một nền kinh tế phát triển đòi hỏi. Qua
đó cho thấy kinh tế phát triển ở trình độ thấp thì các dịch vụ xã hội và đời sống
cũng bị hạn chế. Do đó, sự phát triển mạnh của các ngành sản xuất nhất là
công nghiệp sẽ là động lực chi phối sự phát triển của các ngành dịch vụ và
nông nghiệp .
Khi kinh tế Hà Nội phát triển đến một mức độ nhất định, sức sản xuất ở
trình độ cao sẽ đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ của ngành dịch vụ (cả dịch vụ
sản xuất và dịch vụ xã hội-đời sống) lại là những động lực chính thúc đẩy và
chi phối sự phát triển của các ngành sản xuất. Chính vì vậy trong thời gian tới
Hà Nội cần phải xác dịnh cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo định hướng mới sao
cho phát huy hiệu quả hơn, tăng trưởng GDP nhanh hơn, sử dụng có hiệu quả
hơn các nguồn lực và tỷ trọng đóng góp của các ngành phản ánh đúng thực
trạng đời sống và nhu cầu của sự phát triển chung toàn xã hội. Đó là sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế từ CN-DV-NN giai đoạn hiện nay . Giai đoạn tới cơ cấu kinh
tế Hà Nội sẽ là DV-CN-NN . Muốn thưc hiện được sư chuyển dịch này theo đúng
định hướng đề ra và đạt được kết quả cao thì cần phải có chính sách đầu tư
hợp lý, khi đó sẽ tạo tiền đề cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng mục
tiêu đề ra. Do vậy ta cần phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành.
Như vậy điều quan trọng nhát thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo đúng định hướng đó là phải có định hướng và giải pháp phù hợp trong
cơ cấu đầu tư, hay nói khác đi là phải có sự chuyển dịch trong cơ cấu đầu tư
mà vấn đề mấu chốt là sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành
3.1.3. Quan điểm chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế - Xã hội

Thủ đô
Xuất phát từ tình hình thế giới, khu vực và trong nước, trên cơ sở những
thành tựu của 15 năm đổi mới, Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ 13 đã đề ra
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô trong 10 năm tới là:
Phát triển kinh tế - khoa học công nghệ - văn hoá xã hội toàn diện, bền
vững; bảo đảm xây dựng về cơ bản nền tảng vật chất, kỹ thuật và xã hội của
Thủ đô xã hội chủ nghĩa giầu đẹp, văn minh, thanh lịch, hiện đại, đậm đà bản
sắc ngàn năm văn hiến, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân;
phấn đấu trở thành một trung tâm ngày càng có uy tín ở khu vực, xứng đáng
với danh hiệu Thủ đô anh hùng.
Để thực hiện mục tiêu trên của chiến lược 10 năm, mục tiêu tổng quát
của kế hoạch 5 năm 2001-2005 là:
Tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao và bền vững. Chuyển dịch nhanh cơ
cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng
cao rõ rệt chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả phát triển
kinh tế bảo đảm chủ động hội nhập quốc tế. Xây dựng đồng bộ các loại thị
trường. Tiếp tục tăng cường đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội
tạo tiền đề cho bước phát triển tiếp theo. Tập trung giải quyết các vấn đề xã
hội bức xúc như việc làm, nhà ở và các tệ nạn xã hội. Chú trọng giáo dục - đào
tạo, khoa học - công nghệ, tạo bước chuyển mạnh về phát huy nhân tố con
người trong phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô, chuẩn bị điều kiện bước đầu xây
dựng nền kinh tế tri thức.
Do vậy các nhiệm vụ trọng tâm đặt ra trong thời gian tới bao gồm:
- Tiếp tục thực hiện tốt cơ cấu kinh tế Công nghiệp - dịch vụ - nông
nghiệp. Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế (theo GDP) bình quân 10-
11%/năm. Tiếp tục phát triển những ngành và sản phẩm đang có sức cạnh
tranh và triển vọng thị trường. Đồng thời đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nội bộ
các ngành kinh tế theo hướng hiện đại và hiệu quả;
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Ưu tiên cho mục tiêu
tăng nhanh xuất khẩu, và thay thế hàng nhập khẩu, thu hút vốn, công nghệ từ

bên ngoài. Khẩn trương chuẩn bị các điều kiện cần thiết nhất để thực hiện các
cam kết quốc tế và hội nhập kinh tế theo lộ trình một cách chủ động, hiệu quả,
an toàn.
- Phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với tăng cường củng cố và hoàn
thiện QHSX. Sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước.
- Khuyến khích các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh mới theo
hướng đa ngành, đa sở hữu, có hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Tạo môi trường
kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế phát triển lành mạnh, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả
hoạt động của các DN. Tăng tính liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa sản xuất
- dịch vụ, sản xuất - lưu thông - tiêu thụ.
- Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
để vừa giải quyết những yêu cầu bức xúc trong xây dựng và quản lý đô thị vừa
từng bước xây dựng Thủ đô đồng bộ, hiện đại theo quy hoạch đã được Thủ
Tướng Chính phủ phê duyệt. Phát triển nhanh các khu đô thị mới đi dôi với
quản lý, bảo tồn, tôn tạo các khu phố cổ, khu phố cũ; cải tạo nâng cấp, chỉnh
trang khu vực nội thành cùng với việc giảm mật độ dân cư trong khu vực nội
thành cũ.
- Đa dạng hoá hệ thống giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi
người dân. Phát triển toàn diện về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ.
Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; ứng dụng
nhanh các công nghệ tiên tiến, hiện đại; chuẩn bị những điều kiện cần thiết để
bước đầu xây dựng nền kinh tế trí thức.
- Tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc: Tạo
nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở cả thành thị và nông thôn; phát triển
nhanh quỹ nhà ở; ngăn chặn sự gia tăng các tệ nạn xã hội. Pháp triển mạnh
văn hoá, thông tin, y tế và thể dục thể thao. Nâng cao mức sống vật chất và
tinh thần của nhân dân.
- Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lí nhà nước. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Đấu tranh mạnh mẽ

với tệ quan liêu, tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống trong cán bộ công
chức. Đấu tranh có hiệu quả với các tệ nạn xã hội. Xây dựng và thực hiện nếp
sống tôn trọng pháp luật, thực hiện nghiêm trật tự kỷ cương trong mọi hoạt
động của đời sống kinh tế - xã hội Thủ đô.
Các chỉ tiêu chủ yếu trong kế hoach 5 năm 2001-2005.
1. Dân số đến năm 2005 3 triệu người
2. Tốc độ GDP 10-11%
3. GDP bình quân/ người 1500USD
4. Gia tăng Công nghiệp 14,5-15%
5. Dịch vụ 9-10%
6. Nông nghiệp 3,5-4%
7. Xuất khẩu 16-18%
8. Tốc độ tăng dân số 1,06-1,07%
9. Tuổi thọ bình quân 71
10. Số hộ nghèo 4-5%
11. Tỷ lệ lao đông qua đào tạo 40-50%
12. Phổ cập PHTH năm 2005 70%
13. Nhà ở đô thị năm 2005/người 7-7,5m
2
14. Số KW điện/ngươì 1600KW
15. Cấp nước sạch 130-140
16. Diện tích cây xanh 5-6m
2
/người
17. Vận tải hành khách công cộng 20-25%
18. Diện tích đất giao thông đô thị 11-12%
19. Số máy điện thoại 24-25máy/100người
20. Tổng đầu tư XH bình quân/năm 24571 tỷ
21. Cơ cấu kinh tế năm 2005 +Công nghiệp: 41,5%
+Dịch vụ : 55.5%

+Nông nghiệp: 3%
3.1.4. Quan điểm chuyển dịch cơ cấu đầu tư giai đoạn 2001-2005 trên
địa bàn Hà Nội
3.1.4.1. Quan điểm phát triển toàn diện đồng bộ nhưng có trọng điểm: Phát
triển kinh tế có nội dung toàn diện, bao hàm cả sự tăng trưởng kinh tế và sự
tiến bộ xã hội. Giữa tăng trưởng kinh tế và sự tiến bộ xã hội có quan hệ chặt
chẽ, tác động vào nhau, thúc đẩy nhau phát triển, trong đó tăng trưởng kinh tế
là cơ sở để thực hiện tiến bộ về xã hội. Do đó, trong bố trí cơ cấu vốn đầu tư
phải đảm bảo những mối quan hệ tỷ lệ cân đối, đảm bảo phát triển toàn diện
các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội lẫn trình độ văn minh của con người.
Vấn đề hết sức quan trọng khi thực hiện quan điềm toàn diện là phải xác
định được các trọng điểm, mũi nhọn cần tập trung, từ đó bố trí cơ cấu đầu tư
phù hợp, sự lựa chọn những trọng điểm đó phải được tính toán trên cơ sở tiềm
lực về các nhân tố tăng trưởng, về lợi thế so sánh.
3.1.4.2. Quan điểm tiên tiến và hiện thực trong chuyển dịch cơ cấu đầu tư
Trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ phát triển, trong cơ cấu
giá trị hàng hoá, hàm lượng chất xám có xu hướng ngày càng tăng lên. Do vậy,
về sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường, việc sản xuất ra sản
phẩm phải thể hiện được sự tiếp cận đến những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ
tiên tiến. Để tạo được ngành sản xuất như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu
đầu tư phải tính đến những thành tựu của khoa học và công nghệ, áp dụng nó
vào trong sản xuất và phát triển kinh tế. Trong điều kiện eo hẹp về vốn đầu tư,
chưa thể tiến hành đồng loạt thì cần lựa chọn các lĩnh vực, các ngành các lĩnh
vực để tập trung ưu tiên nâng dần từng bước trình độ cơ khí hoá, điện khí hoá,
tự động hoá, hoá học hoá, sinh học hoá học tiến lên ở một mức độ nhất định
của công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, năng lượng mới...
Tuy nhiên, việc lựa chọn loại công nghệ nào, trình độ ra sao phải tuỳ vào
điều kiện cụ thể về khả năng của nền kinh tế, của từng ngành và từng lĩnh vực
cụ thể. Tiêu chuẩn để lựa chọn công nghệ cuối cùng vẫn là hiệu quả, trước mắt
cũng như lâu dài. Cơ cấu đầu tư phải cho phép hình thành cơ cấu kinh tế năng

động, linh hoạt, để thích nghi với những biến đổi không ngừng và nhanh chóng
của tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới, trên cơ sở khả năng và trình độ
hiện có của nền kinh tế. Việc cách ly các điều kiện thực tế sẽ dẫn đến việc hình
thành cơ cấu kinh tế mang tính hình thức, kém hiệu quả.
3.1.4.3. Quan điểm nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội phải được xác định là cơ
bản nhất, xuyên suốt quá trình chuyển dịch cơ cấu đầu tư.
Chuyển dịch cơ cấu đầu tư phải thúc đẩy quá trình hình thành cơ cấu
kinh tế hiệu quả. Tính hiệu quả của cơ cấu kinh tế thể hiện trước hết ở tốc độ
tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, ở khả năng mở rộng của quy mô tổng sản
phẩm quốc nội và thu nhập quốc dân, cũng như tổng sản phẩm quốc nội tính
bình quân theo đầu người. Đó là một cơ cấu kinh tế cho phép sử dụng tối đa
mọi nguồn lực của xã hội, tận dụng đến mức cao nhất lợi thế so sánh của
Thành phố nhằm đạt được mục tiêu phát triển đã được định hướng trước,
tăng cường tích luỹ mở rộng sản xuất. Ngoài ra, hiệu quả của chuyển dịch cơ
cấu kinh tế còn được thể hiện ở sự thay đổi trong cơ cấu lao động xã hội theo
hướng tỷ lệ lao động làm việc trong ngành nông nghiệp giảm xuống và trong
ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên một cách tương ứng, ở sự thay đổi
trong cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu mà thể hiện trước hết là trong xuất
khẩu tỷ trọng sản phẩm chế biến không ngừng tăng lên và chiếm đại bộ phận
kim ngạch xuất khẩu.
3.1.4.4. Quan điểm nền kinh tế mở và hướng về xuất khẩu trong chuyểndịch
cơ cấu đầu tư
Thực hiện chính sách mở cửa sẽ tạo điều kiện để Việt nam nói chung Hà
Nội nói riêng tranh thủ được vốn, kỹ thuật, công nghệ và trình độ quản lý của
nước ngoài. Thời cơ đó hết sức thuận lợi, song để phát huy hiệu quả của nhân
tố bên ngoài cần phải có chiến lược cơ cấu đầu tư linh hoạt sao cho có thể tạo
lập được một chu trình hợp lý về đầu tư nước ngoài - xuất khẩu. Có như vậy
mới phát huy được nguồn vốn nước ngoài và lợi thế so sánh của Thủ đô vào
mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
3.1.4.5. Quan điểm tự thân vận động, dựa vào sức mình là chính đồng thời

ra sức tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài.
Lý thuyết phát triển kinh tế đã khẳng định: phát triển kinh tế là một quá
trình vận động theo thời gian và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế tạo ra.
Điều đó có nghĩa là những thành quả kinh tế đạt được, trước hết phải là kết
quả của việc huy động các yếu tố, nguồn lực từ nội bộ nền kinh tế. Có như vậy
quá trình phát triển kinh tế mới đạt được sự ổn định, bền vững và lâu dài.
Đối với Việt Nam nói chung, Thủ đô Hà nội nói riêng do xuất phát điểm
thấp, nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển là rất lớn. Trong khi hết sức coi trọng
và tranh thủ nguồn vốn bên ngoài, vẫn phải khẳng định nguồn vốn trong nước
có tính lâu dài quyết định, vì các lý do sau đây:
- Thực tế đã chứng minh việc thu hút nguồn vốn bên ngoài là không dễ
dàng.
- Nhiều nghiên cứu đã đi đến thống nhất, để tiêu hao được một đồng vốn
bên ngoài, cần phải có từ một đến hai đồng vốn trong nước.
- Dễ gây ra tình trạng sử dụng lãng phí đồng vốn, nguy cơ nợ quốc tế
không có khả năng thanh toán rất lớn.
- Khả năng lệ thuộc vào nước ngoài tăng lên.
3.2. Một số định hướng cho chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành
3.2.1. Phương hướng chung
Để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo những định hướng trên,
với tư cách là phương tiện hình thành cơ cấu kinh tế, theo tôi quá trình chuyển
dịch cơ cấu đầu tư trong thời gian tới cần đạt được mục tiêu tổng quát sau
đây:
Từng bước hình thành cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Đó là cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó các ngành gắn bó với
nhau trong một cơ cấu kinh tế thống nhất thúc đẩy nhau phát triển trên cơ sở
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Thủ đô nhằm đạt được mức tăng
trưởng nhanh ổn định và bền vững; tỷ trọng của ngành công nghiệp trong GDP
tăng lên, tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm xuống mặc dù lượng tuyệt đối
vẫn tăng lên nhanh chóng; mở rộng không ngừng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế

để tái đầu tư, tạo tiền đề về vốn, khoa học công nghệ, kỹ thuật và nguồn nhân
lực có chất lượng cao để phát triển tiếp theo vì mục tiêu xây dựng một Thủ đô
giàu mạnh, công bằng, văn minh và hiện đại.
Thực hiện mục tiêu đó, phương hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư của
Thủi đô giai đoạn 2001 - 2005 là:
- Thứ nhất, một mặt phải có chính sách phù hợp để nâng cao tỷ lệ tiết
kiệm và duy trì một tỷ lệ đầu tư cao, mặt khác quan trong hơn là phải nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Điều đó có ý nghĩa là phải duy trì hệ số ICOR
ở mức độ tương đối thấp, tương đương với mức hiện nay càng lâu càng tốt.
- Thứ hai, cơ cấu đầu tư phải tạo điều kiện thúc đẩy việc thực hiện
chiến lược tăng trưởng kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu. Chỉ có hướng mạnh
về xuất khẩu mới nhanh chóng tạo ra được nguồn vốn ngoại tệ và kỹ thuật-
công nghệ cao.
- Thứ ba, trong điều kiện nguồn lực hạn chế, cơ cấu đầu tư phải đảm
bảo thực hiện chiến lược phát triển không cân đối, tập trung ưu tiên các ngành
trọng điểm, hình thành và phát triển một số ngành mũi nhọn nhằm tạo ra các
cực tăng trưởng lôi kéo toàn bộ nền kinh tế phát triển.
- Thứ tư, cơ cấu đầu tư phải kết hợp một cách hữu cơ giữa cơ cấu đầu
tư theo ngành với cơ cấu đầu tư theo vùng và cơ cấu đầu tư theo thành phần
kinh tế, để vừa đảm bảo phát triển hài hoà giữa các vùng, đồng thời cho phép
nâng cao tỷ lệ huy động vốn đầu tư một cách cao nhất, chuẩn bị cho tình
huống hệ số ICOR tăng lên ở giai đoạn sau. Để thoả mãn các yêu cầu trên đây,
phương hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư trong thời gian tới cần được thực
hiện theo các nội dung sau đây:
+ Chuyển dịch cơ cấu đầu tư phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhất thiết phải đi cùng với quá trình
chuyển giao công nghệ và tiếp thu vốn nước ngoài. Quá trình này phải được
chuẩn bị một cách chu đáo để đạt hiệu quả cao. Có hai con đường chuyển giao
công nghệ chủ yếu là mua bằng phát minh sáng chế và tiếp nhận trực tiếp công
nghệ từ nước ngoài. Con đường thứ hai cho phép tiết kiệm thời gian hơn và

phù hợp với yêu cầu tăng trưởng nhanh, chống nguy cơ tụt hậu về mặt kinh tế.
Con đường thứ nhất lại cho phép tận dụng đội ngũ khoa học trong nước
vừa tiết kiệm được chi phí vừa là động lực thúc đẩy tiềm lực chất xám trong
nước.
Do vậy cách lựa chọn con đường chuyển giao công nghệ là tuỳ và điều
kiện cụ thể, cân nhắc giữa nhu cầu và khả năng về đội ngũ của chúng ta.
Về trình độ công nghệ, cần nghiên cứu và lựa chọn những công nghệ phù
hợp, đối với một số lĩnh vực, có tính chất mũi nhọn như điện tử, thông tin cần
đi thẳng vào trình độ hiện đại, tạo ra lợi thế lâu dài cho các ngành công nghiệp
xuất khẩu.
Với phương hướng chuyển cơ cấu đầu tư tổng quát trên đây, trật tự ưu
tiên về khối lượng vốn đầu tư trong thời gian tới được định hướng theo các
nhóm ngành sau:
+ Tập trung đầu tư cho một số ngành mũi nhọn như điện tử, tin học
nhất là phần mềm tin học; cơ - kim khí, nhất là cơ khí chế tạo; dệt - may - da -
giầy; chế biến thực phẩm; vật liệu mới.
+ Đầu tư phát triển mạnh các ngành dịch vụ như: tài chính, ngân hàng
vận tải, thương mại, bảo hiểm, thông tin-viễn thông, du lịch-khách sạn, vì
những ngành này vừa tạo tiền đề để mở rộng thị trường, mở rộng giao lưu
kinh tế vừa là ngành có mức tăng trưởng cao.
+ Đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động các trung tâm thương mại
hiện đại, một số siêu thị lớn, hình thành một số khu phố buôn bán chuyên
doanh và tổng hợp; đầu tư hoàn chỉnh hệ thống chợ; xây dựng các trung tâm
thương mại của Hà Nội ở nước ngoài.
+ Đầu tư nâng cao cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển mạnh các loại hình
du lịch.
+ Đầu tư phát triển các ngành có hệ số ICOR thấp, thu hút nhiều lao
động, tạo nhiều công ăn việc làm và tăng trưởng khá nhanh. Đó là các ngành
công nghiệp nhẹ như: dệt, da, may mặc, chế biến nông sản, chế tạo hàng tiêu
dùng phục vụ nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.

+ Đầu tư cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng như: điện, nước, hệ thống giao
thông, thông tin bưu điện.
+ Đầu tư cho nông nghiệp để đảm bảo phát triển nền nông nghiệp Thủ
đô theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sạch kết hợp phát triển du
lịch.
3.2.2. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực
+ Công nghiệp: Định hướng thời gian tới là phát triển công nghiệp với tốc độ
nhanh, có hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở phát huy cao độ các nguồn lực, đặc
biệt là nội lực để tiếp tục chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo phương châm ưu
tiên những ngành, hàng, sản phẩm có khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại,
kỹ thuật thiết bị tiên tiến, chứa đựng hàm lượng chất xám cao kết hợp với
những ngành nghề truyền thống, thu hút nhiều lao động nhằm nâng cao sức
cạnh tranh của sản phẩm, thích ứng nhanh với thị trường bảo đảm đủ năng
lực và tiêu chuẩn cạnh tranh với các nước trong khu vực khi việt nam tham gia
các hiệp định thương mại, thực hiện mở cửa hội nhập.
Các ngành công nghiệp chủ lực được xác định theo thứ tự ưu tiên là:
Điện tử-Tin học, Cơ kim khí, Dệt-may, Chế biến thực phẩm, Công nghiệp vật liệu
mới.
Các khu công nghiệp: Lấp đầy các khu công nghiệp tập trung mới xây
dựng cải tạo chuyển đổi các khu công nghiệp cũ trong nội thành, đầu tư chiều
sâu các khu công nghiệp cũ ở ngoại thành, phát triển thêm các khu công
nghiệp vừa và nhỏ.
+ Thương mại: Phát triển thị trường Hà Nội đặc biệt là thị trường bán buôn,
XNK hàng hoá và dịch vụ nhằm mở rộng giao lưu giữa Hà Nội với thị trường
cả nước, khu vực và trên thế giới; Dự kiến tổng mức buôn bán năm 2005
khoảng 207.500 tỷ đồng, tăng bình quân 13,5%; phát triển thị trường bán lẻ
Hà Nội với sự tham gia tích cực của thành phần kinh tế, theo hướng đa dạng,
nhiều tầng với nhiều hình thức, quy mô và phương thức kinh doanh khác nhau
nhằm thoả mãn nhu cầu rất đa dạng và phong phú của nhân dân. Dự kién mức
lưu thông hàng hoá bán lẻ cả năm 2005 đạt mức 36.400 tỷ đồng, tăng bình

quân 12-13%/năm. Coi XK là mũi nhọn, là đòn bẩy quan trọng để thúc đẩy
phát triển sản xuất và thương mại của thủ đô Hà Nội. Trong xuất khẩu xác
định danh mục hàng xuất khẩu chủ lực theo thứ tự:Hàng công nghiệp chế biến
sâu chiếm tỷ trọng khoảng 48-49%; Hàng CN nặng khoáng sản : chiếm tỷ trọng
khoảng 25%. Hàng nông lâm sản: dự kiến chiếm tỷ trọng khoảng 22%; Các loại
hàng khác dự kiến chiếm tỷ trọng3,5%. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005
trên địa bàn khoảng 3000-3300 triệuUSD, tăng bình quân16-18%.
+ Du lịch: Du lịch đã nhanh chóng trở thành ngành kinh tế quan trọng của
Thủ đô. Trong thời gian tới du lịchThủ đô cần phát triển theo hướng đa dạng
hoá và nâng cao các sản phẩm du lịch; tích cực chuyển dịch từ du lịch bị động
sang phát triển du lịch chủ động; phát triển các loại hình du lịch , văn hoá, du
lịch lịch sinh thái...;phối hợp với địa phương để xây dựng các chương trình du
lịch, các tuyến điểm du lịch thu hút khách du lịch trong nước và nước ngoài;
đầu tư xây dựng một số cụm du lịch tổng hợp có sức hấp dẫn cao để góp phần
tạo sự đột phá lớn.
- Tổng doanh thu du lịch tăng bình quân 10,7%
- Tổng lượt khách tăng14%/năm trong đó khách quốc tế tăng13,4%; khách
trong nước tăng 15%. Số ngày lưu trú của khách sẽ là 3-4 ngày/lượt(hiện nay
là 2,6 ngày/lượt).
- Dịch vụ khác: Nâng cao chất lượng dịch vụ vân tải hành khách, phát triển
vận tải hành khách công cộng; Bảo đảm an toàn thông suốt trong vận tải nội
đô và khu vực. Nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính viễn thông, sử dụng
công nghệ hiện đại tăng dung lượng các tổng đài hiện có; Cáp quang hoá mạng
bưu chính viễn thông ; khuyến khích phát triển công nghệ tin học và các dịch
vụ máy vi tính, dịch vụ phần mềm khác. Phát triển nhanh, mạnh các loại hình
dịch vụ của nền kinh tế thị trường hiện đại; Tài chính, Ngân hàng,Kiểm toán...
+ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tiếp tục ổn định và tăng trưởng ngành công nghiệp. Phát triển đa dạng
cả trồng trọt lẫn chăn nuôi, thủy sản theo hướng phát triển sản xuất ngày càng
nhiều các loại nông sản hàng hóa có chất lượng cao, hiệu qủa lớn đáp ứng cho

thị trường Thủ đô xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
theo hướng tăng tỷ trọng các ngành chăn nuôi ,thuỷ sản . Phấn đấu nâng cao
hiệu quả kinh tế nông nghiệp trên cơ sở tăng nhanh giá trị cây trồng, vật nuôi
trên đơn vị diện tích, tăng nhanh tỷ trọng các loại thực phẩm sạch: rau sạch,
thịt sạch... cung cấp cho nhân dân Thủ đô. Hình thành một số vùng sản xuất
hàng hóa có chất lượng: vùng sản xuất rau sạch, vùng phát triển hoa, cây cảnh,
vùng trồng cây ăn qủa, vùng phát triển chăn nuôi bò sữa, nuôi cá... Phát triển
công nghiệp chế biến nông sản từ cơ chế hiện đại nhằm tăng giá trị sản phẩm
nông nghiệp, ổn định thị trường tiêu thụ sản phẩm. Phấn đấu đạt tốc độ tăng
trưởng giá trị sản xuất bình quân 3,5 ÷ 4%/năm. Phát triển nông nghiệp gắn
với việc phát triển kinh tế ngoại thành, phát triển ngành nghề nông thôn và
xây dựng nông thôn mới; phấn đấu đến năm 2005 : 100% dân số được dùng
nước sạch . Nhựa và bê tông hoá 100% hệ thống đường giao thông nông thôn.
Giảm dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn.
+ Định hướng xây dựng và phát triển đô thị
- Xây dựng và phát triển thô thị phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế- xã hội Hà Nội. Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển đô thị đặc biệt
coi trọng quản lý xây dựng theo quy hoạch. Kết hợp hài hòa tính hiện đại, bản
sắc và truyền thống dân tộc. Gắn xây dựng và quản lý đô thị với kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.
- Phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ, liên tục, hệ thống hiện đại.Giải
quyết đồng bộ giữa phát triển hạ tầng kĩ thuật đo thị với hạ tầng xã hội theo
phương châm phát triển hạ tầng kĩ thuật phải đi trước một bước. Từng bước
phát triển đô thị theo kịp các định mức và chỉ tiêu tiên tiến trong khu vực và
thế giới; nâng cao chất lượng đô thị nhằm mục tiêu xây dựng một thành phố
hiện đại văn minh với vị trí tương xứng là một thủ đô của một đất nước có vị
trí xứng đáng trong khu vực và thế giới.
- Phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị phù hợp với phương châm là xây dựng
các khu đô thị mới để cải tạo các khu đô thị cũ. Xây dựng phát triển đô thi gắn
với quy hoạch xắp xếp lại dân cư, thực hiện phương án dãn dân trong khu vực

nội thành.
- Đảm bảo công bằng xã hội trong xây dựng và quản lý đô thị. Phát triển hạ
tầng kỹ thuật đô thị nhằm cải thiện môi trường đô thị trong những khu đô thị
cũ; đảm bảo vừa phát triển vừa cải tạo; nâng cao điều kiện sống cho người
dân đô thị; kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng
công tác khai thác. Chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở các huyện ngoại
thành nông nghiệp và nông thôn.
+ Văn hoá -xã hội
Phát triển mạnh sự nghiệp văn hoá thông tin nhằm góp phần xây dựng con
người Hà Nôi vừa tiến tới, văn minh hiện đại vừa mang bản sắc thanh lịch, trí
tuệ của thủ đô ngàn năm văn hiến...Mở rộng giao lưu văn hoá với nước ngoài
và thủ đô các nước. Hiện đại hoá và đa dạng các hoạt động thông tin nhằm
phục vụ phát triển kinh tế xã hội và nhiệm vụ chính tri của thủ đô. Khẩn
trương xây dựng các công trình văn hoá lớn , tiêu biểu để phục vụ kỷ niệm
1000 năm Thăng Long
+ Giáo dục đào tạo:
Mục tiêu: Hà Nội phấn đấu luôn giữ vị trị hàng đầu trong cả nước về việc
nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lục và bồi dưỡng nhân tài. Phát thiển hệ
thống giáo dục thủ đô đa dạng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và

×