LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành bài tiểu luận này tơi xin chân thành cảm ơn thầy giáo
PGS. TS. Nguyễn Tất Thắng đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tơi rất nhiều
để hồn thành về đề tài này.
Qua đây tơi cũng xin chân thành cảm ơn các tác giả của các cơng trình
nghiên cứu mà tơi đã sử dụng làm tài liệu tham khảo, đã tạo điều kiện cho tôi có
cơ hội để hồn thành bài tiểu luận này
Học viên thực hiện:
Pơ Long Đô
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................2
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu........................................................3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài...............................................................3
5. Đóng góp của đề tài...........................................................................................3
6. Bố cục của đề tài...............................................................................................3
B. NỘI DUNG.......................................................................................................4
Chương I. Bối cảnh lịch sử và chính sách văn hóa của thực dân Pháp................4
1. Tình hình xã hội Việt Nam giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX........................4
2. Chính sách văn hố của thực dân Pháp.............................................................5
Chương II. Tác động của văn hoá Pháp đối với sự chuyển biến văn hoá văn
hoáViệt Nam giai đoạn 1858 – 1945....................................................................9
1. Sự chuyển biến về văn hoá vật chất .................................................................9
1.1Sự chuyển biến trong lĩnh vực đô thị...............................................................9
1.2. Sự chuyển biến trong lĩnh vực công nghiệp và giao thông vận tải..............10
2. Sự chuyển biến về văn hoá tinh thần..............................................................11
2.1. Sự chuyển biến về giáo dục..........................................................................11
2.2. Sự chuyển biến về văn tự và ngơn ngữ........................................................12
2.3. Báo chí ra đời...............................................................................................13
2.4. Sự chuyển biến trong văn học, nghệ thuật, hội họa.....................................14
2.5. Sự chuyển biến về hệ tư tưởng.....................................................................17
KẾT LUẬN.........................................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................21
A.MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Sự
xâm lược của thực dân Pháp đối với dân tộc ta là thời kỳ đau thương của dân
tộc, bên cạnh sự đổ máu, những hy sinh, tổn thất của dân tộc và nhân dân ta phải
gánh chịu thì chúng ta cũng phải thấy rằng người Pháp cũng đem lại cho Đất
nước ta những giá trị nhất định, tronhg đó phải kể đến những giá trị văn hóa mà
Pháp đã để lại, nó cùng với những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc góp phần
làm phong phú nền văn hóa Việt Nam.
- Lịch sử cho thấy chúng ta thấy văn hóa là điểm tiếp xúc đầu tiên và
xuyên suốt của mối quan hệ giữa Việt - Pháp, đầu tiên là những người Pháp đặt
chân đến Việt Nam là để truyền giáo - phổ biến một sản phẩm văn hóa mới tại
đất nước này. Nhưng sự can thiệp của người Pháp ngày càng sâu khi thực dân
Pháp chính thức xâm lược Việt Nam, biến nước ta từ xã hội phong kiến dần
chuyển sang xã hội nửa phong kiến nửa thực dân. Xã hội bắt đầu xáo trộn phân
hóa mạnh hơn, với tư cách là một công cụ vô ý thức của lịch sử, nó phá vỡ cái
vịng phát triển luẩn quẩn của một xã hội nông nghiệp cổ truyền... cơng cuộc
khai thác áp bức bóc lột thuộc địa của Pháp đã vơ tình khiến nền văn hóa Việt
Nam được mở của giao lưu với văn hóa phương Tây mà trực tiếp là với văn hóa
Pháp, nền văn hóa Việt nam ngàn năm phong kiến vốn chịu ảnh hưởng của văn
hóa Trung Hoa, nay có cơ hội được mở cửa hịa nhập, tiếp thu những luồng văn
hóa phương Tây mới mang tính hiện đại.
- Giai đoạn từ 1858 đến 1945 là giai đoạn văn hoá phương Tây bắt đầu
thâm nhập, cùng lúc văn hoá Trung Hoa suy thoái đi, các yếu tố thuộc bản sắc
truyền thống của văn hoá Việt Nam được dịp phát huy tác dụng, nhìn ở diễn
trình văn hố, đây được xem là một sự đứt gãy chưa từng có. Non một thế kỉ
văn hố Việt Nam có những biến thiên ghê gớm. Từ cách ăn, mặc, đến các
phương tiện đi lại, từ điêu khắc ở đình làng đến tượng đài ở những nơi cơng
viên, từ thơ Đường sang thơ mới, từ văn vần sang văn xuôi, tiểu thuyết, từ
chữ Hán chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ, tất cả đều đi tới hoà nhập với thế giới
hiện đại.Tuy nhiên, bản sắc văn hoá dân tộc vẫn không mất đi, không bị thay
1
đởi. Nói các khác, đó là văn hố Việt Nam, là sự khơng chối từ về văn hố trong
việc tiếp thu các yếu tố ngoại sinh .
- Sự giao lưu và kế thừa liên tục làm cho văn hoá Việt Nam trở thành một
khối vững chắc xuyên suốt chiều dài lịch sử, tạo sức mạnh để chúng ta giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa. Ngày nay dù sự tiếp biến văn hóa là đa dạng, song
dù trong bối cảnh nào nền văn hóa Việt Nam cũng mang những săc thái riêng
biệt, thực sự đậm đà bản sắc dân tộc hịa nhập với thế giới.
- Cũng chính từ những lý do trên nên tôi quyết định chọn đề tài “Tác
động của văn hoá Pháp đối với sự chuyển biến văn hoá văn hoáViệt Nam giai
đoạn 1858 – 1945” làm đề tài tiểu luận của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề tài “Tác động của văn hoá Pháp đối với sự chuyển biến văn hoá văn
hoáViệt Nam giai đoạn 1858 – 1945” Với mục đích nhằm có cái nhìn đầy đủ
hơn về sự xâm lược của thực dân Pháp đối với dân tộc ta là thời kỳ đau thương
của dân tộc, bên cạnh sự đổ máu, những hy sinh, tổn thất của dân tộc và nhân
dân ta phải gánh chịu thì chúng ta cũng phải thấy rằng người Pháp cũng đem lại
cho Đất nước ta những giá trị nhất định, tronhg đó phải kể đến những giá trị văn
hóa mà Pháp đã để lại, nó cùng với những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc
góp phần làm phong phú nền văn hóa Việt Nam.
- Để thực hiện tốt mục đích trên, tơi đã cố gắng thu thập tài liệu về “Tác
động của văn hoá Pháp đối với sự biến đổi văn hoá văn hoáViệt Nam giai đoạn
1858 – 1945” để giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Tìm hiểu bối cảnh lịch sử và chính sách văn hóa của thực dân Pháp.
+ Tìm hiểu về Tác động của văn hoá Pháp đối với sự chuyển biến văn hoá
văn hoáViệt Nam giai đoạn 1858 – 1945.
+ Rút ra nhận xét
- Đồng thời, khi thực hiện đề tài này tơi cũng hướng đến một mục đích
khơng kém phần quan trọng đó chính là tác dụng giáo dục lịch sử, nâng cao hiểu
biết, khơi dậy lịng tự tơn dân tộc đối với thế hệ trẻ hôm nay và ngày mai.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Chúng tôi đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho q trình nghiên cứu của
mình.
- Để thực hiện đề tài này, tơi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
2
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
+ Bên cạnh đó thì việc sử dụng các phương pháp căn bản trong nghiên cứu
lịch sử là không thể thiếu như: Phương pháp logic và phương pháp sử học, phân
tích, tởng hợp, so sánh, đối chiếu…
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài.
- Đề tài tập trung nhiên cứu về tác động của văn hố Pháp đối với sự biến
đởi văn hố văn hốViệt Nam giai đoạn 1858 – 1945.
5. Đóng góp của đề tài
- Đề tài này thành công sẽ giúp cho chúng ta sẽ có một cái nhìn cụ thể, hệ
thống về Sự chuyển biến về văn hóa Việt Nam từ khi Pháp xâm lược năm 1858
đến năm 1945. Đồng thời sẽ cung cấp một tài liệu nghiên cứu cho Giảng viên,
Học viên, Sinh viên về văn hóa Việt Nam từ khi Pháp xâm lược năm 1858 đến
năm 1945.
6. Bố cục của đề tài
- Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo. Phần nội dung
của tiểu luận gồm 2 chương:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử và chính sách văn hóa của thực dân Pháp.
Chương 2: Tác động của văn hoá Pháp đối với sự chuyển biến văn hoá văn
hoáViệt Nam giai đoạn 1858 – 1945.
3
B.NỘI DUNG
Chương I. Bối cảnh lịch sử và chính sách văn hóa của thực dân
Pháp.
1. Tình hình xã hội Việt Nam giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX.
- Đêm 31/8/1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Tháng 6/1884, triều
đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt, từ đó Pháp thiết lập sự thống trị ở toàn
Việt Nam. Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã làm cho đất nước ta
thay đổi trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, xã hội... trong đó có sự
thay đởi về văn hóa Việt Nam.
- Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông
Dương. Chúng dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù thủ tiêu mọi quyền dân
chủ, đàn áp, khủng bố mọi sự chống đối; dùng chính sách “chia để trị”, chia
nước ta thành ba kỳ với ba chế độ thống trị khác nhau. Thực dân Pháp duy trì
triều đình phong kiến nhà Nguyễn và giai cấp địa chủ làm cơng cụ tay sai để áp
bức về chính trị và bóc lột kinh tế. Nhân dân ta mất nước trở thành nơ lệ, bị đàn
áp, bóc lột, cuộc sống vô cùng khổ cực.
- Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đông
Dương lần thứ nhất (1897 - 1914); khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919- 1929),
trong đó lấy Việt Nam là trọng điểm, nền kinh tế nước ta tuy có sự phát triển
mức độ nào đó theo hướng tư bản chủ nghĩa nhưng là nền kinh tế thuộc địa, mất
cân đối, phụ thuộc vào Pháp.
- Sự thay đối tính chất xã hội và cơ cấu giai cấp xã hội Việt Nam: Dưới sự
thống trị của thực dân Pháp, tính chất xã hội Việt Nam đã thay đổi. Việt Nam từ
xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến.
- Những giai cấp cũ còn tồn tại: Giai cấp địa chủ(đại địa chủ làm tay sai
cho Pháp, trung và tiểu địa chủ có tinh thần cách mạng; Giai cấp nơng dân
chiếm hơn 90% dân số, bị áp bức bóc lột nặng nề, một cở hai trịng.
- Xuất hiện giai cấp mới: Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời trong cuộc khai
thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp. Giai cấp công nhân Việt Nam ra
đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 - 1914)
4
và phát triển khá nhanh; Tầng lớp tiểu tư sản gồm người bn bán nhỏ, viên
chức, trí thức, học sinh, sinh viên...
- Trong xã hội Việt Nam nối lên hai mâu thuẫn cơ bản. Mâu thuẫn cơ bản
thứ nhất đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt
Nam với thực dân Pháp. Mâu thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt Nam, đa
số là nông dân với địa chủ phong kiến.
- Như vậy cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp được tiến hành trên
tất cả các lĩnh vực do đó kéo theo sự thay đổi của Dân tộc Việt Nam trên tất cả
các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, xã hội... Từ xã hội phong kiến Việt Nam dần
chuyển sang xã hội nửa phong kiến nửa thực dân. Chính cái phần nửa thực dân
này xét về mặt xã hội hóa nước ta đã vận động xa hơn nhiều so với cả ngàn năm
phong kiến như đứng yên. Xã hội bắt đầu xáo trộn phân hóa mạnh hơn. Nhờ đó
đã vơ tình mở ra cánh cửa cho trí thức Việt Nam tiếp xúc với nên văn hóa Pháp
pha lỗng tính thủ cựu sau lũy tre làng.
2. Chính sách văn hố của thực dân Pháp.
- Văn hóa Việt Nam tiếp xúc với văn hóa phương Tây từ rất sớm, vào
khoảng thế kỷ XVI, khi các giáo sĩ Kitô đi truyền đạo, khi các thuyền bn
phương Tây đi tìm thị trường. Nhưng văn hóa phương Tây chỉ thực sự ảnh
hưởng đến văn hóa Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, sau những đợt khai thác thuộc
địa. Bộ máy thống trị thực dân đã thực thi một chính sách văn hóa nhằm củng
cố địa vị thống trị của chúng ở Đơng Dương.
- Chính sách văn hóa của Pháp tại Việt Nam: Thực dân Pháp thực hiện
chính sách nơ dịch văn hố; xố bỏ hệ thống giáo dục phong kiến, thay bằng
chế độ giáo dục thực dân hạn chế. Pháp mở nhà tù, trại giam nhiều hơn trường
học; khuyến khích các hoạt động mê tín, các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, hạn chế
xuất bản sách báo, gây tâm lý tự ti dân tộc. Chúng tìm mọi cách bưng bít và
ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi
hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị.
- Thực dân Pháp cho rằng: “Đối với cái giống nịi Annammit ấy, chỉ có
một cách tốt để cai trị nó – đó là ách thống trị bằng sức mạnh… Truyền học vấn
cho bọn Annammit hoặc cho phép chúng tự có học vấn, tức là một mặt cung cấp
5
cho chúng những súng bắn nhanh để chống lại chúng ta và mặt khác đào tạo
những con chó thơng thái gây rắc rối hơn là có ích”.
- Tuy nhiên trong q trình thực hiện khơng phải Pháp xóa tồn bộ nền
văn hóa cũ của nước ta, mà chúng vẫn giữ lại một số nét văn hóa truyền thống
có lợi cho sự duy trì thống trị của chúng nhưng đồng thời có lợi cho sự bảo tồn
và phát triển văn hóa dân tộc trên một số lĩnh vực:
- Về tổ chức đời sống xã hội, chính sách chia để trị của thực dân Pháp chỉ
tác động tới phần nổi ở bên trên với cả ba vùng: Bắc, Trung, Nam. Cơ cấu xã hội
cơ sở: làng xã vẫn tồi tại, thậm chí, người Pháp cịn duy trì tở chức làng xã nhằm
sử dụng bộ máy kì hào phong kiến để làm các cơng việc cho chính quyền thuộc
địa. Ý đồ này bộc lộ rất rõ qua lời của viên Tồn quyền Pơn Đume (Paul
Doumer): “Theo tơi, duy trì trọn vẹn, thậm chí tăng cường cách tổ chức cũ kĩ mà
chúng ta đã thấy, đó là một điều tốt "
- Theo cách tở chức này thì mỗi làng sẽ là một nước cộng hòa bé nhỏ, độc
lập trong giới hạn những quyền lợi địa phương. Đó là một tập thể được tở chức
rất chặt chẽ, rất có kỉ luật và rất có trách nhiệm đối với chính quyền cấp trên về
những cá nhân thành viên của nó, những cá nhân mà chính quyền cấp trên có thể
khơng cần biết tới, điều đó rất thuận lợi cho cơng việc của chính quyền.
- Tác động ngồi ý muốn của chính quyền cai trị đối với văn hóa từ thái
độ này lại là sự tạo điều kiện để văn hóa, nhất là văn hóa dân gian của người
Việt được giữ vững. Bởi lẽ, cơ cấu tổ chức làng xã không bị phá vỡ.
- Tuy nhiên việc người Pháp còn bảo lưu chế độ "tự trị" của làng xã, chỉ
kiểm sốt thơng qua bộ máy kỳ hảo ở làng quê. Điều này, một mặt, tạo điều kiện
gìn giữ được nền văn hóa dân gian quý báu của người Việt, nhưng mặt khác, lại
kìm giữ nơng thơn Việt trong mối quan hệ phong kiến tối tăm, cổ hủ, bảo lưu
tình trạng bùn lầy nước đọng ở làng quê.
- Trong lĩnh vực giáo dục: Ban đầu người Pháp duy trì Nho học với chế
độ khoa cử đã lỗi thời nhằm lợi dụng Nho giáo để duy trì trật tự xã hội. Việc này
kéo dài mãi đến dầu thế kỉ XX, ở Trung Kì năm 1918, ở Bắc Kì mới bãi bỏ chế
độ thi cử bằng chữ Hán. Tuy nhiên, để có cơng chức cho chính quyền thuộc địa,
thực dân Pháp vẫn phải mở các cơ sở đào tạo loại này. Năm 1897, chúng mở
trường Hậu bổ ở Hà Nội, cải tổ trường Quốc Tử Giám ở Huế, mở trường Sư
6
phạm sơ cấp ở Hà Nội. Đồng thời, đối phó với các phong trào yêu nước như
Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, Duy Tân, người Pháp cùng với Nam triều
thành lập bộ Học, sửa đổi quy chế thi Hương và Thi Hội. Năm 1908, viên tồn
quyền Klơbuycốpxki vẫn bắt đóng cửa trường đại học cho đến năm 1917, viên
toàn quyền Anbe Xarô mới cho mở cửa trở lại. Tuy là trường đại học nhưng các
văn bằng của trưịng này khơng có sự tương đương với văn bằng ở chính quốc.
- Ngồi các trường học, người Pháp cịn mở một số cơ sở nghiên cứu khoa
học như Viện vi trùng học ở Sài Gòn (1891), Nha Trang (1896), Hà Nội (1900),
trường Viễn Đơng Bác Cở (1898) v.v…
- Mục đích giáo dục của chính quyền thuộc địa khơng hồn tồn là vì nâng
cao dân trí cho người dân thuộc địa, mà chủ yếu nhắm đào tạo ra một đội ngũ
công chức, để phục vụ cho nhà nước bảo hộ. Một tầng lớp trí thức mới xuất hiện
sẽ thay thế địa vị của lớp Nho sĩ cũ trong xã hội, trên văn đàn.
- Đồng thời, nếu như trong suốt hơn hai thế kỉ cho đến năm 60 của thế kỉ
XIX, chữ Quốc ngữ chỉ dùng trong nội bộ đạo Thiên chúa, để in các sách đạo,
thì sau khi chiếm được Nam Kì, người Pháp đã nhìn thấy chữ Quốc ngữ là cơng
cụ thuận lợi cho việc cai trị và đồng hóa văn hóa, vì thế, họ khuyến khích học
chữ Quốc ngữ. Trong trường học ở Nam kì, chữ Quốc ngữ được dạy trong các
trường học, trong các công văn giấy tờ bên cạnh chữ Nho. Như vậy là, ban đầu,
đi từ thứ chữ dùng trong nội bộ đạo Thiên chúa tới chỗ phổ cập, chữ Quốc ngữ
được truyền bá bằng phương pháp cưỡng chế.
- Mặt khác, để thơng báo các chính sách thực dân, và ca ngợi cơng ơn khai
hóa, truyền bá văn minh Đại Pháp, thực dân Pháp cho báo chí phát triển ở Nam
Kì sau rộng ra trên cả đất nước.
- Tựu trung, chính sách về phương diện văn hóa của người Pháp nhằm
phục vụ cho sự cai trị và các cơng cuộc khai thác thuộc địa của chính quốc. Nằm
ngồi ý định của kẻ đi xâm lược, tác động của những chính sách này đối với
diễn trình văn hóa Việt Nam giai đoạn này khơng phải là khơng có.
7
Chương II. Tác động của văn hoá Pháp đối với sự chuyển biến
văn hoá văn hoáViệt Nam giai đoạn 1858 – 1945.
1. Sự chuyển biến về văn hoá vật chất .
Ngay từ đầu, mục đích của người Pháp là khai thác thuộc địa, và cũng
ngay từ đầu Pháp triến khai phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông là nhằm
phục vụ mục đích đó. Tuy nhiên bên cạnh đó đồng thời việc xây dựng các kết
cấu hạ tầng vật chất đã tạo điều kiện cho văn hóa Việt nam có những sự chuyển
biến nhất định.
1.1 Sự chuyển biến trong lĩnh vực đô thị.
- Từ cuối thế kỷ XIX, đô thị Việt Nam từ mơ hình cở truyền với chức năng
trung tâm chính trị đã chuyển theo mơ hình đơ thị
công nghiệp – thương nghiệp chú trọng chức năng kinh tế. Nhiều nhà
máy, xí nghiệp hình thành trong các đơ thị , ở đơ thị lớn hình thành một tầng
lớp tư sản dân tộc. Các trường trung học và đại học cũng ra đời trong các đô
thị, nhiều đô thị và thị trấn nhỏ cũng dần dần phát triển.
- Sự phá t triển các đô thị dẫn đến sự phát triển của kiến trúc đô thị. Các
kiến trúc kiểu Tây phương được đưa vào Việt Nam, nhưng được Việt Nam hố
khiến các cơng trình này khơng lạc điệu giữa những cơng trình kiến trúc cở
truyền. Chẳng hạn tồ nhà của trường đại học Đông dương (nay là trường Đại
học Quốc gia Hà Nội), Viện Viễn Đông Bác cổ (nay là Viện bảo tàng lịch sử),
Bộ ngoại giao, Phủ toàn quyền, Thư viện Quốc gia…ở Hà Nội. Hệ thống mái
ngói, bố cục kiểu tam quan, mái hiên, mái che cửa sổ ra xa để tránh ánh nắng
chiếu và mưa hắt khiến các cơng trình này ăn nhập với mơi trường xung quanh.
Ở thành phố Sài Gịn, tồ Đơ Chánh (nay là Uỷ ban nhân dân thành phố) được
xây từ năm 1898, dù đặt viên đá đầu từ năm 1873, đến năm 1909 mới hồn
thành. Các cơng trình kiến trúc đơ thị Sài Gịn chia thành hai giai đoạn: giai
đoạn bình định bằng bạo lực, kiến trúc được “bê nguyên xi nghệ thuật địa
phương mà họ khinh miệt”. Nhưng ở giai đoạn sau “các cơng trình kiến trúc,
văn hố, xã hội đã chú ý hơn đến yếu tố địa lí, khí hậu và nghệ thuật địa phương.
- Xuất hiện các kiến trúc đơ thị kết hợp khá tài tình phong cách phương
Tây với tính cách dân tộc, phù hợp với điều kiện thiên nhiên Việt Nam, chẳng
hạn các toà nhà của Trường Đại học Đông Dương, Bộ Ngoại giao, Trường Viễn
8
Đơng... Đã sử dụng hệ thống mái ngói, bố cục kiểu tam quan, lầu hình bát giác
làm nởi bật tính dân tộc. Ở thành phố Sài Gịn, tồ Đơ Chánh (nay là trụ sở uỷ
ban nhân dân thành phố) , được xây dựng từ năm 1898, Toà án được xây từ năm
1873…
- Các cơng trình kiến trúc đơ thị Sài Gịn được chia làm hai giai đoạn: giai
đoạn bình định bằng bạo lực, kiến trúc được bê nguyên xi nghệ thuật địa phương
mà họ khinh miệt . Nhưng ở giai đoạn sau các cơng trình kiến trúc, văn hố, xã
hội đã chú ý hơn đến yếu tố địa lý, khí hậu và nghệ thuật địa phương.
- Kiến trúc Pháp đã mang đến vẻ đẹp không chỉ thẩm mỹ Pháp mà còn
mang dáng dấp Việt Nam. Sự chuẩn mực chi tiết vẻ đẹp tởng thể đã góp phần
thay đởi nhận thức thẩm mỹ. Cư dân đô thị được tiếp nhận phong cách văn hóa
cao hơn. Vậy là bên cạnh những quan niệm thẩm mỹ truyền thống có sự đan xen
nhất định thẩm mỹ hiện đại.
1.2. Sự chuyển biến trong lĩnh vực công nghiệp và giao thông vận tải.
* Về công nghiệp:
- Xuất hiện các loại cây cơng nghiệp từ nước ngồi mang vào như cao su,
cà phê... phát triển một số cây cơng nghiệp trong nước đay, cói, chè...
- Nhiều ngành công nghiệp khác nhau ra đời như khai mỏ, chế biến nông
lâm sản, công nghiệp thực phẩm... làm cho bộ mặt kinh tế Việt Nam trước đây
chủ yếu là nông nghiệp thì bây giờ có thêm các ngành khác.
- Điều đó làm cho truyền thống văn hóa lâu đời của dân Việt Nam là nông
nghiệp trồng luá nước, đến nay xuất hiện lối tư duy và văn hóa ứng xử mới thích
nghi với nền cơng nghiệp xuất hiện, đem lại sự nhận thức văn hóa mới cho
người Việt Nam. Xã hội với cấu trúc tứ dân (Nơng cơng thương trí) đã có những
đởi thay. Cơng và thương phát triển nhanh hơn làm xuất hiện giai cấp công nhân
và lực lượng trí thức tiến bộ.
* Về giao thơng vận tải:
- Hàng chục vạn dân đinh đã được huy động xây dựng hệ thống đường
bộ, đường sắt, sân bay, bến cảng... Những con đường xuyên rừng núi, đến các
đồn điền hầm mỏ. Tồn bộ Đơng Dương khơng nơi nào khơng có đường giao
thơng nếu ở đó có những tài ngun q giá. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất đã tạo ra những con đường liên tỉnh dài tới 20 ngàn Km. Đường thuỷ, nhất
là ở Nam bộ được tu bổ, khai thông tới năm 1914 tổng số độ dài đường thuỷ đã
9
tới 1.745 Km. Hệ thống đường sắt hoàn thành với chiều dài 2059 Km được đưa
vào sử dụng vào năm 1936. Những phương tiện giao thông hiện đại đang từng
bước thay thế các phương tiện giao thông truyền thống của Việt Nam. Nhiều
chiếc cầu sắt hiện đại, rất dài cũng được bắc qua những con sông lớn ở nước ta
(Cầu Long Biên).
- Hệ thống đường sá, giao thông và kiến trúc đơ thị phát triển tạo cho diện
mạo văn hố vật chất giai đoạn này có những nét mới và khác biệt hẳn so với
các giai đoạn trước đó.
2. Sự chuyển biến về văn hoá tinh thần.
2.1. Sự chuyển biến về giáo dục.
- Trước khi tiếp xúc với phương Tây Việt Nam chỉ có một chế độ giáo dục:
học chữ Hán để đi thi. Nó phở biến tồn quốc rất chặt chẽ ở chế độ thi cử, nhưng
hết sức lỏng lẻo về tổ chức. Những ông đồ, thường là học trị thi khơng đỗ đạt,
dạy ở những nhà có máu mặt, trước hết là dạy con cháu gia chủ rồi một số học
sinh trong làng. Cách học là học thuộc lòng, rồi tập làm câu đối, làm văn làm
bài. Ở phủ, huyện có huấn đạo, ở tỉnh có đốc học để tở chức những kỳ thi tập
dượt. Sau đó là thi.
- Ban đầu người Pháp bảo lưu chế độ giáo dục và thi cử theo Nho Giáo vì
nghĩ rằng, với mục đích trị bình, Nho Giáo sẽ giúp xã hội Việt Nam ổn định trở
lại.
- Nhưng chẳng bao lâu sau, trước nhu cầu cần viên chức hành chính, thơng
ngơn, thư ký cho các cơ quan, xí nghiệp, cơng ty..., họ đã bãi bỏ chế độ khoa cử
và xây dựng hệ thống giáo dục theo kiểu phương Tây: từ tiểu học, trung học tới
đại học.
- Để đào tạo người làm việc cho mình, thực dân pháp đã bc học trị học
tiếng Pháp, bắt theo hệ thống giáo dục kiểu phương Tây. Năm 1898, chương
trình thi Hương có thêm hai mơn Quốc ngữ và Pháp văn. Năm 1906 lập ra Nha
Học chính Đông Dương và định ra ba bậc học cơ sở là ấu học, tiểu học và
trung học. Trong những năm này, nhà cầm quyền lập ra môt số trường Cao đẳng
và đến năm 1908 thì mở ra trường Đại học Đông Dương. Hệ thống Nho học
tàn lụi dần . Đến năm 1915 ở Bắc kỳ và 1918 ở Trung kỳ việc thi Hương bị bãi
bỏ, chấm dứt nền Nho học Việt Nam.
10
- Mặc dù giáo dục đào tạo chủ yếu đào tạo ra những người phục vụ cho chế
độ thực dân và nhằm mục đích khai thác thuộc địa nhưng bên cạnh đó ý nghĩa
phái sinh cũng dần được lập trật tự mới. Người Việt Nam giàu có bắt đầu cho
con em du học tại Pháp. Khi trí tuệ được khai mở thì văn hóa cũng được phát
triển hơn nhờ các cuộc giao lưu.
- Hệ thống giaó dục mới cùng với sách vở
phương Tây đã góp phần giúp người Việt Nam mở rộng tầm mắt, tiếp xúc với
các tư tưởng dân chủ tư sản, rồi sau là tưởng Mácxít . Truyền thống đạo học
cùng với lối tư duy tổng hợp nay được bở sung thêm kiểu tư duy phân tích. Nó
được rèn luyện qua báo chí, giáo dục và những hoạt động của những cơ quan
như Trường Viễn Đông Pháp ( thành lập 1901 tại Hà Nội )
- Ngoài ra, người Pháp còn mở một số cơ sở nghiên cứu khoa học như Viện
Pasteur ỏ Sài Gòn (1891), Viện Hải Dương học (tục gọi là Nhà Cá) ở Nha Trang
(1896), Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội (1898)... Viện vi trùng học ( thành
lập ở Sào Gòn 1891, Nha Trang 1896 , Hà Nội 1902 ) Nền khoa học hiện đại
manh nha từ thời thưộc Pháp này đến khi giao lưu với liên Xô và hệ thống các
nước Xã hội chủ nghĩa đã trở nên thực sự vững mạnh và phát triển.
2.2. Sự chuyển biến về văn tự và ngôn ngữ
- Khi truyền đạo sang Việt Nam, khó khăn đầu tiên mà các giáo sĩ
mắc phải là sự khác biệt về ngôn ngữ và văn tự . Bởi vậy, họ đã dùng bộ
chữ cái La tinh thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt, tạo nên chữ
Quốc ngữ. chữ Quốc ngữ là thành quả tập thể của nhiều giáo sĩ Bồ Đào
Nha, Ý, Pháp và những người Việt Nam đã giúp họ học tiếng Việt. Song
công lao lớn nhất thuộc về linh mục Alexandre de Rhodes(1591-1660 ) ,
ngưòi đã kế thừa các cơng trình của Gaspar d’Amaral và Antonio
Barbosa, biên soạn và xuất bản ơ Roma vào năm 1651 cuốn từ điển
Annam – Lusian- Latin (thường gọi là từ điển Việt – Bồ – La) và cuốn
Phép giảng tám ngày in song ngữ Latin – Việt.
- Tuy chữ Quốc ngữ ban đầu chỉ là công cụ truyền đạo của các giáo
sĩ, nhưng do có ưu điểm là dễ học , nên được các nhà Nho tiến bộ tích
11
cực truyền bá để phổ cập giáo dục và nâng cao dân trí( hội truyền bá chữ
quốc ngữ) .
- Sự tiếp xúc với phương Tây cũng khiến cho tiếng Việt có biến
động mạnh: hàng loạt từ ngữ được vay mượn để diễn tả những khái
niệm mới đã đi vào đời sống thường ngày như xà phịng / xà bơng
( savon ) kem ( crème ) ga ( gaz )... Có những hiện tượng ngữ pháp vốn
đặc thù cho các ngôn ngữ phương Tây( như thể bị động , kiến trúc danh
từ…) ở những mức độ nhất định cũng đã du nhập vào tiếng Việt, làm
phong phú ngôn ngữ dân tộc.
- Chính sự phát triển của báo chí đã thúc đẩy sự phát triển của tiếng
Việt, khiến nó trở nên hồn thiện hơn về ngữ pháp, được bổ sung thêm
những từ mới, nhất là những thuật ngữ khoa học, biến tiếng Việt thành
một ngôn ngữ hiện đại vừa mềm dẻo, tinh tế để có thể diễn tả được mọi
sắc thái tình cảm tinh vi của nội tâm con người, vừa đủ sáng sủa, khúc
chiết để diễn đạt một cách logic những vấn đề khoa học, triết học
2.3. Báo chí ra đời.
- Chữ quốc ngữ ra đời cũng thúc đẩy sự phát triển của báo chí. Khởi
điểm để báo chí ra đời ở Việt Nam là từ ý đồ của thực dân Pháp cần có
một thứ vũ khí nhằm tun truyền cho chính quyền thuộc địa. Do vậy, báo
chí ra đời ở Sài Gòn trước tiên. Lúc đầu là tờ báo bằng tiếng Pháp Le
Bulletin officiel de (Expédition de la Cocinchine và tờ Le Bulletin des
commune bằng chữ Hán). Ngày 15-4-1865, tờ Gia Định báo ra đời. Sau tờ
Gia Định báo là tờ Phan n báo. Năm 1888, tờ Thơng loại khóa trình của
Trương Vĩnh Ký được phát hành. Năm 1901, tờ báo thứ ba bằng chữ
Quốc ngữ ra mắt bạn đọc là tờ Nơng cở mím đàm. Sau đó tờ Lục tỉnh tân
văn ra mắt bạn đọc thế giới, ở Sài Gịn. Báo chí ra đời rất nhiều như Nữ
giới chung, Phụ nữ tân văn, Đuốc nhà Nam v.v…
- Ở Hà Nội, có các bào bằng chữ Quốc ngữ như Đăng cổ tùng báo,
Hữu Thanh, Thực nghiệp dân báo, Nam phong, Trung Bắc tân văn v.v…
12
Nói chung, những tờ báo bằng chữ Quốc ngữ ở cả ba miền trong thời
kì này, dù vơ tình hay hữu ý đều góp phần vào sự phát triển văn học chữ
Quốc ngữ.
- Ngoài những tờ bào bằng chữ Quốc ngữ, một thế kỉ này ở cả ba đô thị:
Hà Nội, Huế, S Gịn đều có những tờ báo bằng chữ Pháp nhằm phục vụ chính
quyền đó, nhưng cũng có thể có những tờ báo tiến bộ chẳng hạn tờ L’Annam, tờ
La Cloche fêlée (Chng rè) ở sài Gịn, tờ Notre voix (Tiếng nói của chúng ta),
tờ Le Travail (Lao động), tờ Rassemblement (Tập hợp), Enavant (Tiến lên) ở Hà
Nội trong thời kì 1936-1939.
- Trong giai đoạn từ năm 1858 đến năm 1945, việc dùng chữ Quốc ngữ để
làm báo đã là bước đột biến của diễn trình văn hóa. Nhìn ở phương diện ngơn
ngữ văn tự, đấy là một bước đột biến. Nhìn ở phương diện lịch sử báo chí, đây
cũng là một bước đột biến.
2.4.Sự chuyển biến trong văn học, nghệ thuật, hội họa.
- Sau khi đã phát triển tới đỉnh cao rực rỡ ở thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ
XIX, văn học ở nửa sau thế kỉ XIX, đi vào cuộc kháng chiến chống Pháp xâm
lược. Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu là người chiến sĩ tiên phong trên
mặt trận này. Cùng với ông là một thế hệ các nhà văn thơ yêu nước như Phan
Văn Trị, Hồ Huân Nghiệp, Đoàn Hữu Trưng, Phạm Văn Nghị… Sau đó là thế hệ
Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương v.v…
- Sau thế hệ này là thế hệ các nhà Nho như Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền v.v… về phương diện chính trị lúc này là
một thứ vũ khí của quần chúng để chống kẻ thù cướp nước, cổ động cho sự tiến
bộ xã hội. Do tác động khách quan, văn học giai đaọn này đã có bước phát triển
nhanh chóng cả về hình thức và nội dung.
- Trước hết là sử dụng chữ Quốc ngữ để sáng tác văn học. Với việc phổ
biến chữ Quốc ngữ, mảng văn học bằng chữ Quốc ngữ đã phá triển. Ban đầu,
chữ Quốc ngữ được dùng để phiên âm các sách chữ Nôm, chữ Hán, chữ Pháp.
Hàng loạt các tác phẩm chữ Hán như Đại học, Kinh thi, Minh tâm bảo giám
v.v…, các truyện thơ Nôm như Truyện Kiều, Nhị Độ Mai, Lục Vân Tiên v.v…,
các truyện dân gian, câu hò, câu hát, được ra mắt bạn đọc bằng chữ Quốc ngữ ở
Nam Bộ. Không thể không ghi cơng đầu cho một số trí thức ở Nam Bộ cuối thế
13
kỉ XIX như Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của, Trần Phong Sắc, Phụng Hoàng
Sang, Bùi Quang Nho, Khẩu Võ Nghi v.v… trong lĩnh vực này.
- Mặt khác là sự phát triển của những sáng tác bằng chữ Quốc ngữ, như kí
sự là thể loại sớm ra đời với tác phẩm Chuyến đi Bắc Kì năm At Hợi (1876) của
Trương Vĩnh Kí; tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ cũng ra đời ở Nam Bộ sớm
nhất. Đầu tiên phải kể tới Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản,
nếu coi đây là một truyện dài, một tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ thì nó đã ra
mắt bạn đọc từ năm 1887. Sau đó là Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân của
Trương Duy Toản ra mắt bạn đọc vào năm 1910. Cũng năm này Trần Chánh
Chiếu có tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ Hoàng Tố Anh hàm oan. Thập niên hai
mươi của thế kỉ XX, tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ có khá nhiều tác giả: Phạm
Duy Tốn với truyện ngắn Sống chết mặc bay (1918). Đó là Tân Dân Tử với Giọt
máu chung tình (1926), và Lê Hồng Mưu với Hà Hương phong nguyệt (1915),
Oán hồng quần (1920), Tô Huệ Nhi ngoại sử (1920), Oan kia theo mãi (1922),
Cay đắng mùi đời (1923), Tỉnh mộng (1923), Nhơn tình ấm lạnh (1925). Những
tác giả này ở Sài Gịn, trong khi đó, ở Hà Nội, Nguyễn Trọng Thuật có Quả dưa
đỏ (1925), Hồng Ngọc Phách có Tố Tâm (1925).
- Vào thập niên ba mươi, bốn mươi, văn xuôi bằng chữ Quốc ngữ đã có
một bước tiến bộ vượt bậc. Nhóm Tự lực văn đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng,
Hoàng Đạo v.v…, đã cho ra mắt bạn đọc một loạt tác phẩm như Nửa chừng
xuân, Đoạn tuyệt, Bướm trắng v.v… Bên cạnh nhóm Tự lực văn đoàn là các nhà
văn hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố với Tắt đèn, Nam Cao với Chí phèo, Vũ
Trọng Phụng với Giơng tố, Số đỏ v.v… Sự trong sáng của tiếng Việt trong các
tác phẩm này là bước tiến của văn xuôi bằng chữ Quốc ngữ. Cùng với kí, tiểu
thuyết là thơ. Phong trào thơ mới xuất hiện với một loạt tên tuổi như Thế Lữ,
Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v…, khẳng định sự chuyển
mình của văn học Việt Nam theo hướng hiện đại, sự thay thế vẻ vang của văn
học bằng chữ Quốc ngữ trong đời sống văn hóa.
- Mặt khác, sự chuyển mình của văn học Việt Nam giai đoạn này khơng
chỉ ở phương diện hình thức. Cái tơi cá nhân, sự ý thức về cá nhân, tình u lứa
đơi xuất hiện trong các tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn, trong các tập thơ
14
của các nhà thơ mới là một hiện tượng mới trong văn hóa Việt Nam. Chưa bao
giờ tiếng nói từ hạnh phúc cá nhân lại cháy bỏng như vậy trong văn học Việt
Nam: “Mau lên chứ. Vội vàng lên với chứ - Em, em ơi tình non sắp già rồi”.
- Tuy nhiên, nhìn ở phương diện cơng dân,sáng tạo của nhóm Tự lực văn
đồn, của phong trào thơ mới, quả có ý nghĩa như đồng chí Trường Chinh nhận
định: “một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa”.
- Cùng với những tác giả, tác phẩm này, sự xuất hiện của hệ tư tưởng Mác
xít trong đời sống văn hóa đã dẫn tới sự xuất hiện của bộ phận các tác giả cách
mạng. Thời kì từ 1931-1935 là cuộc đầu tranh giữa quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin và các quan điểm đối lập. Trên tờ Phụ nữ thời đàm, đồng chí Hải
Triều đã viết nhiều bài về nguyên lí, quan điểm của chủ nghĩa Duy vật. Chính vì
vậy, bản Đề cương có ý nghĩa như một cương lĩnh văn hóa dân chủ mới. Về
sáng tác, thơ Tố Hữu và đáng kể hơn cả là các sáng tác của Chủ tịch Hồ Chí
Minh là tiếng nói tiêu biểu cho dịng văn học cách mạng này.
- Rõ ràng, non một trăm năm, văn học Việt Nam đã có bước chuyển biến
quan trọng đi từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại.
- Văn hóa Việt Nam thời này còn thể hiện trong nghệ thuật hội hoa, xuất
hiện những thể loại vay mượn từ phương Tây như tranh sơn dầu , tranh bột màu
với bút pháp tả thực, đánh dấu sự ra đời của một thế hệ họa sỹ tài hoa lừng danh
cho nước ta như Tô Ngọc Vân Trần Văn Cẩn Bùi Xuân Phái Dương Bích Liên…
Họ là những sinh viên Việt Nam đầu tiên được đào tạo tại Trường Cao đẳng Mỹ
thuật Đông dương do người Pháp sáng lập. Những tên tuổi này cho đến hiện nay
gần như chưa có ai vượt qua..
- Bút pháp tả thực của phương Tây còn xuất hiện ngay cả trên sân khấu
với thể loại kịch nói và tác động tới sự ra đờ của nghệ thuật cải lương . Nghệ
thuật thanh sắc tổng hợp cổ truyền bắt đầu phân hố thành hàng loạt bộ mơn như
ca, m, nhạc, kịch…
2.5.Sự chuyển biến về hệ tư tưởng.
- Là tấm gương phản chiếu nhiều mặt đời sống và nếp sống của cộng đồng
một dân tộc, ở trung tâm của văn hoá, hệ tư tưởng cũng được xem như là một
hệ văn hoá. Sự tiếp xúc, giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và phương Tây tạo ra
sự chuyển mình của hệ tư tưởng Việt Nam từ 1858-1945 diễn ra trong một thời
15
kì đầy biến động về tư tưởng và chính trị. Gần một trăm năm ở Việt Nam xuất
hiện và tồn tại nhiều hệ tư tưởng khác nhau , tác đông lẫn nhau, hoà hợp lẫn
nhau, tự biến dạng do khúc xạ qua môi trường xã hội… tạo nên một trường
tư tưởng rất phức tạp.
- Trên mặt bằng lịch sử, các hệ tưởng vào Việt Nam từ hàng nghìn năm
trước vẫn tồn tại ở xã hội mà căn bản vẫn là xóm làng với những người nơng
dân trồng lúa nước. Dù có biết bao biến động, trầm luân trên bề mặt lịch sử thì
hệ tư tưởng của họ vẫn là hệ tư tưỏng thần thoại với một hệ thống thần linh đa
dạng .
- Nho giáo tồn tại như một hệ tư tưởng vì có vị trí đặc biệt ở nhà hậu Lê,
nhà Nguyễn, bây giờ không giúp các Nho sĩ trả lời được câu hỏi lớn của thời
đại. Những phong trào Văn thân, Cần vương dưới ánh sáng của tư tưỏng Nho
giáo khơng giúp các Nho sĩ tìm được con đường cứu nước, yêu nước chống
Pháp kiểu nầy là bảo thủ, nên đã thất bại. Các Nho sĩ thế hệ sau với tấm lịng
u nước của mình đã tở chức cuộc vận động giải phóng dân tộc theo một hệ tư
tưởng khác. Trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản qua tân thư và tân văn Trung Quốc
như Am băng thất, Trung Quốc hồn, Mậu Tuất chính biến,Tân dân tuỳ báo…
của Lương Khãi Siêu, Khang Hữu Vi, các thuyết về nhân đạo, dân quyền của
những nhà phát ngôn của giai cấp tư sản Pháp lúc đang lên như Rousseau,
Montesquiseu,Vonte… được đi vào Vệt Nam. Tự cảnh tỉnh để đởi mới, tìm một
con đưòng đi khác, các nhà Nho đã từ biệt hệ tư tưởng quen thuộc của bao
nhiêu thế hệ trưóc. Phan Bội Châu (1867-1940 ) là một nhân chứng tiêu biểu
với Duy tân hội, ơng cịn giử tư tưởng qn chủ, với Việt Nam Quang phục hội
ông đã chuyển sang tư tưởng dân chủ. Sau khi gặp gỡ Nguyễn Ai Quốc và ở
cuối đời ơng cịn viết sách về Chủ nghĩa xã hội . Đi từ hình mẫu này sang hình
mẫu khác, ước nguyện duy nhất của Phan Bội Châu vẫn chỉ là giành lại quyền
độc lập dân tộc .
- Vượt ra ngoài ý đồ của bọn thực dân, sự áp đặt thô bạo của chúng dẫn
đến hậu quả ngược lại là khích lệ tinh thần dân tộc, lịng u nước và chống
Pháp . Xuất hiện Nguyễn Trường Tộ với những bản điều trần, Phan Chu Trinh
với phong trào Duy Tân...
16
- Từ tấm lòng yêu nước, nhà các mạng Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ
nghĩa Mác -Lênin rồi truyền bá vào Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam
ngày càng phát triển và ngày càng giác ngộ về mình. Phong trào đấu tranh của
giai cấp công nhân ngày càng lan rộng và có tở chức, ba tở chức cộng sản ra đời
ở Bắc kỳ, Trung kỳ rồi Nam kỳ, đến ngày 6/1/1930 Nguyễn Ai Quốc chủ trì hội
nghị hiệp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất. Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước ngoặc vô cùng quan trọng trong
lich sử cách mạng nước ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vơ sản đã trưởng thành và
đủ sức lãnh đạo cách mạng, đồng thời nó cũng khẵng định sự hiện diện của
một hệ tư tưởng mới ở Việt Nam, hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mac-Lênin, trở
thành hệ tư tưởng dẫn dắt ngọn cờ đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc của
nhân dân ta.
- Chúng ta cũng cần phải thấy rằng bên cạnh những tiến bộ thì ảnh hưởng
tiêu cực từ văn hóa Pháp tới văn hóa Việt Nam cũng rất lớn. Chính sách văn hóa
nơ dịch thực dân chính sách mỵ dân các học thuyết tư sản và duy tâm cũng ảnh
hưởng nặng nề. Ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt nhất là dưới ách cai trị của thực dân
pháp con người Việt Nam bị tha hóa nhanh chóng. Vì mục đích phục vụ chính
sách cai trị vơ vét tài nguyên của cải của nước ta nhân dân ta bị cai trị bị bóc lột
nặng nề.
- Giáo dục Pháp mục đích chủ yếu đào tạo người làm việc cho thực dân
cam phận làm tay sai. Trường học của chúng lập ra chỉ để đào tạo thanh niên
Việt Nam trở thành tay sai phục vụ cho quá trình cai trị của chúng (chứ không
phải để cho dân ta mở mang kiến thức). Ngôn ngữ dùng trong giảng dạy chủ yếu
bằng tiếng Pháp, tiếng Việt được học như một ngoại ngữ. Dạy lịch sử Pháp,
truyền thống Pháp nhưng lịch sử Việt Nam thì khơng dạy.
- Mặt khác, chúng ngăn chặn văn hóa tiến bộ du nhập vào Việt Nam (kể cả
văn hóa tiến bộ Pháp), nhưng lại cho du nhập văn hóa đồi trụy và khuyến khích
mê tín dị đoan. Chúng dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc người Việt
Nam, làm suy yếu dân tộc ta, làm cho dân ta quên đi mối thù cướp nước.
17
- Hệ quả của những chính sách của thực dân Pháp trên mặt văn hóa – xã
hội là làm cho dân ta ngày càng mê muội, ngu dốt, đồi trụy, có trên 90% dân số
mù chữ.
18
KẾT LUẬN
- Lịch sử dân tộc cho thấy, tiến trình văn hoá Việt Nam, cho đến nay, đã
trải qua nhiều biến động, nhưng do những hồn cảnh địa lí, khí hậu và lịch sử
xã hội riêng nên dù biến động tới đâu, nó vẫn mang trong mình những nét bản
sắc không thể trộn lẫn được với một đặc trưng riêng biệt, là sự kết hợp giữa văn
hóa bản địa kết hợp với sự tiếp thu văn hóa trung Hoa và sự giao lưu với văn
hoá phương Tây
- Giai đoạn từ 1858 đến 1945 là giai đoạn giao lưu, tiếp biến văn hoá Việt
Nam với phương Tây mà trước hết là văn hóa Pháp, là sự tiếp thu các yếu tố văn
hóa ngoại sinh, từ đó nền văn hố Việt Nam có những biến chuyển sâu sắc, bản
sắc văn hố dân tộc không những không bị mất đi, không bị thay đởi, mà cịn
phát triển tiếp nối mạch với các thời kì trước và mang trong mình một tầm vóc
mới, mang tính rộng mở, phong phú đa dạng và hiện đại hơn.
- Ngày nay trong thời đại hội nhập và mở rộng giao lưu văn hóa thế giới,
việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống, vun trồng những giá trị nội
sinh của dân tộc, tạo cơ sở vững chắc để tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại
và thời đại ngày nay đang là yêu cầu khách quan trong q trình xây dựng nền
văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam. Điều đó địi hỏi Đảng, Nhà
nước, các đồn thể nhân dân phải tiếp tục quan tâm để xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thừa Hỷ (2012),Văn hóa Việt Nam truyền thống - Một góc nhìn,
Nhà xuất bản Thơng tin và Truyền thông Hà nội.
2. Đỗ quang Hưng (cb), Trần Viết Nghĩa, Tính hiện đại và sự chuyển biến
của văn hóa Việt Nam thời cận đại
3. Nguyễn Quang Ngọc (2002), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản
Giáo dục Hà Nội.
4. Ngô Minh Oanh,( 2005), Tiếp xúc và giao lưu văn minh trong lịch sử
nhân loại,Nhà xuất bản giáo dục
5. Trần Ngọc Thêm,( 2000), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo
dục.
6. Lương Duy Thứ(cb), Đại cương văn hóa phương Đơng,Nhà xuất bản
Giáo dục.
7. Nguyễn Đình Thành, Việt Nam tiếp thu văn hóa Phương Tây dưới thời
Pháp thuộc.
8. Trần Quốc Vượng (cb),(2004), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nhà xuất bản
Giáo dục.
20