Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

SKKN: Một số biện pháp dạy và học nhằm nâng cao vốn từ vựng Tiếng Anh cơ bản cho học sinh yếu kém lớp 10 trường THPT Trần Hưng Đạo

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (225.28 KB, 23 trang )

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lời giới thiệu

3

1.1. Lý do chọn đề tài

3

1.2. Mục tiêu của đề tài

3

2. Tên sáng kiến

3

3. Tác giả sáng kiến

3

4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến

4

5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến



4

6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu

4

7. Mô tả bản chất của sáng kiến

4

Phần I: NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
I. Lý luận chung về từ vựng

4

I.1. Định nghĩa về từ vựng

4

I.2. Tầm quan trọng của từ vựng

4

I.3. Các loại từ vựng

5

Chương II: CƠ SỞ THỰC TIỄN

II.1. Về giáo viên

6-7

II.2. Về học sinh

7-8

Chương III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY VÀ HỌC NHẰM
NÂNG CAO VỐN TỪ VỰNG TIẾNG ANH CHO HỌC SINH
LỚP 10 TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG ĐẠO

9

III.1. Đối với giáo viên:

9

1. Sử dụng các phương tiện trợ giảng( Visual aids)

9-15

2. Dạy từ dựa vào văn cảnh

15-16

III.2. Đối với học sinh:

16-18


Chương IV: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Kết quả của đề tài

19

Chương V: PHỤ LỤC( Tổng hợp phiếu điều tra học sinh)

20

8. Những thông tin cần bảo mật(nếu có)

21

9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến

21
1


10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến

21-22

11. Danh sách những tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoạc
áp dụng sáng kiến lần đầu.

22

Tài liệu tham khảo


23

2


PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lời giới thiệu
1.1. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ quốc tế, được sử dụng
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để làm chủ được ngôn ngữ này người
học cần phải có vốn từ vựng phong phú và đa dạng. Do đó , xây dựng vốn từ
vựng cơ bản cho học sinh nói chung và đặc biệt học sinh yếu kém nói riêng luôn
là một nhu cầu thiết yếu đối với công tác dạy và học tiếng Anh ở trường phổ
thông. Tuy nhiên trên thực tế, vốn từ vựng tiếng Anh của học sinh trung học phổ
thông vẫn còn nghèo nàn, chưa đáp ứng được yêu cầu của bậc học. Nhiều học
sinh không có được vốn từ vựng cơ bản nhất sau nhiều năm học Tiếng Anh ở
bậc tiểu học và trung học cơ sở. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng
này, trong đó nguyên nhân chủ yếu là giáo viên và học sinh chưa có phương
pháp dạy và học thích hợp. Bởi vậy tôi đã chọn đề tài này với mong muốn tìm
tòi, nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp nhằm góp phần giúp cho giáo viên
giảng dạy từ vựng một cách hiệu quả nhất; đồng thời giúp cho học sinh lớp 10,
đặc biệt là học sinh yếu kém có thể tích lũy cho bản thân vốn từ vựng cơ bản,
đáp ứng yêu cầu của bậc học. Nếu đề tài thành công sẽ không chỉ là cơ sở cho
giáo viên dạy tốt hơn mà còn giúp cho học sinh sử dụng vốn từ vựng có hiệu quả
hơn.
1.2. Mục tiêu của đề tài:
1.2.1. Khảo sát và đánh giá thực trạng dạy và học từ vựng tiếng Anh lớp 10 ở
trường THPT Trần Hưng Đạo huyện Tam Dương.
1.2.2. Đề xuất một số biện pháp dạy và học giúp nâng cao vốn từ vựng tiếng

Anh cơ bản cho học sinh lớp 10 THPT, đặc biệt là học sinh yếu kém.
2. Tên sáng kiến: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY VÀ HỌC NHẰM NÂNG CAO VỐN TỪ
VỰNG TIẾNG ANH CƠ BẢN CHO HỌC SINH YẾU- KÉM LỚP 10 TRƯỜNG THPT
TRẦN HƯNG ĐẠO

3. Tên tác giả:
- Đào Thị Hường – giáo viên Tiếng Anh- Trường THPT Trần Hưng Đạo
3


4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
- Đào Thị Hường – giáo viên Tiếng Anh- Trường THPT Trần Hưng Đạo
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Anh- lớp 10
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 11/ 2019
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
Phần I. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỪ VỰNG:
I.1. Định nghĩa về từ vựng:
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ vựng. Mỗi nhà ngôn ngữ học lại
đưa ra một định nghĩa riêng về từ vựng dựa trên tiêu chí mà họ cho là quan trọng
nhất về mặt ngôn ngữ, ngữ nghĩa, từ vựng. Trong cuốn sách của mình mang tên
“ A Course in Language Teaching” , Penny Ur đã định nghĩa từ vựng là “ những
từ thuộc tiếng nước ngoài mà chúng ta dạy cho người học”. Tuy nhiên, ông cũng
chấp nhận ý kiến rằng “ từ vựng không chỉ là một từ đơn lẻ mà cũng có thể là từ
ghép của hai hay ba từ khác hoặc là những thành ngữ bao gồm nhiều từ”. Pyles
và Algeo đã nói rằng “ Sự thật thì từ vựng là trọng tâm của ngôn ngữ với dạng
âm thanh và ngữ nghĩa của nó, cái mà đan xen với nhau cho phép chúng ta giao
tiếp với người khác”.
Trong cuốn sách “ A Course in TEFL Theory and Practice II”, Nguyễn

Bàng và Nguyễn Bá Ngọc cho rằng “ Từ vựng của một ngôn ngữ là tất cả những
từ đơn, từ ghép, các thành ngữ được sử dụng để chuyển tải và tiếp nhận thông
tin thông qua hình thức nói và viết”.
I.2. Tầm quan trọng của từ vựng:
Từ vựng thường được coi là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của một
ngôn ngữ. Wilkins, một nhà ngôn ngữ học ứng dụng nổi tiếng người Anh đã
nhấn mạnh tầm quan trọng của từ vựng khi nói rằng “ Nếu không có ngữ pháp,
rất ít thông tin được chuyển tải, nhưng nếu không có từ vựng thì chúng ta sẽ
không thể chuyển tải được điều gì”. Pyles và Algeo cũng ủng hộ ý kiến này với
nhận định “ Khi chúng ta đề cập đến ngôn ngữ, điều đầu tiên chúng ta nghĩ đến
4


là từ vựng. Nhờ có từ vựng, chúng ta có thể tạo nên câu, bài hội thoại và các
hình thức giao tiếp khác bằng ngôn ngữ. Từ những ý kiến này, chúng ta có thể
kết luận rằng từ vựng là yếu tố quyết định trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Tất cả những điều này đúng với người học ngoại ngữ. Nếu người học có vốn từ
vựng tiếng Anh phong phú, anh ta có thể làm cho người khác hiểu mình cũng
như hiểu được người khác nói gì một cách dễ dàng. Ngược lại, nếu như vốn từ
vựng của một người nghèo nàn, chắc chắn anh ta sẽ gặp khó khăn trong việc
giao tiếp. Và như vậy, trong việc học tiếng Anh, từ vựng là một yếu tố bắt buộc
phải được xây dựng đối với tất cả những người học ngoại ngữ.
I.3. Các loại từ vựng:
Nhìn chung, từ loại có thể được phân loại bằng nhiều cách: Về mặt ngữ
nghĩa, từ vựng được phân làm hai loại là “những từ biểu đạt ý nghĩa” và “những
từ chức năng”. Phần lớn từ vựng là từ biểu đạt ý nghĩa, chúng gọi tên những đồ
vật, hành động, chất lượng và mang ý nghĩa tự thân. Chúng có thể là danh từ,
tính từ, động từ, trạng từ. Những từ chức năng là những từ chỉ mang ý nghĩa về
mặt ngữ pháp, chúng chỉ có nghĩa khi đi cùng với những từ khác. Chúng là
những quán từ, mạo từ và giới từ. Về mặt ngữ pháp, từ vựng được phân chia

thành danh từ, động từ, tính từ và trạng từ. Tuy nhiên, về mặt học thuật, từ vựng
của người học ngoại ngữ được phân chia thành hai loại là nhóm từ chủ động và
nhóm từ bị động. Nhóm từ chủ động là những từ mà người học có thể hiểu và
phát âm đúng, sử dụng một cách có hiệu quả trong khi nói và viết. Nhóm từ bị
động là những từ mà người học có thể nhận ra và hiểu khi chúng xuất hiện trong
văn cảnh nhưng lại không thể tự mình sử dụng được. Một giáo viên dạy ngoại
ngữ nên biết những cách phân loại trên. Nhưng điều quan trọng nhất là làm thế
nào để giúp học sinh mở rộng vốn từ vựng, tăng cường những từ chủ động.

5


CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tôi đã thực hiện việc phát phiếu
điều tra cho 180 học sinh lớp 10 trường THPT Trần Hưng Đạo, huyện Tam
Dương để lấy ý kiến của các em về những vấn đề có liên quan đến việc dạy và
học từ vựng. Sau khi sử dụng phương pháp toán thống kê và sử lí số liệu, tôi đã
rút ra được một số nhận xét như sau:
II.1. VỀ GIÁO VIÊN:
Qua quá trình quan sát và phỏng vấn 5 giáo viên dạy môn tiếng Anh , tôi
đã ghi nhận được một số vấn đề sau:
1- Số lượng từ trong một bài giảng:
Với thời lượng giờ học hiện nay, các giáo viên đều cho rằng số lượng từ
vựng trong một bài giảng là quá nhiều, họ không có đủ thời gian để hướng dẫn,
chuyển tải đến học sinh đầy đủ các khía cạnh của từ, những mối liên hệ nội tại
trong từ, các từ đồng nghĩa, trái nghĩa…., luyện cho học sinh cách phát âm, cách
sử dụng. Điều này gây không ít khó khăn cho học sinh trong việc học từ vựng.
2- Phương pháp dạy từ vựng:
Đây là phần quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng dạy và học
của cả giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, qua khảo sát tôi thấy rằng các phương

pháp của giáo viên vẫn còn nghèo nàn. Phương pháp chủ yếu mà giáo viên sử
dụng là dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Do vậy việc học sinh cảm thấy nhàm
chán trong việc học từ vựng là điều không thể tránh khỏi. Điều này có ảnh
hưởng không tốt đến khả năng tiếp thu từ mới của học sinh. Các em có thể nhớ
từ khi giáo viên dịch nghĩa tiếng Việt của nó nhưng lại quên đi nhanh chóng và
không biết từ đó được sử dụng và phát âm như thế nào, học sinh lại không được
luyện tập và sử dụng từ mới thường xuyên do đó từ vựng của học sinh dần dần
trở thành những từ chết và khi gặp lại từ đó học sinh lại coi đó như là những từ
hoàn toàn mới.
3- Những khía cạnh thường được giáo viên chú ý trong quá trình dạy từ
vựng:
6


Trong các khía cạnh của từ như nghĩa của từ, cách sử dụng từ, hình thức
của từ thì cách sử dụng từ là quan trọng nhất. Tuy nhiên, trong quá trình dạy từ
vựng giáo viên chủ yếu chỉ chú trọng vào việc dạy nghĩa của từ đang được sử
dụng trong bài học mà ít quan tâm nghĩa của từ trong những văn cảnh khác hay
giáo viên thường chỉ dạy cho học sinh nghĩa biểu vật mà quên đi một nét nghĩa
khác cũng rất quan trọng đó là nghĩa biểu cảm của từ. Cách dạy này đã gây nên
rất nhiều khó khăn trong học sinh trong quá trình học từ vựng. Học sinh không
thể phát âm từ một cách chính xác, không biết cách sử dụng từ trong những văn
cảnh khác ngoài văn cảnh đã được học ở trong bài.
4- Những phương tiện thường được sử dụng trong quá trình dạy từ vựng:
Trong quá trình dạy từ vựng, có rất nhiều phương tiện trợ giảng có thể
giúp giáo viên dạy có hiệu quả. Tuy nhiên hiện nay giáo viên chỉ sử dụng một số
tranh , ảnh hay đài cassettes. Mặc dù vậy việc sử dụng những phương tiện trợ
giảng này là không thường xuyên.
II.2. VỀ HỌC SINH:
1- Về việc học từ vựng:

Hơn nửa số học sinh được điều tra có ý kiến cho rằng việc học từ vựng rất
khó khăn. Các em gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp thu và vận dụng từ mới học.
Các học sinh được hỏi cũng cho rằng số lượng từ mới trong một bài hiện nay là
quá nhiều, các em phải chịu áp lực phải nhớ quá nhiều từ trong một bài học. Rất
ít em trong số học sinh lớp 10 của trường cho rằng việc học từ vựng là dễ dàng,
các em này không phải chịu nhiều áp lực trong khi học.
2- Về cách học:
Theo số liệu thu được, tôi nhận thấy phần lớn học sinh học từ vựng theo cả
hai cách: Học từ riêng lẻ cũng như đặt từ vào câu cụ thể. Tuy nhiên số học sinh
chỉ học từ bằng cách học riêng lẻ chiếm tỷ lệ khá lớn, tương ứng với 58,3%.
Điều này thể hiện các em chưa nhận thức rõ, chưa tìm được cách học phù hợp để
đạt được hiệu quả cao. Hiển nhiên đây là một yếu tố gây cản trở lớn đến khả
năng học và hiệu quả học từ của học sinh.
7


3- Về thời gian học từ mới của một bài:
Với số lượng từ trong một bài nhiều như hiện nay, phần lớn học sinh đều
có ý thức dành thời gian để tìm hiểu, ghi nhớ và luyện tập từ. Cụ thể, số học sinh
dành hơn 60 phút để học từ mới của một bài là 18 em, chiếm tỷ lệ 10% trong
tổng số học sinh được điều tra. Số các em dành khoảng 60 phút để học từ mới là
52 em chiếm 28,9%. Tuy nhiên, bên cạnh những em có ý thức đầu tư thời gian
và công sức cho việc học từ vẫn còn một số em không học từ mới của bài, số
học sinh này gồm 30 em, chiếm 16,7%.

8


CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY VÀ HỌC NHẰM NÂNG CAO
VỐN TỪ VỰNG TIẾNG ANH CƠ BẢN CHO HỌC SINH YẾU- KÉM

LỚP 10 TRƯỜNG THPT TRẦN HƯNG ĐẠO
Sau khi nghiên cứu lý luận việc dạy và học từ vựng, đồng thời căn cứ vào
kết quả khảo sát thực tế việc dạy và học từ vựng ở trường THPT Trần Hưng
Đạo, tôi xin đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao vốn từ vựng cho các em
học sinh lớp 10 như sau:
III.1. ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN:
1- Sử dụng các phương tiện trợ giảng (Visual aids):
Muốn sử dụng các phương tiện trợ giảng đạt hiệu quả cao trong việc dạy
học nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh giáo viên cần:
Trước hết phải chọn những phương tiện trợ giảng mà bản thân chúng phải
chứa đựng những câu hỏi, những bài tập nghiên cứu , các tư liệu để phân tích và
trình bày các thông tin kiến thức một cách nêu vấn đề; đồng thời thiết lập mối
liên hệ bên trong và bên ngoài của các phương tiện đó với kiến thức kỹ năng, kỹ
xảo đã có của học sinh, với các phương án có thể tiến hành được của công tác tự
lập và sáng tạo của học sinh trong các giai đoạn sau.
Sử dụng phối hợp các loại phương tiện dạy học khác nhau trong một giờ
học nhằm huy động nhiều cơ quan cảm giác tham gia vào quá trình nhận thức.
Điều này sẽ góp phần phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh.
Khi sử dụng phối hợp cần chú ý tập trung vào những điểm bản chất nhất, có tác
dụng mạnh nhất khi nó diễn tả đúng nội dung chính của bài học, đồng thời phải
sử dụng tập hợp thành bộ phương tiện dạy học tối ưu.
Cần phối hợp một cách khéo léo, chính xác lời nói của giáo viên mang tính
chất khơi gọi hướng dẫn học sinh với việc biểu diễn các phương tiện dạy học
hoặc học sinh tiến hành quan sát, sử dụng trực tiếp các phương tiện trực quan.
Điều kiện tốt nhất, thích hợp nhất để tiến hành một cách có hiệu quả nhất
các phương tiện dạy học để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh là phải

9



có đầy đủ các dụng cụ dạy học, trong điều kiện có thể nhà trường nên đầu tư xây
dựng hệ thống phòng học bộ môn.
1.1 Sử dụng bảng:
1.1.1. Dạy nghĩa của từ bằng việc sử dụng bảng:
Việc sử dụng bảng là một trong những kỹ thuật hữu ích nhất mà giáo viên
có thể sử dụng để giới thiệu từ mới cho học sinh bởi nó đóng vai trò quan trọng
đối với sự thành công của một bài giảng. Giáo viên có thể vẽ lên bảng những
bức tranh như hình que, hình mặt…
a. Sử dụng hình que ( Stick figures):
Bằng cách vẽ một hình que cơ bản với những đường nét đơn giản, giáo
viên có thể dễ dàng chỉ ra nghĩa của từ cho học sinh. Hơn nữa qua việc sử dụng
hình que giáo viên còn kích thích được hứng thú học tập của học sinh.
Ví dụ: Để dạy nghĩa của động từ “to run”, giáo viên có thể vẽ một hình người
đang chạy rồi nói:
GV: Look, there is a boy. What is he doing?
HS: He is running.
GV: Yes, he is running. To run. Can you say it?
HS: To run, to run.
GV: Very good. But why is he running?
HS: Có thể nghĩ ra một lý do, tuy nhiên họ không thể diễn đạt bằng tiếng Anh.
GV: Ah, he may be late for school or go to school late. He is in a big hurry.
(Giáo viên cũng có thể nghĩ gia một lý do khác nữa)
Như ví dụ trên, chúng ta thấy nhờ việc sử dụng hình que giáo viên không
chỉ dạy cho học sinh từ mới mà còn giới thiệu cho các em những cấu trúc ngữ
pháp hoặc một câu trọn vẹn có chứa từ cần dạy.
b. Sử dụng cách vẽ khuôn mặt (faces):
Việc dạy nghĩa của từ bằng cách vẽ khuôn mặt với từng trạng thái khác
nhau là một cách rất đơn giản và hiệu quả, đặc biệt là trong việc diễn tả nghĩa
10



của từ thuộc về tình cảm. Hình khuôn mặt thường có hình tròn hoặc hình quả
trứng.Trên khuôn mặt đôi mắt và miệng là những chi tiết có tầm quan trọng rất
lớn trong việc biểu đạt.
Giáo viên cũng có thể thể hiện giới tính, tuổi tác bằng cách thay đổi kiểu
tóc theo từng khuôn mặt.
c. Vẽ đồ vật( Objects):
Giáo viên nên vẽ những đồ vật phổ biến, thân thuộc trong cuộc sống hằng
ngày lên bảng để giúp học sinh nhận biết. Bản vẽ không cần phải chính xác
nhưng nó phải đầy đủ, rõ ràng để học sinh có thể nhận ra đó là vật gì. Chính vì
vậy, giáo viên cần phải tập vẽ vài lần trước khi giảng để có thể vẽ những hình dễ
hiểu nhất và nhanh nhất.
d. Sử dụng biểu đồ ( Word- field diagram):
Việc sử dụng biểu đồ là một cách rất hiệu quả để dạy cho học sinh những
từ có liên quan tới nhau qua một chủ đề nhất định. Nó giúp cho học sinh nhớ từ
nhanh hơn.
Ví dụ: Để dạy những từ thuộc về gia đình, giáo viên có thể sử dụng biểu đồ sau:

1.1.2. Dạy hình thức và cách sử dụng của từ bằng cách sử dụng bảng:
a. Dạy hình thức của từ:
Trong quá trình học từ mới, học sinh cần biết cách phân loại những từ mà
họ học thành những từ loại khác nhau như danh từ, động từ, tính từ và trạng từ.

11


Ví dụ : Khi giáo viên muốn giúp học sinh luyện tập một số từ về những chủ đề
như cảm giác, sự đo lường, nghề nghiệp… thì ta có thể làm theo những bước
sau:
- Bước 1: Giáo viên viết các từ lên bảng:

length

happy

police

short

angry

long

cheerful

teacher

worker

wide

width

sad

- Bước 2: Giáo viên yêu cầu học sinh nghĩ ra càng nhiều cách nhóm từ vào cùng
một loại càng tốt và giải thích lí do tại sao lại nhóm như thế. Ví dụ như từ có thể
được nhóm theo ngữ nghĩa, ngữ pháp, theo cách phân loại…..Ví dụ, theo cách
phân loại các từ có thể được nhóm như sau:
+ Nouns: police, worker, length, width, teacher
+ Adjectives: happy, angry, sad, short, wide, cheerful, long

- Bước 3: Giáo viên nên khuyến khích học sinh đóng góp một vài từ mà họ đã
học vào từng nhóm.
b. Dạy cách sử dụng của từ:
Khi dạy cách sử dụng của từ giáo viên nên gạch chân vào những phần
quan trọng của từ bằng cách sử dụng những phấn màu khác nhau.
Ví dụ: success

successful

unsuccessful

Công việc này giúp học sinh chú ý vào thành phần cấu tạo nên từ loại cũng
như ngữ nghĩa của từ. Hơn nữa, trong khi dạy giáo viên cũng cần cung cấp cho
học sinh những bộ từ đồng nghĩa và hướng dẫn cách sử dụng trong những văn
cảnh khác nhau.
Ví dụ: Uncle Ho passed away in 1969.
( ở đây từ “pass away” sẽ mang thái độ kính trọng hơn là từ “die”.
1.2. Sử dụng tranh:
1.2.1. Tranh tường ( Wall Pictures).

12


Tranh tường là các tranh cắt ra từ báo hoặc tạp chí và được treo trên tường
hoặc trên bảng. Giáo viên phải lựa chọn những bức tranh phù hợp với mục đích
của bài học. Quan trọng hơn, những bức tranh này phải đủ lớn để tất cả các học
sinh đều có thể nhìn thấy rõ.
1.2.2. Thẻ ghi chú ( Flash cards).
Thẻ ghi chú là những tấm thẻ được in và viết những chữ, câu, hình ảnh lên
trên. Chúng có thể được chia thành 2 loại chính là thẻ hình và thẻ chữ.

* Một vài hoạt động gợi ý trong việc sử dụng thẻ để làm cho học sinh hiểu rõ
các từ và nhớ chúng lâu hơn:
- Gọi tên ( Name it):
Chia học sinh thành từng nhóm 5- 10 người. Các tấm thẻ được bày úp trên
mặt bàn. Trên mỗi tấm thẻ đều có 1 từ mới. Người chơi thứ nhất nhặt 1 tấm thẻ
và nhắc lại từ được ghi trên tấm thẻ đó, đưa ra một câu hoàn chỉnh dựa trên trình
độ hoặc nhu cầu đặc biệt nào đó của người chơi. Nếu câu văn của người chơi là
đúng, người đó có thể giữ tấm thẻ. Nếu không, người chơi đặt úp tấm thẻ lên
bàn và người tiếp theo tiếp tục lượt chơi. Giáo viên cũng có thể giúp học sinh
nhắc lại từ hoặc đặt câu với từ đó nếu như không có học sinh nào đưa ra được
đáp án đúng.
- 20 câu hỏi ( Twenty questions):
Các học sinh chơi theo nhóm từ 10-20 người. Giáo viên chọn 1 tấm thẻ
trong số thẻ đã chuẩn bị. Các học sinh lần lượt cố gắng đoán từ đó là gì bằng
việc hỏi các câu hỏi “ Yes/No question”.
Ví dụ: “ Is it an animal? Is it big? Does it live in jungle? Học sinh đoán đúng từ
được giữ tấm thẻ hoặc thay thế vị trí của người giáo viên.
- Bỏ từ khác biệt ( Odd man out):
Giáo viên đưa ra một bộ thẻ gồm 5-7 tấm cho mỗi nhóm hoặc cá nhân.
Học sinh phải quyết định xem tấm thẻ nào không thuộc trong nhóm và đưa ra lý
do tại sao. Học sinh có thể giải thích sơ lược về từ mà họ chọn.
13


Ví dụ: Để luyện tập các từ nói về các loài hoa, giáo viên có thể đưa cho học sinh
một số thẻ như sau:
rose

daisy


sunflower

queen

Câu trả lời phù hợp là “ Queen” vì từ này gợi nhắc tới con người trong khi các từ
khác liên hệ đến một số loài hoa.
1.2.3. Dạy hình thức của từ bằng tranh:
Hoạt động này rất hữu ích trong việc luyện tập cấu trúc của từ. Giáo viên
có thể trưng bày một vài bức tranh trên bảng và yêu cầu học sinh viết câu với
bức tranh.
Ví dụ: Để luyện tập động từ “ Run” giáo viên có thể sử dụng bức tranh vẽ hình
hai người đang chạy và yêu cầu học sinh đặt câu với bức tranh đó.
HS1: They are running toghether.
HS2: They like running very much.
1.2.4. Dạy cách sử dụng của từ:
a. Dạy cách sử dụng của từ bằng cách sử dụng tranh:
a.1. Ghép từ hoặc câu với tranh:
Giáo viên đưa ra một bộ tranh và một danh sách các từ hoặc câu tương
ứng với những bức tranh này. Sau đó yêu cầu học sinh ghép các bức tranh với
những từ, câu đó.
a.2. Mô tả tranh:
Giáo viên dán một bức tranh lấy từ sách hoặc báo và yêu cầu học sinh mô
tả bức tranh đó bằng cách đưa ra một vài câu hỏi định hướng. Khi học sinh đã
hoàn thành việc mô tả tranh, giáo viên có thể yêu cầu mô tả lại một lần nữa hoặc
làm theo cặp, nhóm. Trong cặp và nhóm học sinh kể với bạn nội dung của bức
tranh.
b. Dạy cách sử dụng của từ bằng cách sử dụng các tấm thẻ:
Để giúp học sinh luyện tập cách sử dụng của các giới từ, giáo viên đưa ra
các tấm thẻ và yêu cầu học sinh làm theo nội dung ghi trong thẻ.
14



Ví dụ:

Set 1

Set 2

Put your book

in the bag

Put your shoes

under the table

Put your paper

on the desk

1.3. Sử dụng vật thật ( Real objects):
Trong rất nhiều trường hợp những vật thật là loại phương tiện trợ giảng
đơn giản nhất ở trong lớp bởi chúng không cần phải có sự chuẩn bị đặc biệt hay
những nguyên liệu đặc biệt. Lớp học là một phần của thế giới thực. Ở mỗi lớp
học đều có những đồ đạc như bàn ghế, bóng đèn, cửa….Giáo viên có thể yêu
cầu học sinh nêu tên các đồ vật và miêu tả những tính chất của nó. Giáo viên
cũng có thể mang một vài vật thật đến lớp như chìa khóa, quả táo, sách báo….
Giáo viên sẽ cầm từng loại vật thật đó và yêu cầu học sinh đưa ra một vài lời
bình luận về vật đó.
2. Dạy từ dựa vào văn cảnh:

Khi gặp 1 bài đọc, học sinh và giáo viên sẽ thấy có rất nhiều từ mới. Do có
quá nhiều từ mới, giáo viên phải quyết định xem từ nào cần phải dạy và thời
gian thích hợp để dạy các từ đó. Có 4 loại từ mới như được tóm tắt dưới dây:
1. Unknown words: những từ quan 2. Unknown words: những từ không
trọng để hiểu được một bài đọc. Đầu quan trọng để hiểu được một bài đọc.
tiên yêu vầu học sinh đoán từ, sau đó giáo viên nên dạy sau hoặc không
giáo viên dạy từ.

dạy.

3. Known words: những từ học sinh 4. Known words: những từ học sinh
đã biết, giáo viên không cần dạy.

biết nhưng không hiểu vì mang nghĩa
bóng. Giaó viên chỉ nên dạy từ đó
khi nó được sử dụng phổ biến.

-> 1. Đối với những từ mới cần thiết cho việc hiểu bài đọc: Trước tiên giáo viên
nên cho học sinh đoán nghĩa của từ dựa vào ngữ cảnh hoặc ngữ pháp, nếu học
sinh không thể đoán được giáo viên nên dạy từ đó cho học sinh trước khi học bài
đọc.
15


-> 2. Đối với những từ mà không cần thiết cho việc hiểu bài đọc, giáo viên nên
chọn 1 trong 2 cách sau:
- Nếu đó là những từ phổ biến, học sinh có thể học trong quá trình học sau này,
giáo viên nên dạy nghĩa của từ khi đã học bài đọc.
- Nếu đó là một từ lạ hoặc không phổ biến, giáo viên có thể không cần thiết phải
dạy từ đó.

-> 3. Đối với những từ học sinh đã biết, tất nhiên không cần phải dạy nghĩa của
chúng. Nếu có quá nhiều từ học sinh không biết, bài đọc đó có thể quá khó với
trình độ tiếng Anh của học sinh.
-> 4. Trong một vài cụm từ học sinh có thể hiểu tất cả những từ riêng lẻ nhưng
lại không thể hiểu nghĩa của cả cụm từ. Ví dụ: Học sinh có thể hiểu nghĩa của
các từ “ Stick”, “in”, “the” và “mud” nhưng lại không thể hiểu được thành ngữ “
stick in the mud” có nghĩa là “ a person who does not like to have fun”. Đối với
những từ được sử dụng trong thành ngữ giáo viên phải quyết định xem chúng có
quan trọng hay không. Ở trình độ thấp việc giải thích các thành ngữ nên được
giới hạn hoặc để đến sau bài học. Nếu đó là một thành ngữ thông dụng, học sinh
có thể gặp thường xuyên trong quá trình học tiếng Anh, sau khi học sinh đã cố
gắng đoán nghĩa, giáo viên nên dạy cho học sinh nghĩa của những thành ngữ đó.
Tuy nhiên không nên tốn quá nhiều thời gian vào các thành ngữ.
III.2. ĐỐI VỚI HỌC SINH:
Quá trình học tập từ vựng là một hoạt động phức tạp. Nó phụ thuộc vào
nhiều điều kiện khách quan như cơ sở vật chất của nhà trường, chất lượng giảng
dạy của đội ngũ giáo viên, nội dung của chương trình đào tạo. Nhưng trong đó
yếu tố tích cực hoạt động của mỗi cá nhân học sinh là điều kiện có tác dụng
quyết định quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập.
Trước hết muốn đạt được kết quả cao học sinh phải hiểu được mục đích
của môn học một cách rõ ràng, phải vạch ra phương hướng hành động cụ thể.
Đối với việc học từ vựng tiếng Anh cũng vậy, học sinh phải tự đặt ra cho mình
những câu hỏi như: “Học cái gì?”, “ Học như thế nào?”, “ Học để phục vụ cho
16


việc gì?”. Xác định được mục đích học tập tức là hiểu được mình cần phải rèn
luyện như thế nào để có được vốn từ vựng phong phú.
Từ việc xác định được mục đích học tập của mình, học sinh cần phải có
thái độ học tập đúng đắn, phải có tinh thần say sưa học tập, ý thức tự giác, chủ

động trong học tập.
Để lĩnh hội được tất cả những kiến thức mà giáo viên truyền tải trên lớp,
học sinh cần phải chú ý tới bài giảng, tập trung lắng nghe và phải tích cực suy
nghĩ trong khi nghe để nắm được những kiến thức cơ bản về từ vựng, phải ghi
chép đầy đủ, rõ ràng để lấy đó làm tư liệu học tập ở nhà. Hơn nữa, phải tích cực
hoạt động theo cặp, nhóm.
* Một số cách giúp học sinh học từ vựng tốt hơn:
- Đặt câu với những từ đã học ở trên lớp để biết được cách sử dụng của từ.
- Thường xuyên nghe băng, đài hoặc các bài hát tiếng Anh để nhận biết từ qua
cách phát âm.
- Tập đọc sách, báo, truyện có nội dung đơn giản để biết được cách sử dụng của
từ trong những văn cảnh khác nhau.
- Sử dụng giấy ghi nhớ để ghi chép những từ đã được học và dán vào bất cứ chỗ
nào dễ nhìn thấy nhất.
- Khi đứng trước những vật thật hãy cố gắng liên tưởng đến từ tương đương
trong tiếng Anh. Ví dụ: Đồ đạc trong gia đình, tên các loại hoa quả, tên các loại
động vật nuôi trong gia đình…..
- Học từ vựng Tiếng Anh qua tên các loại hàng hóa, vật phẩm sử dụng hàng
ngày.Ví dụ: Tên các loại bánh kẹo, đồ uống,…..
- Gắn từ vựng Tiếng Anh với những kỷ niệm đáng nhớ của bản thân, hay những
điều hài hước để nhớ từ vựng lâu hơn.
- Đối với những từ khó nên ghi chép vào một cuốn sổ nhỏ theo thứ tự A, B, C…
với tất cả nhứng khía cạnh có liên quan đến từ để tiện tra cứu khi cần.
- Luyện tập theo nhóm ở nhà bằng cách chơi trò chơi hoặc nói tự do về những
chủ đề đơn giản. Từ đó có thể giải đáp cho nhau những vấn đề chưa hiểu, kiểm
17


tra vốn từ vựng của từng người, thảo luận những phần cơ bản, trọng tâm của bài
học, tìm ra cách học hiệu quả nhất cho từng từ.

- Cách đọc tài liệu: Trong khi đọc tài liệu học sinh cần xác định cho mình những
nhiệm vụ cụ thể. Một là phải hiểu và nắm nội dung đã đọc. Hai là suy nghĩ về
những điều đã đọc. Ba là ghi chép những điều cần nghi nhớ. Bốn là cần phải suy
nghĩ xem những kiến thức vừa đọc có gì mới mẻ không.
- Cách ghi chép tài liệu một trong những khâu quan trọng để nâng cao việc học
từ vựng là trong khi đọc tài liệu bao giờ cũng phải có bút, sách vở để ghi chép
lại những kiến thức quan trọng. Chính việc này càng làm tăng thêm sự tập trung
trong lúc đọc.
- Điều quan trọng trong việc học tập nói chung và trong việc học từ vựng nói
riêng là học sinh cần phải chú ý rằng đó là một quá trình liên tục, lâu dài đòi hỏi
mỗi học sinh phải có tinh thần học tập không biết mệt mỏi, phải biết học tập ở
mọi lúc, mọi nơi có thể.

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

18


Sau khi nghiên cứu, tìm tòi tôi đã áp dụng những phương pháp dạy và học
nêu trên ở lớp 10A5 ( 36 học sinh) từ tháng 11/2019. Sau đó tiến hành các bài
khảo sát liên quan đến từ vựng và cách sử dụng từ và kết quả đạt được được thể
hiện chi tiết trong bảng dưới đây:
Phương pháp

Phương pháp truyền
thống

Thang điểm

(9/2019 - 10/2019).


Các phương pháp mới
(11/2019 – 2/2020)

Số học sinh đạt từ 8-10 điểm:

02 – 5,6%

08 – 22,2%

Số học sinh đạt từ 5-7 điểm:

10 – 27,8%

18 – 50%

Số học sinh đạt từ 3-5 điểm:

15 – 41,7%

08 – 22,2%

Số học sinh đạt điểm <3:

09 – 25%

02 – 5,6%

- Nhìn vào bảng số liệu trên đây có thể thấy rằng kết quả nghiên cứu của đề tài
này đã góp phần nâng cao vốn từ vựng cho các em học sinh lớp 10A5 của

Trường THPT Trần Hưng Đạo. Do đó nó không chỉ áp dụng cho việc dạy và học
tiếng Anh cho học sinh lớp 10 mà còn có thể áp dụng cho học sinh các khối lớp
khác.
- Đối với bản thân tôi, kết quả của đề tài này đã giúp tôi bước đầu làm quen với
công tác nghiên cứu. Hơn nữa nó còn là động lực mạnh mẽ thôi thúc tôi không
ngừng tìm tòi, học hỏi để tìm ra những phương pháp phù hợp cho công việc
giảng dạy nhằm giúp học sinh đạt được kết quả cao nhất trong việc học tập bộ
môn tiếng Anh để các em có thể sử dụng và làm chủ ngôn ngữ quốc tế này.

19


CHƯƠNG V. PHỤ LỤC
TỔNG HỢP
PHIẾU ĐIỀU TRA HỌC SINH LỚP 10 THPT VỀ VIỆC
DẠY VÀ HỌC TIẾNG ANH
Tổng số học sinh được điều tra: 180 sinh lớp 10 thuộc trường THPT Trần Hưng
Đạo ( huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc)
1. Em thấy việc học từ vựng có khó không?
a. Khó
112 = 62,2%
b. Bình thường
57 = 31,7%
c. Dễ
11 = 6,1%
2. Em học từ vựng bằng cách nào?
a. Riêng lẻ
105 = 58,3%
b. Trong câu
32 = 17,8%

c. Cả hai cách
43= 23,9%
3. Em dành bao nhiêu thời gian để học từ mới của một bài?
a. Không học
30 = 16,7%
b. Khoảng 60 phút
52 = 28,9%
c. Dưới 60 phút
80 = 44,4%
d. Trên 60 phút
18 = 10%
4. Trong khi học từ vựng, em tập trung vào khía cạnh nào của từ?
a. Nghĩa của từ
62 = 34,4%
b. Cách sử dụng của từ
17 = 9,4%
c. Cách phát âm của từ
25 = 13,9%
d. Tất cả các khía cạnh trên 76 = 42,2%
5. Theo em để nhớ từ mới, cách tốt nhất để học là gì?
a. Học ngay sau khi lên lớp 59 = 32,8%
b. Học khi có bài mới
65 = 36,1%
c. Cả hai cách trên
56 = 31,1%
6. Em thấy các thầy, cô giáo đã dạy từ mới qua các cách nào sau đây?
a. Phương tiện nhìn ( tranh vẽ, phim ảnh, băng hình…)
65 = 36,1%
b. Minh họa bằng vật thật
58 = 32,2%

c. Đưa ra tình huống hoặc lời giải thích
74 = 41,1%
d. Sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa
35 = 19,4%
e. Đưa ra ví dụ minh họa
69 = 38,3%
f. Dịch sang tiếng Việt
147 = 81,7%

20


8. Những thông tin cần bảo mật( nếu có)
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Giáo viên: Nhiệt tình, có trách nhiệm cao, đầu tư chuyên môn, thực hiện các
phương pháp giảng dạy phong phú, phù hợp với trình độ học sinh.
- Học sinh: Có thái độ tích cực trong việc học từ vựng, áp dụng các cách học
phù hợp với trình độ nhận thức của bản thân.
- Thiết bị dạy học: Máy tính, máy chiếu, giấy A0, A3, A4, bút dạ, sách giáo
khoa…
10. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia
áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có) theo các nội dung
sau:
10.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tác giả:
Như vậy, từ vựng là phần cốt lõi của ngôn ngữ nói chung và của tiếng Anh
nói riêng. Chính vì thế, việc dạy và học từ vựng là một việc rất quan trọng, là
yếu tố bắt buộc đối với tất cả giáo viên và học sinh học tiếng Anh. Các hình
thức, khía cạnh của từ vựng rất phong phú và đa dạng. Chính vì vậy chúng ta

cũng có nhiều nguyên lí, kỹ thuật dạy và học từ vựng. Tùy từng điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể mà giáo viên và học sinh có thể áp dụng chúng cho phù hợp nhằm
đạt được hiệu quả dạy và học cao nhất.
Qua điều tra, khảo sát thực trạng dạy và học từ vựng ở một số trường THPT
trong địa bàn huyện Tam Dương tôi nhận thấy một số giáo viên đã bước đầu sử
dụng các phương tiện trợ giảng cũng như kỹ thuật dạy từ trong từng văn cảnh
trong việc dạy tiếng Anh nói chung và việc dạy từ vựng nói riêng. Những biện
pháp này được học sinh đón nhận một cách hào hứng, các em học từ một cách
thích thú và chăm chỉ. Một số học sinh đã biết cách sử dụng từ theo từng văn
cảnh, biết được một số khía cạnh liên quan đến từ. Tuy nhiên, phần lớn giáo viên
vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp dạy học truyền thống là dịch từ tiếng Anh
sang tiếng Việt. Đối với học sinh, các em chủ yếu học từ theo cách đơn lẻ, không
gắn với từng tình huống cụ thể. Do đó, chất lượng dạy và học vẫn còn nhiều bất
cập. Qua nghiên cứu tôi đã đưa ra vài phương pháp dạy và học từ vựng trên đây
21


với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học từ vựng, làm giàu vốn
từ vựng cho học sinh.
10.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân:
Đề tài nghiên cứu có tính khả thi, và ứng dụng vào thực tiễn, mang lại hiệu
quả cao trong giờ học Tiếng Anh ở trường phổ thông.
Giúp học sinh có niềm say mê và hứng thú với môn học đồng thời khắc sâu
được kiến thức.
Với sáng kiến nhỏ này, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các đồng
nghiệp nhằm bổ sung cho đề tài được sâu sắc và thiết thực hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
11. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp
dụng sáng kiến lần đầu:

Số
TT

Tên tổ
chức/cá nhân

1

Lớp 10a5

Địa chỉ

Phạm vi/Lĩnh vực
áp dụng sáng kiến

Trường THPT Trần Hưng Dạy và học từ vựng Tiếng Anh
Đạo - Tam Dương - Vĩnh cho học sinh yếu- kém lớp 10 ở
Phúc
trường phổ thông

Tam Dương, ngày ….tháng 02 năm 2020
Thủ trưởng đơn vị/
(Ký tên, đóng dấu)

Tam Dương, ngày 23 tháng 2 năm 2020
Tác giả sáng kiến
(Ký, ghi rõ họ tên)

Đào Thị Hường


22


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Adrian Doff Teach English( A Training Course for Teacher) T’s Workbook.
2. Đỗ Đăng Cao- Director Language Teaching Techniques
3. Michael McCarthy, Felicity O’Dell English Vocabulary in Use
4. Nation Techniques for Teaching Vocabulary
5. Nguyễn Bàng và Nguyễn Bá Ngọc A Course in TEFL Theory and Practice II
6. Penny Ur A Course in Language Teaching
7. Richards, Jack The Role of Vocabulary Teaching
8. Ron Forseth, Carol Forseth, Ta Tien Hung, Nguyen Van Do Methodology
Handbook for English Teachers in Vietnam

23



×