Tải bản đầy đủ (.docx) (42 trang)

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DNNN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (250 KB, 42 trang )

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DNNN
1.1. Doanh nghiệp Nhà nước:
1.1.1. Khái niệm DNNN:
Luật DNNN năm 2003 đã có định nghĩa về DNNN khá khái quát,
chính xác phù hợp với cách tiếp cận của nhiều nước cũng như thực tiễn
vận động của nền kinh tế đất nước: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà
nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,
được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn”.
DNNN có những đặc điểm sau:
- Trong từng DNNN vốn do Nhà nước đầu tư
- DNNN hoạt động trên cả lĩnh vực kinh doanh và công ích
Do nhiều nguyên nhân khác nhau hoạt động kinh doanh của hầu
hết các DNNN là kém hiệu quả, đặc biệt tại các nước đã từng áp dụng
cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Dưới thể chế kinh tế này các ngành, các
đơn vị, các doanh nghiệp mất đi quyền tự chủ trong kinh doanh, sinh ra
ỷ lại vào Nhà nước. Diều này dẫn đến đầu tư nhiều mà không hiệu quả,
nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, thất thoát tài sản Nhà nước gây
khủng hoảng kinh tế.
1.1.2. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế:
Kinh tế Nhà nước được xác định là đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng
kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, là nhân tố mở đường cho sự
phát triển kinh tế “là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà
nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế”. Kinh tế nhà nước bao
gồm: các DNNN, hệ thống ngân hàng Nhà nước, các quỹ tín dụng quốc
gia, các quỹ bảo hiểm Nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
như đất đai, ngân sách, phần vốn của Nhà nước góp vào doanh nghiệp
cổ phần hay liên doanh với các thành phần kinh tế khác. Trong đó
DNNN là lực lượng nòng cốt, lực lượng chủ đạo của nền kinh tế. DNNN
có những vai trò chủ yếu sau đây:
- DNNN có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hạ tầng cho nền


kinh tế. do tác động của quy luật giá trị, việc đầu tư vào hạ tầng như hệ
thống giao thông, thông tin, liên lạc, các dịch vụ công ích như điện, xây
dựng hạ tầng, vận tải hành khách và hàng hoá thường ít được các
doanh nghiệp quan tâm. Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp thì các dự
án đầu tư vào các lĩnh vực nêu trên thường vượt ngoài khả năng tài
chính, kỹ thuật và công nghệ. Chính vì vậy DNNN được coi là giải pháp
cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở nhiều quốc gia, nhất là ở các quốc
gia đang phát triển, thiếu vắng những doanh nghiệp tư nhân có tiềm lực
kinh tế và kỹ thuật đủ mạnh. DNNN được giao phó vai trò khá lớn trong
việc đảm bảo các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu hoặc nhạy cảm của nền
kinh tế mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không
thể đảm nhiệm vì nhiều lý do khác nhau.
- DNNN phải tạo ra được nguồn thu cho ngân sách để phát triển
kinh tế xã hội
- DNNN có vai trò to lớn trong việc điều tiết nền kinh tế. Nhờ vào sự
tồn tại của thành phần kinh tế công cùng với tiềm lực to lớn của nó, Nhà
nước có thể tác động tới sự phát triển của nền kinh tế theo những chiều
hướng hoặc theo những chính sách thích hợp với lợi ích quốc gia trong
từng giai đoạn cụ thể.
- Thúc đẩy và đảm bảo việc làm cũng là một trong những vai trò
quan trọng của DNNN.
- Giảm đói nghèo là vai trò được các quốc gia đang phát triển kỳ
vọng nhất từ các DNNN. Mang tính xã hội hoá cao, nắm giữ những lĩnh
vực then chốt của nền kinh tế, được Nhà nước bao cấp nhiều mặt nên
DNNN cần phải trở thành động lực của việc xoá đói giảm nghèo.
- Tăng cường sự phát triển kinh tế quốc dân và củng cố chủ quyền
quốc gia là vai trò khá phổ biến của DNNN.
- DNNN được giao sứ mệnh trở thành hình mẫu về hiệu quả sản
xuất- kinh doanh, mô hình giải quyết các vấn đề an sinh xã hội cho
người lao động.

1.1.3. Vai trò chủ đạo của DNNN đi về đâu?
Thực tiễn hoạt động của DNNN ở Việt Nam hàng chục năm qua
cho thấy mặc dù DNNN được giao phó vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân song hoạt động của chúng còn tồn tại nhiều điểm bất cập.
DNNN chiếm phần vốn đầu tư chủ yếu từ ngân sách, đội ngũ nhân lực
được đào tạo cũng tập trung chủ yếu trong các DNNN. Các DNNN
chiếm lĩnh những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như dầu khí, vận
tải, bưu chính, điện, khai khoáng và nhiều ngành dịch vụ chiến lược
khác như bảo hiểm, ngân hàng...Tuy nhiên, thế mạnh và vai trò của
DNNN không được duy trì một cách bền vững. do sự xơ cứng trong cơ
chế quản lý, cùng hậu quả của nền kinh tế kế hoạch hoá tâp trung
DNNN càng ngày càng trở nên kém hiệu quả, thể hiện:
Thứ nhất, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp, cả nước
hiện còn khoảng 2.700 DNNN. Trong đó, số doanh nghiệp kinh doanh
có lãi chiếm 78%, doanh nghiệp thua lỗ chiếm 15,1%, doanh nghiệp hòa
vốn chiếm 6,9%. Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, nếu tính đủ chi phí phát
sinh trong kỳ theo quy định như khấu hao tài sản cố định, trích dự phòng
nợ phải thu khó đòi… thì số doanh nghiệp lỗ và không có lãi sẽ cao hơn.
Trong 5 năm qua, số nợ phải thu khó đòi của DNNN không những
không giảm mà còn tăng bình quân 8,7%/năm. Tính đến 31/12/2005,
tổng số nợ phải thu của DNNN là 166.359 tỷ đồng thì số nợ khó đòi là
3.757 tỷ đồng; tổng số nợ phải trả là 449.195 tỷ đồng thì số nợ quá hạn
là 5.548 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ trên vốn của DNNN nhìn chung còn quá cao.
Đặc biệt, nhiều công ty có số nợ phải trả gấp 5 lần vốn nhà nước tại
công ty. Có công ty vay gấp hơn 20 lần vốn tự có nên khả năng thanh
toán nợ rất thấp, rủi ro cao.
Thứ hai, thiết bị công nghệ lạc hậu: máy móc thiết bị của Việt Nam
được nhập từ nhiều nguồn nhưng đa phần thuộc thế hệ đã lạc hậu. theo
điều tra của Bộ khoa học- công nghệ và môi trường (1996) thì máy móc
công nghệ của Việt Nam đã lạc hậu so với thế giới từ 10- 20 năm, có

thiết bị được sản xuất từ năm 1930, có 38% thiết bị thuộc diện thanh lý,
52% đã qua duy tu bảo dưỡng.
Thứ ba, số lao động dôi dư quá lớn: tình trạng lao động dôi dư, lao
động không được đào tạo cơ bản nhiều làm tăng chi phí tiền lương, bảo
hiểm, bảo hộ lao động, chi trợ cấp mất việc làm... đồng thời ảnh hưởng
đến việc đổi mới thiết bị công nghệ.
Thứ tư, công tác quản lý của doanh nghiệp còn nhiều yếu kém, cơ
chế quản ý còn nhiều bất cập và sơ hở, những tồn tại tài chính không
được xử lý dứt điểm luôn là gánh nặng cho doanh nghiệp.
Những biểu hiện này cho thấy hiệu quả và vai trò của DNNN với tư
cách là động lực phát triển kinh tế ngày càng trở nên mờ nhạt. Thêm
vào đó là sự thua lỗ triền miên của DNNN đã khiến ngân sách quốc gia
không còn đủ sức để bao cấp và duy trì hoạt động của chúng. DNNN từ
chỗ là trụ cột trong nền kinh tế quốc dân trở thành một gánh nặng đẩy
lùi sự phát triển của nền kinh tế.
Nguyên nhân của tình trạng này là do:
Thứ nhất, do sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào hoạt động
sản xuất kinh doanh của DNNN . thực tế này khiến các DNNN khó trở
thành một chủ thể kinh tế độc lập, có quyền tự chủ, điều mà bất cứ chủ
thể nào tham gia các quan hệ kinh tế, thương mại đều rất cần.
Thứ hai, sự xung đột giữa các mục tiêu đặt ra cho kinh tế Nhà
nước. phần lớn DNNN được giao thực hiện các mục tiêu kinh tế song
cũng có không ít những mục tiêu khác hoặc mang tính chất chính trị,
quân sự, an ninh quốc phòng hoặc mang tính chất xa hội. Việc thực
hiện một lúc nhiều mục tiêu khác nhau khiến DNNN dễ rơi vào tình trạng
lúng túng.
Thứ ba, thiếu sự đầu tư cho việc tăng năng suất lao động. Năng
suât lao động là yếu tố sống còn của doanh nghiệp trong bất cứ nền
kinh tế nào, bất cứ quốc gia nào. Năng suất lao động phụ thuộc vào sự
thay đổi công nghệ tiên tiến một cách thường xuyên, vào cơ chế quản lý

năng động mà những điểm này thì DNNN khó có được do bị kiểm soát
bởi hệ thống quản lý nhiều tầng cấp, quan liêu và mệnh lệnh.
Thứ tư, thiếu cơ chế kích thích thích hợp đối với không chỉ người
lao động mà cả đối với những người quản lý DNNN. Sự ràng buộc bởi
chế độ lương, bảng lương quy định làm cho tất cả đều thực hiện công
việc của mình một cách cầm chừng, thụ động vì không có động cơ vật
chất thôi thúc.
Cuối cùng là các DNNN thiếu khả năng cạnh tranh. Điều này thể
hiện ở chỗ giá cả hàng hoá, dịch vụ của các DNNN đều cao hơn nhiều
so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tư nhân hay hỗn
hợp.
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong
đó khẳng định vai trò chủ đạo không thể thiếu của thành phần kinh tế
Nhà nước mà nòng cốt là DNNN. Để DNNN thực hiện được sứ mệnh
của mình chúng ta không có cách nào khác là phải đổi mới. Từ sau Đại
hội lần thứ VI của Đảng, chủ trương đổi mới về mọi mặt của Nhà nước
đã được đẩy mạnh trong đó CPH là một trong những giải pháp cơ bản
nhằm cải cách khu vực kinh tế quốc doanh. Với chủ trương xây dựng
một nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với hội nhập kinh tế quốc tế, đòi
hỏi năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế nói chung và của từng doanh
nghiệp nói riêng không ngừng được nâng cao. Để đáp ứng được yêu
cầu này, CPH DNNN được coi là một giải pháp quan trọng và triệt để
nhằm tạo ra sự chuyển biến cơ bản trong việc thay đổi cơ cấu kinh tế,
đổi mới, nâng cao năng lực của các DNNN ở Việt Nam. Điều này đã
được khẳng định qua Nghị quyết Đại hội VIII ,IX và tiếp tục được khẳng
định trong báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội
của Đại hội Đảng X.
1.2. CPH DNNN:
1.2.1. Khái niệm CPH DNNN:
CPH DNNN là việc chuyển doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước

(đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (đa sở hữu), sự chuyển đổi này
được thể hiện ở hai mặt căn bản sau:
- Chuyển hoá quyền sở hữu từ đơn sở hữu sang đa sở hữu, điều
này kéo theo sự thay đổi quyền quản lý, quyền sử dụng và tạo nên sự
gắn kế chặt chẽ giữa ba tuyến liên quan đến tái sản của doanh nghiệp
là Nhà nước, người lao động và Nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp.
- Thay đổi quy chế hoạt động của doanh nghiệp từ chỗ hoàn toàn bị
Nhà nước chi phối sang tự chủ kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Việc CPH một bộ phận DNNN ở nước ta có những nét đặc thù, đó
là CPH những doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, mà thực chất là
CPH một bộ phận doanh nghiệp thuộc sở hữu xã hội, sở hữu toàn dân.
mục tiêu cơ bản của việc chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ
phần là nhằm hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất, nâng cao hiệu quả của các DNNN. Cụ
thể, tìm ra một hình thức quản lý phù hợp, vừa phát huy quyền làm chủ
của người lao động vừa đảm bảo quản lý một cách có hiệu quả tài sản
của doanh nghiệp. Đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN,
giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước, xoá bỏ độc quyền đối với một số
DNNN, buộc các doanh nghiệp phải phát huy năng lực cạnh tranh để
nâng cao hiệu quả so với kinh tế tư nhân và thu hút các nhà đấu tư
nhân vào các ngành, các lĩnh vực mà sự độc quyền của Nhà nước
không còn cần thiết. Nhà nước hướng tới tập trung vào những ngành
then chốt, mũi nhọn, đòi hỏi hàm lượng vốn và khoa học - kỹ thuật cao
để nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm của đất nước trên thị trường
quốc tế cũng như tập trung vào ổn định nền kinh tế vĩ mô. CPH sẽ tạo ra
khả năng huy động vốn của toàn xã hội, tạo thêm việc làm, nâng cao
sức cạnh tranh và làm thay đổi cơ cấu DNNN. Trong bối cảnh nền kinh
tế vẫn còn đang trì trệ,CPH tạo ra sự ổn định về mặt xã hội, thực hiện
sự phân phối có lợi cho những người có thu nhập thấp.
1.2.2. Bản chất của CPH DNNN:

Sự phát triển của DNNN đều vấp phải tình trạng chung là hiệu quả
thấp, lãng phí, trong nhiều trường hợp nó còn là mảnh đất của sự tham
nhũng. Sự sa sút không thể cứu vãn nổi của DNNN dẫn đến quá trình
cải cách DNNN. Cải cách DNNN được thực hiện ở các nước theo
những hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị xã
hội ở nước đó. Cải cách DNNN được thưc hiện thông qua biện pháp
chủ yếu sau đây:
- Tư nhân hoá
- CPH
- Cho thuê DNNN
- Bán DNNN
- Cho phép doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh với DNNN trong cùng
ngành.
- Phương thức BOT trong xây dựng hạ tầng và công ích
- Thuê tư nhân quản lý DNNN
- Giảm các cổ phần Nhà nứơc trong các doanh nghiệp thuộc các
ngành có tính cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của nguồn vốn
không phải từ Nhà nước
- Chia nhỏ hoặc sát nhập DNNN tuỳ theo tính chất và mục tiêu của
việc cơ cấu lại
- Thành lập các doanh nghiệp công tư hợp danh
Nhìn chung, cải cách DNNN theo hình thức nào cũng đều nhằm
mục đích thị trường hoá DNNN. thị trường hoá DNNN là quá trình
chuyển việc phân bổ nguồn lực được thực hiện bằng phương thức quản
lý Nhà nước sang cơ chế điều chỉnh thị trường, chuyển một phần tài sản
DNNN thành phi Nhà nước, được thể hiện ở 4 khía cạnh:
- Cải cách quản lý vĩ mô đối với DNNN theo định hướng thị trường
- Đa dạng hoá tài sản của DNNN
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN phải được thực hiện
theo các nguyên tắc thị trường

- Hình thành cơ chế loại bỏ các DNNN yếu kém ra khỏi thị trường
Trong tất cả các giải pháp cải cách DNNN nêu trên thì tư nhân hoá
và CPH được áp dụng phổ biến nhất. giữa tư nhân hoá và CPH có
những điểm chung rất cơ bản, chính vì vậy nhiều người cho rằng CPH
là một dạng tư nhân hoá hay CPH là tư nhân hoá từng phần. Xét ở
những góc độ hình thức nhất định thì có vẻ như quan điểm này đúng.
Tư nhân hoá là việc chuyển tài sản từ thành phần kinh tế công sang
thành phần kinh tế tư. CPH được thực hiện thông qua việc chia vốn của
một số DNNN nhất định ra thành các cổ phần và những cổ phần này
được bán cho nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp, người lao động
trong doanh nghiệp và một phần do Nhà nước sở hữu. Do đó, CPH đã
biến DNNN thành sở hữu chung của những người nắm giữ cổ phần của
doanh nghiệp. Như vậy, có thể nói CPH chính là tư nhân hoá một phần
DNNN. Tuy nhiên, giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau rất cơ bản
sau đây:
- Thứ nhất, tư nhân hoá được coi là một chính sách và mục tiêu
của nó là hạn chế đến mức tối đa thành phần kinh tế công trong khi đó
CPH chỉ được coi là một giải pháp thực hiện.
- Thứ hai, tư nhân hoá được thực hiện dưới nhiều phương thức
khác nhau, trong đó có cả phương thức phi quốc hữu hoá, tức trả lại
cho chủ cũ những tài sản đã bị quốc hữu hoá, kể cả toàn bộ doanh
nghiệp đang hoạt động. CPH trong khi đó chỉ thực hiện thông qua việc
DNNN tiến hành phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu.
- Thứ ba, tác động của hai giải pháp này hoàn toàn khác nhau về
cả mức độ lẫn tính chất. Tư nhân hoá dẫn đến thay đổi hình thức sở
hữu của các DNNN, còn CPH có tác dụng làm giảm sở hữu của Nhà
nước trong DNNN. Với tư cách là một chính sách, tư nhân hóa tác động
đến toàn bộ nền kinh tế, còn CPH với tư cách là một giải pháp thực hiện
chính sách này tác động chủ yếu đến các DNNN bị CPH.
- Thứ tư, tư nhân hoá thường được tiến hành trên cơ sở của luật về

tư nhân hoá. CPH được thực hiện dựa trên cơ sở của luật công ty hiện
hành.
CPH không xoá bỏ hoàn toàn sở hữu Nhà nước mà chỉ giảm mức
độ sở hữu, tức là chỉ có sự thay đổi về lượng chứ không có sự thay đổi
về chất của các cơ sở kinh tế này. Xét một cách khái quát, CPH có một
số ưu thế nhất định sau:
- CPH không làm thay đổi một cách cơ bản kết cấu sở hữu của nền
kinh tế. Vì vậy, nền tảng kinh tế của xã hội vẫn có thể không thay đổi lớn
khi tiến hành CPH.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNNN CPH sẽ được tăng
lên và từ đó có thể làm cho chúng có khả năng thực hiện tốt hơn vai trò
của mình.
- CPH làm phát sinh nhiều công ty cổ phần có sự tham gia của sở
hữu Nhà nước. Công ty cổ phần là chủ thể tích cực của nền kinh tế thị
trường và sự có mặt đông đảo của các công ty này sẽ có tác động tốt
tới nền kinh tế.
- Do chỉ giảm bớt mức độ sở hữu của Nhà nước trong các DNNN
CPH mà không loại chúng ra khỏi nền kinh tế nên CPH không làm nảy
sinh vấn đề việc làm ở mức độ lớn.
- CPH có thể mang lại sự gia tăng vốn đầu tư của DNNN thông qua
việc huy động vốn từ các cổ đông- các chủ sở hữu mới của doanh
nghiệp CPH.
Dĩ nhiên, như bất cứ hiện tượng kinh tế- xã hội nào khác, CPH
cũng chứa đựng những hạn chế của nó. Hạn chế cơ bản nhất của CPH
xét ở yêu cầu phát triển kinh tế thị trường là khó có thể nhanh chóng tạo
ra nền tảng thích hợp cho nền kinh tế thị trường mà theo quan điểm phổ
biến ở phương Tây là chủ yếu dựa vào thành phần kinh tế tư nhân. Đối
với Việt Nam, do đặc trưng của nền kinh tế, do chủ trương xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, CPH được coi là
giải pháp tối ưu cho quá trình sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả của

DNNN.
Sỡ dĩ CPH được coi là giải pháp cải cách triệt để đối với DNNN vì
nó giải quyết được căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức quản
lý và hoạt động của DNNN- đó là vấn đề sở hữu. Những giải pháp cải
cách DNNN khác chỉ động chạm đến cơ chế quản lý theo hướng tăng
cường quyền tự chủ của DNNN trong một hoặc một số lĩnh vực cụ thể.
CPH chấp nhận sự dung hoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau
trong bản thân các thực thể kinh tế vi mô mà trước hết trong các doanh
nghiệp.
1.2.3. Tác động của CPH DNNN:
CPH có vai trò to lớn trong việc đổi mới DNNN, nhất là ở nền kinh
tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoach hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam. Tác dụng của CPH
thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:
- CPH có tác dụng làm cho sở hữu trong doanh nghiệp trở nên đa
dạng hơn. Chính vì vậy nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu
trong DNNN vốn gây ra những vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng
động trong sản xuất kinh doanh.
- CPH có tác dụng trong việc xã hội hoá tư liệu sản xuất trong các
doanh nghiệp thuộc sở hữu một chủ. Như vậy, các thực thể kinh tế vi
mô cũng trở nên đa sở hữu như bản thân nền kinh tế vĩ mô. Điều này
tạo nên sự tương thích nhất định của các giải pháp quản lý vĩ mô và vi
mô.
- CPH tạo cho những người lao động cơ hội thực sự làm chủ doanh
nghiệp nếu như họ mong muốn bằng việc sở hữu cổ phần trong doanh
nghiệp, người lao động có thể tham gia vào viẹc quyết định các vấn đề
quan trọng của doanh nghiệp thông qua cái gọi là ”nền dân chủ cổ
phần”. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động,
tích cực của người lao động không chỉ đối với các vấn đề của doanh
nghiệp mà cả đối với các vấn đề kinh tế- chính trị xã hội của đất nước.

- CPH có tác dụng rất lớn đối với việc thực hiện mục tiêu tăng
trưởng kinh tế: một thực tế khó có thể phủ nhận là tốc độ và tính bền
vững của sự tăng trưởng kinh tế ở nước ta phụ thuộc rất nhiều vào khu
vực kinh tế Nhà nước. với tỷ trọng vốn cũng như các nguồn lực khác
được đầu tư, quy mô lao động, tiềm năng về khoa học công nghệ, chát
xám và ưu thế về thị trường của khu vực kinh tế Nhà nước hơn hẳn so
với các thành phần kinh tế khác, tăng trưởng kinh tế của khu vực này là
một yếu tố quyết định trực tiếp đến sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh
tế. Cụ thể, quá trình CPH đã sàng lọc và đào thải những doanh nghiệp
làm ăn kém hiệu quả, tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
và động lực phát triển; CPH là giảm số lượng các DNNN thuần tuý, tức
là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước sẽ giảm bớt được một khoản bổ
sung vốn từ ngân sách Nhà nước cho những doanh nghiệp này để dành
đầu tư vào các nhu cầu phát triển khác; thông qua CPH Nhà nước thu
được một phần giá trị tài sản Nhà nước trước đây giao cho các doanh
nghiệp quản lý nhưng sử dụng kém hiệu quả; cũng với việc giảm số
lượng DNNN sẽ làm giảm nhu cầu hỗ trợ và ưu đãi về tín dụng Nhà
nước, làm giảm áp lực lên các ngân hàng thương mại quốc doanh và
các quỹ tín dụng Nhà nước, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác tiếp cận được với các nguốn vốn vay, tạo tính
bình đẳng trên thị trường; CPH DNNN gắn liền với sự xuất hiện hàng
loạt các công ty cổ phần, cùng với sự phát triển của thị trường chứng
khoán sẽ giúp các nguồn lực trong xã hội sẽ được sử dụng một cách
hiệu quả hơn; cuối cùng, CPH giúp các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả
hơn và chính chúng sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ đối với các
doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, từ đó tạo ra một vòng xoáy thúc
đẩy toàn nền kinh tế phát triển.
- CPH DNNN ở nước ta có tác dụng to lớn trong việc đẩy lùi tình
trạng lãng phí, tham nhũng đang khá phổ biến trong các DNNN và
những cơ chế quản lý chúng. Các DNNN sau CPH sẽ trở thành công ty

cổ phần, được đăng ký hoạt động theo luật doanh nghiệp. Khi đó sẽ
không tồn tại cơ chế chủ quản và cũng không còn cơ chế “xin- cho” đối
với doanh nghiệp nữa. mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp sẽ bị chi phối bởi các quy luật thị trường và pháp luật.
- CPH tác động tới các vần đề xã hội ở nhiều phương diện, ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhiều đối tượng xã hội, làm phát sinh
những mối quan hệ mới. ảnh hưởng của CPH có thể rất tích cực song
cũng có thể chứa đựng những yếu tố tiêu cực nếu không được xử lý
đúng.
- CPH và thị trường chứng khoán có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Hoạt động CPH của các DNNN cung cấp hàng hoá cho thị trường
chứng khoán, làm hàng hoá trên thị trường thêm phong phú, ngược lại
sự phát triển của thị trường chứng khoán có tác dụng thúc đẩy quá trình
CPH, làm gia tăng số cổ đông tiềm tàng cho các DNNN CPH, hỗ trợ
DNNN trong các khía cạnh như định giá doanh nghiệp, tư vấn phát
hành, bão lãnh phát hành...Ngoài ra với sự phát tiển của thị trường
chứng khoán các DNNN sau khi CPH phải thực hiện chế độ tài chính
công khai, minh bạch từ đó hoạt động sẽ hiệu quả hơn.
Những tác động nói trên của CPH đối với các DNNN đã khẳng định
tính đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình sắp xếp, đổi
mới lại DNNN. Đường đi đã được xác định rõ ràng để đạt được thành
công chúng ta cần có những bước đi đúng đắn trong quá trình thực
hiện.
1.3. Các hình thức và quy trình CPH DNNN:
1.3.1. Các hình thức CPH DNNN:
Hình thức CPH công ty Nhà nước được đưa ra trong nghị định
109/2007/NĐ- CP của Chính phủ ngày 26/6/2007 về việc chuyển doanh
nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần như sau:
- Giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ
phiếu thu hút thêm vốn bên ngoài áp dụng đối với những doanh nghiệp

CPH có nhu cầu tăng thêm vốn điều lệ. Mức vốn huy động thêm tuỳ
thuộc vào quy mô và nhu cầu vốn của công ty cổ phần. Ưu điểm của
hình thức này là quy mô được mở rộng nên nó phù hợp với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
- Bán một phần vốn vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc
kết hợp vừa bán bớt một phần vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ
phiếu để tăng vốn điều lệ. cách làm này thường được áp dụng ở các
doanh nghiệp có quy mô lớn vì các doanh nghiệp đó không dễ dàng
trong việc huy động những nguốn vốn lớn từ bên ngoài.
- Bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp
vừa bán toàn bộ vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút
vốn. Hình thức này có mức độ CPH cao nhất, theo đó Nhà nước không
còn tham gia vào việc điều hành, quản lý doanh nghiệp nữa mà chuyển
giao hẳn cho các thành phần kinh tế khác sở hữu và điều hành. Các
doanh nghiệp nhỏ, làm ăn thua lỗ hay không thuộc lĩnh vực Nhà nước
cần nắm quyền kiểm soát thường tiến hành CPH theo hình thức này.
1.3.2. Quy trình tiến hành CPH:

×