Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

TÌNH HÌNH THU HÚT FDI Ở CHÂU Á THỰC TRẠNG NHỮNG RỦI RO VÀ LỢI ÍCH CHẤU Á GẶP PHẢI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (474.23 KB, 22 trang )

TÌNH HÌNH THU HÚT FDI Ở CHÂU Á THỰC TRẠNG
NHỮNG RỦI RO VÀ LỢI ÍCH CHẤU Á GẶP PHẢI.
2.1. Châu Á – tình hình và xu hướng thu hút FDI.
2.1.1.

Nhận xét chung về tình hình các nước Châu Á hiện nay.

Vấn đề khủng hoảng nợ ở Châu Âu và Mỹ ngày nay đang trở thành một dấu hiệu

của một kết quả tất yếu: Sự mất dần vị thế thống trị của các nước phương tây.
Trong khi nhiều người nghĩ rằng cũng phải rất lâu nữa điều này mới có thể xảy ra
thì một nghiên cứu gần đây của Citi Investment đã chỉ ra sự biến đổi lớn này đang
diễn ra từng giờ.
Nhìn vào đồ thị ta thấy, nền kinh tế mới nổi ở Châu Á (không bao gồm Nhật Bản)
sẽ trở nên lớn hơn cả Mỹ và Châu Âu vào khoảng 2015. Trong khi thị phần của Mỹ
và các nước châu Âu đang dần dần nhỏ lại thì thị phầnTrung Quốc lại có thể sẽ
tăng đáng kể trong khoảng 10 năm tới.
Báo cáo của Doing Business 2010 vừa xếp hạng khả năng làm việc tại các nền kinh
tế của 183 nước trên thế giới trong giai đoạn từ 6/2008 đến 5/2009. Bảng xếp hạng

1


này cung cấp một cái nhìn tổng quát về thực trạng môi trường làm việc của các
nước trên thế giới. Trong phần này, chỉ trích ra các nước trong khu vực Châu Á:

2


Nền kinh tế


Mức
độ
dễ
làm
việc

Bắt
đầu
một
cơng
ty

Giấy
phép
xây
dựng

Tuyển
dụng
lao
động

Đăng Vay
ký sở tín
hữu
dụng

Bảo
vệ
nhà

đầu


Trả
thuế

Giao
dịch
tại
cửa
khẩu

Tn
thủ
hợp
đồng

Đóng
cửa
cơng
ty

Singapore
Hong Kong,
China
Thailand
Japan
Korea, Rep.
Malaysia
Taiwan,

China
Pakistan
Serbia
China
Zambia
Vietnam
Brunei
Darussalam
Indonesia
Nigeria
India
Syrian Arab
Republic
Philippines
Cambodia
Liberia
Uzbekistan
Tajikistan
Iraq
Sudan
Suriname
Afghanistan

1
3

4
18

2

1

1
6

16
75

4
4

2
3

5
3

1
2

13
3

2
13

12
15
19
23

46

55
91
53
88
29

13
45
23
109
97

52
40
150
61
153

6
54
71
86
30

71
15
15
1

71

12
16
73
4
73

88
123
49
24
92

12
17
8
35
33

24
20
5
59
90

48
1
12
57

11

85
88
89
90
93
96

63
73
151
94
116
153

105
174
180
151
69
74

146
94
140
116
103
4


119
105
32
94
40
183

61
4
61
30
30
113

27
73
93
73
172
119

143
136
125
36
147
22

78
69

44
157
74
48

158
97
18
87
32
160

56
102
65
83
127
37

122
125
133
143

161
108
169
133

61

162
175
131

149
37
104
91

95
178
93
82

113
87
30
181

41
57
41
119

127
132
169
105

45

146
94
118

146
94
182
176

142
94
138
87

144
145
149
150
152
153
154
155
160

162
173
57
92
143
175

118
171
23

111
145
135
142
177
96
139
98
148

115
134
121
95
143
59
153
70
69

102
116
174
133
78
53

37
168
164

127
87
135
135
167
167
135
135
127

132
73
147
119
73
119
154
180
183

135
58
85
178
162
53

93
32
55

68
127
112
174
179
180
142
101
183

118
141
166
44
39
139
146
178
164

153
183
148
125
100
183

183
149
183

Theo />Có thể nhận thấy rõ ràng từ bảng xếp hạng trên, nền kinh tế Singapore và Trung
Quốc đang dẫn đầu về chất lượng mơi trường làm việc trên thế giới nói chung và
cả Châu Á nói riêng. Để có được kết quả như vậy chứng tỏ chính phủ các nước này
3


đã có những biện pháp tích cực nhằm khuyến khích và thúc đẩy đầu tư, kinh doanh
hiệu quả.
Phần dưới đây sẽ đi vào chi tiết điểm chung và những khác biệt trong chính sách
cũng như tình hình các nước Châu Á, đặc biệt là các thị trường mới nổi:
a). Về chất lượng lao động:
Bảng dưới đây so sánh chất lượng lao động một số nước tiêu biểu trong khu vực
Châu Á so với tồn thế giới về trình độ học vấn, tay nghề, kỹ năng và mức độ
tuyển dụng – sa thải.
Tiêu chí đánh Lao
động Khả năng sẵn
giá
trình
độ có về nghiên
trung học
cứu và đào
tạo
Cambodia
108
95
China

83
46
Hong Kong
64
18
India
96
28
Indonesia
91
24
Japan
1
1
Korea
49
29
Malaysia
86
22
Philippines
61
75
Singapore
31
17
Thailand
77
66
Vietnam

81
76

Quy mô Chất lượng Dễ tuyển Dễ tuyển dụng
đào tạo hệ thống giáo dụng và sa lao động nước
nhân viên dục
thải
ngoài
89
76
21
28
40
3
18
17
35
22
30
71

81
87
7
25
23
19
38
10
61

2
41
100

68
50
13
100
77
70
66
59
82
2
65
45

62
73
24
28
14
76
118
38
104
6
84
63


Theo World Economic Forum’s Global Competitiveness Ranking Report 2006-2007
giữa 124 nước.
Có thể nhận thấy Singapore và Nhật Bản là 2 nước dẫn đầu về chất lượng lao động
hiện nay do chịu khó đầu tư vào nâng cao trình độ học vấn lao động và cơ sở vật
chất kỹ thuật, nghiên cứu cũng như chính sách thu hút nhân lực từ các nước khác.
Tuy nhiên, xét trên một số khía cạnh, lao động giá rẻ cũng đủ thu hút các công ty
đầu tư vào Châu Á, mà Việt Nam và Trung Quốc là 2 nước dẫn đầu về lực lượng
lao động không tay nghề giá rẻ. Hơn nữa, mức lương cho nhân viên văn phòng và
các giám đốc quản lý cũng là lợi thế so sánh đối với Trung Quốc, Thái Lan và Việt
4


Nam. Mặc dù vậy, nếu xem chất lượng lao động là nhân tố quyết định đối với 1 dự
án thì cơ hội cho Trung Quốc và Việt Nam là rất thấp.
b). Về chính sách bảo vệ nhà đầu tư:
Theo báo cáo gần đây, sự xuất hiện của các luật và điều lệ bảo vệ các nhà đầu tư
chiếm hơn 73% các quyết định đầu tư của các công ty. Việt Nam và Philipin cần
đẩy mạnh tính minh bạch trong giao dịch, trong khi hầu hết các nước Đông Nam Á
được xếp hạng tốt về tính minh bạch. Quan trọng hơn, Việt Nam cần tăng cường sự
bảo vệ các nhà đầu tư.
Bảng xếp hạng khả năng bảo vệ nhà đầu tư: Các bảng dưới đây so sánh dựa trên
mức độ công khai, mức độ chịu trách nhiệm trực tiếp và khả năng dễ khởi kiện của
các trái chủ, lấy trung bình 3 chỉ số này ta được bảng xếp hạng khả năng bảo vệ
nhà đầu tư của mỗi nước.
Tính
Chỉ số xếp hạng khả năng bảo vệ các nhà đầu tư minh bạch trong giao dịch
Asian Countries
Asian Countries
Extent of Disclosure Index 1-10
Protection index (0-10)

(Yr. 2010)
(Yr. 2010)
Singapore
Singapore
10
9.3
Hong Kong
Hong Kong
10
9.0
Malaysia
Malaysia
10
8.7
Thailand
Japan
10
7.0
China
Thailand
10
7.7
Indonesia
Indonesia
10
6.0
Japan
India
7
6.0

c). Về việc sử dụng lao động ở Châu Á.India
Korea
7
5.3
Korea
Cambodia
5.3

5


Báo cáo của trang web doingbusiness.org cũng đo mức độ linh hoạt trong sử dụng
lao động dựa trên điều lệ tuyển dụng, thời gian làm việc và sa thải phù hợp với quy
định của tổ chức lao động thế giới (ILO).
Chỉ số mức độ khó khăn trong sa thải lao động.
Bảng so sánh dựa trên các lý do được chấp nhận đối với việc sa thải công nhân, tái
bổ nhiệm, tái huấn luyện.

Asian Countries

Difficulty

Singapore
Hong Kong
India
Malaysia
China
Japan
Laos
Vietnam

Thailand
Korea
Cambodia
Philippines
Indonesia

of

Hiring

(Yr. 2010)
0
0
0
0
11
11
11
11
33
44
44
56
61

6

(1-100)



-

Chỉ số mức độ khó khăn trong tuyển dụng lao động

Bảng dưới đây so sánh dựa trên thời hạn tối đa của hợp các hợp đồng và mức
lương tối thiểu của thực tập viên hoặc nhân viên mới.
Asian Countries

Difficulty

Singapore
Hong Kong
Thailand
Japan
Korea
Malaysia
Philippines
Cambodia
Vietnam
China
Laos
Indonesia
India

of

Redundancy

Index


1-100

(Yr. 2010)
0
0
0
30
30
30
30
40
50
50
50
60
70

d). Về việc chi trả thuế.
Báo của của Doing Business đã khảo sát thuế và các khoản đóng góp mà một cơng
ty vừa và nhỏ phải đóng hay nắm giữ trong một năm.
Số tiền thuế phải trả một năm
7


Asian Countries

Payments (number

Hong Kong
Singapore

China
Malaysia
Japan
Korea
Thailand
Vietnam
Laos
Cambodia
Philippines
Indonesia
India

per

year)

(Yr. 2010)
4
5
7
12
13
14
23
32
34
39
47
51
59


Khoản thời gian phải bỏ ra
Thời gian bỏ ra cho việc chuẩn bị, lập hồ sơ và chi trả thuế thu nhập doanh nghiệp,
VAT và các khoản đóng góp xã
Asian Countries

Time

it

Hong Kong
Singapore
Malaysia
Cambodia
Philippines
Korea
Thailand
Indonesia
India
Japan
Laos
China
Vietnam

takes (in

(Yr. 2010)
80
84
145

173
195
250
264
266
271
355
362
504
1,050

8

hours

per

year)


Tóm tắt những phát triển và thay đổi của một số nước Châu Á.


Campuchia:

Năm 2010, Campuchia tăng mức lương trung bình hàng tháng lên 0.8% nhờ vào sự
đóng góp từ chế độ an sinh xã hội.


Trung Quốc:


Năm 2010, bộ quản lý ngoại hối của Trung Quốc nới lỏng các hạn chế tín dụng để
đối phó với khủng hoảng kinh tế tài chính. Giấy phép mua ngoại tệ khơng cịn bị
địi hỏi nữa.


Hồng Kông

Năm 2010, Hồng Kông (Trung Quốc) nới lỏng việc thành lập doanh nghiệp bằng
cách đơn giản hoá các thủ tục đăng ký và sát nhập. Nền kinh tế cũng sát lập chính
sách một cửa, cho phép 6 cơ sở địa phương và 2 cơ sở dịch vụ tư nhân làm việc
chung để xúc tiến việc phát hành các giấy phép xây dựng. Việc đăng ký sở hữu tài
sản cũng trở nên dễ hơn vì thuế trước bạn bây giờ có thể nộp qua mạng.


Ấn Độ

Năm 2010, các thủ tục kinh doanh của Ấn Độ theo điều tiết của bộ luật
Securitization Act 2002 trở nên hiệu quả hơn, nới lỏng quy trình và giảm bớt thời
gian địi hỏi việc đóng cửa một doanh nghiệp.


Indonesia

Năm 2010, Indonesia nới lỏng các quy trình thành lập cơng ty đối với các đăng ký
thành lập công ty mới bằng cách giới thiệu các dịch vụ đăng ký qua mạng, loại bỏ
một số loại giấy phép nhất định, làm cho thủ tục đăng ký hiệu quả hơn, và cắt giảm
các chi phí hành chính cơng ty, chi phí phát hành, chi phí đăng ký, chi phí giấy
phép hoạt động. Kết quả là, 2 thủ tục và 16 ngày được cắt giảm, chi phí cơng ty
mới thành lập trung bình giảm gần 52% GDP trên đầu người. Việc đăng ký sở hữu

tài sản cũng trở nên dễ dàng hơn vì các kỳ hạn của tiến trình đăng ký sổ đất được


công bố cụ thể. Hơn nữa, Indonesia đã tăng mức độ bảo vệ nhà đầu tư bằng cách
triển khai các quy định minh bạch trong giao dịch.


Lào

Năm 2010 Lào đơn giản hoá việc trả thuế bằng cách hợp nhất 3 loại thuế: thuế
doanh thu, thuế tiêu thụ và thuế thu nhập cá nhân thành một loại đơn giản hơn.
Chính phủ nước này cũng cải thiện cách thức nộp tiền và đánh thuế nhân viên văn
phòng. Thời hạn nộp thuế được giảm xuống 198 giờ một năm.


Malaysia

Năm 2010, Malaysia đơn giản hoá việc thành lập doanh nghiệp với chế độ một
cửa. Thêm vào đó, chính phủ Malay cịn cắt giảm các phí sát nhập và hợp nhất
cơng ty. Điều này cịn khá mới nên chính phủ Malay đang lên kế hoạch một
chương trình phổ biến rộng rãi hệ thống thu phí này.


Philipin

Năm 2010, Philipin tăng hiệu quả tiếp cận tín dụng bằng cách đưa ra điều luật
thơng tin tín mới nhằm điều tiết các hoạt động và dịch vụ của hệ thống thơng tin tín
dụng. Chính phủ Philipin cũng cắt giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp từ 35%
xuống còn 30% và đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu hành chính.



Thái Lan

Năm 2010, Thái Lan đơn giản hoá việc thành lập doanh nghiệp mới bằng cách cắt
giảm 1 thủ tục hành chính và một ngày trong tiến trình đăng ký cho các công ty
mới thành lập.


Việt Nam

Năm 2010 Việt Nam cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống còn 25%
và bỏ thuế phụ thu đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng sử dụng đất. Việt Nam
cũng thông qua luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới và luật thuế VAT mới. Ngồi
ra, mức độ cạnh tranh trong ngành cơng nghiệp logistics tăng cao và việc ứng dụng


cách thức quản lý hành chính mới từ khi là thành viên của WTO đã giảm bớt sự trì
trệ trong thương mại đáng kể.
Nhìn chung, các nước có được xem là thị trường mới nổi ở Châu Á đã và đang
thực hiện nới lỏng các quy định về thủ tục hành chính, đặc biệt là đối với việc
thành lập cơng ty mới, tăng cường các luật về bảo vệ nhà đầu tư và nâng cao chất
lượng lao động để ngày càng thu hút nguồn vốn FDI trên thế giới.

2.1.2.

Tình hình FDI của khu vực Châu Á.


Theo khảo sát của UNCTAD 2009-2011, Châu Á đang thu hút một lượng FDI lớn
nhất trong so với các khu vực đang phát triển khác và đang trở thành một địa điểm

lý tưởng nhất để đầu tư vào trong vòng 3 năm tới. 5 nước Châu Á bao gồm: Trung
Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan đang được đánh giá là 5 trong 15
địa điểm thu hút nguồn vốn FDI nhiều nhất.
Tình hình FDI cụ thể qua các năm:
a). Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Bất chấp tác động của khủng hoảng kinh tế tài chính tồn cầu lên các nền kinh tế
các nước nhận FDI tại Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á lẫn các nước đi đầu tư,
tổng lượng FDI vào các khu vực này tăng 17%, đạt $300 nghìn tỷ. Có 14 nước


tăng nhận FDI, phần lớn trong số đó là do hoạt động thâu tóm và sát nhập qua biên
giới. Giá trị rịng của hoạt động này lên đến $51 nghìn tỷ.
Tuy nhiên dòng vốn FDI đổ vào bắt đầu giảm từ đầu năm 2009, đặc biệt là ở nền
kinh tế lớn như Trung Quốc, Ấn Độ và doanh số các cơng ty thâu tóm và sát nhập
giảm đáng kể trong nửa năm đầu 2009 cịn $16 nghìn tỷ. Giống như nhiều khu vực
đang phát triển khác, Đông Á, Nam Á và Đơng Nam Á khơng thể thốt khỏi cú sốc
kinh tế từ khủng hoảng tài chính tồn cầu. Cụ thể hơn, bởi vì nền kinh tế các khu
vực này phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu, nên một sự sụt giảm trong nhu cầu hàng
hố dịch vụ từ nước ngồi dẫn đến làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực
vào q 4/2008.
Dịng FDI chảy vào Đơng Á, Đơng Nam Á và Nam Á trong năm 2008 lần lượt là
$187 nghìn tỷ, $60 nghìn tỷ, $51 nghìn tỷ. Nếu như năm 2007, tốc độ tăng dòng
FDI vào 3 khu vực này tương đối bằng nhau thì sang năm 2008 có một sự khác
biệt đáng kể: 49% ở Nam Á, 24% ở Đông Á và -14% ở Đông Nam Á. Mức độ thu
hút FDI của các khu vực cũng có sự khác nhau lớn. FDI vào 2 nền kinh tế mới nổi
lớn nhất là Trung Quốc và Ấn Độ tiếp tục tăng trong năm 2008. Trong 4 nước
Châu Á thuộc nhóm NIEs, dịng FDI tăng mạnh ở Hàn Quốc và tiếp tục tăng ở
Trung Quốc nhưng lại giảm đáng kể ở Singapore và Đài Loan. Ở Malaysia và Thái
Lan, dòng FDI giảm nhẹ. Một số nước khác ở Đông Nam Á, bao gồm Indonesia và
Việt Nam, đã chứng tỏ được khả năng duy trì dịng FDI qua khủng hoảng.

Một điểm đáng lưu ý là dòng vốn FDI chảy vào khu vực này trong vài năm gần
đây từng bước đóng vai trò rất quan trọng đối với các nền kinh tế nhận FDI, đặc
biệt là Trung Quốc và Ấn Độ. Với dòng FDI vào tăng vượt trội, đạt mức cao nhất
trong lịch sử ($108 nghìn tỷ) trong năm 2008, Trung Quốc trở thành nước nhận
FDI cao thứ 3 trên thế giới (sau Mỹ và Pháp). Ấn Độ xếp ở vị trí thứ 10. Trung
Quốc và Ấn Độ cũng được xếp ở vị trí dẫn đầu và vị trí thứ 3 các nền kinh tế mới
nổi và là nơi thu hút FDI lớn trên thế giới theo UNCTAD.


b). Tây Á.
Dòng vốn FDI chảy vào Tây Á tăng 16% lên $90 nghìn tỷ trong năm 2008, đánh
dấu năm thứ 6 tăng liên tiếp. Thị phần của khu vực trong tổng số vốn FDI chảy vào
các nước đang phát triển tăng 15% trong năm 2008, so với lượng một lượng khơng
đáng kể 3% năm 2002. Nhìn chung, dịng FDI chảy vào Tây Á chủ yếu là các nước
Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ và Irắc, đặc biệt là từ năm 2003. Lượng FDI này chiếm
khoảng 75% tổng lượng FDI tích luỹ từ 2003 đến 2007 và lên đến 78% trong năm
2008. 3 nước kể trên cũng là 3 nước hút FDI nhiều nhất trong khu vực, chiếm
khoảng 70% tổng lượng FDI tập trung vào Tây Á năm 2008.
Sự tăng FDI năm 2008 chủ yếu là do lượng FDI tăng lớn ở khu vực Saudi Arabia,
tăng 57% đến $38 nghìn tỷ. Lượng tiền vào các ngành cơng nghiệp hố dầu và tinh


chế lên đến $12 nghìn tỷ, tăng 57% so với năm trước đó. Lượng tiền vào bất động
sản tăng gấp 4 lần, đạt $7.9 nghìn tỷ.
Cho đến tháng 9/2008, lượng FDI vào Tây Á vẫn tăng đáng kể do giá dầu tăng
mạnh. Các thành viên của Hội đồng hợp tác vùng vịnh (GCC) đã sử dụng nguồn tài
nguyên dầu mỏ dồi dào của mình để thực hiện các dự án lớn trong nhiều lĩnh vực
công nghiệp khác nhau như công nghệ tinh chế, hố dầu, điện, nước, truyền thơng,
bất động sản, du lịch và giải trí. Trong mỗi dự án, mức phụ thuộc vào nguồn vốn
FDI ngày càng tăng, chi phí tài chính khơng nhiều nhưng phải trả những khoản lớn

cho dây chuyền công nghệ, các chuyên gia và các giám đốc quản lý.
Giá dầu đột ngột sụt giảm mạnh và từng bước khiến cho viễn cảnh nền kinh tế toàn
cầu trở nên tồi tệ hơn bắt đầu từ cuối quý 3/2008. Các nước khu vực này bắt đầu
phải đối mặt với nguy cơ thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai lần
đầu tiên trong suốt 5 năm và các dự án đang triển khai ở các nước phải đối mặt với
những khó khăn lớn từ khủng hoảng tín dụng và viễn cảnh kinh tế tồn cầu. Các
ngân hàng quốc tế từng sẵn sàng cho các dự án của các nước thuộc GCC vay đột
ngột quay lưng lại. Cuối năm 2008, chỉ còn khoảng 12 ngân hàng chủ động tìm
kiếm các hợp đồng dự án tài chính, giảm từ mức 45 ngân hàng năm 2006. Kết quả
là các dự án quan trọng về dầu mỏ và gas, cơng nghiệp hố và cơ sở hạ tầng từng
thu hút nhiều nguồn FDI nhiều nhất phải bị hoãn lại.


Trong khi dòng vốn FDI chảy vào khu vực Tây Á vẫn còn giữ ở mức cao trong
suốt cuộc khủng hoảng 2008 thì doanh số của các cơng ty thâu tóm và sát nhập qua
biên giới giảm 36% xuống cịn $14.7 nghìn tỷ trong năm 2008 do sự sụt giảm các
dòng tiền ròng của MNCs từ các nước phát triển (giảm 71% xuống cịn $4.2 nghìn
tỷ), từ các nước đang phát triển sụt giảm nhẹ (giảm 5%).
Trong nửa năm đầu 2009, doanh số các cơng ty thâu tóm và sát nhập qua biên giới
giảm chỉ cịn %1.4 nghìn tỷ.
2.1.3.

Lợi ích và rủi ro của MNCs đầu tư bằng vốn FDI.

Trong bất kỳ một hình thức đầu tư nào, lợi nhuận luôn là mục tiêu lớn nhất, tuy
nhiên, rủi ro cũng đã trở thành một thành phần cố hữu trong chính sự đầu tư đó.
Đầu tư quốc tế cũng khơng ngoại lệ, lợi nhuận cao, và vì thế, rủi ro cũng trở nên
khó kiểm sốt hơn. Tuy nhiên, bằng cách đa dạng hóa đầu tư qua các quốc gia khác
nhau, nơi mà các chu kỳ kinh tế khơng hồn tồn như nhau, MNCs có thể giảm
thiểu sự sụt giảm trong lợi nhuận kinh doanh.

2.1.3.1.

Lợi ích:

a). Đảm bảo sự ổn định trong lợi nhuận.


- Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải chịu sự ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh của
nền kinh tế mà mình đang hoạt động. Khi một cơng ty hoạt động trong thời kỳ mà
nền kinh tế trong nước đã đến giai đoạn hưng thịnh hay suy thối, thì việc bắt tay
tìm kiếm một thị trường mới là một vấn đề cần thiết. Ở những quốc gia khác nhau
có các chu kỳ kinh tế không giống nhau, tuy nhiên cũng khơng q khác do xu
hướng tồn cầu hóa. Việc mở rộng đầu tư qua những quốc gia mới sẽ đảm bảo lợi
nhuận cho MNCs, có thể làm tăng tổng lợi nhuận hay giảm thiểu việc giảm sút do
suy thoái ở nước có trụ sở chính. Đặc biệt, những MNC hoạt động trong những
ngành mới, kỹ thuật cao có thể tìm kiếm một chu kỳ kinh doanh mới ở thị trường
Châu Á do phần lớn là các nước mới nổi, đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ.
Châu Á được phân ra nhiều khu vực, mỗi khu vực có một sức hút với mỗi ngành
khác nhau.
b). Mở rộng thị trường và gia tăng thương hiệu công ty.
Hầu hết các quốc gia Châu Á là các thị trường mới nổi, dân số đông nên triển vọng
mở rộng thị trường của MNCs là hết sức khả quan. Theo Internet Worlfd Stats (số
liệu cập nhật 30/06/2010),ước tính năm 2010, dân số Châu Á chiếm 56% dân số
tồn thế giới.

Sau khi khủng hoảng tài chính qua đi, nhu cầu của Mỹ và châu Âu vẫn chưa đủ mạnh,

nhưng với số lượng dân số đang tăng trưởng, tầng lớp trung lưu không ngừng gia tăng và chi tiêu đầu tư
mạnh mẽ của châu Á đã tạo tiềm lực tăng trưởng cho MNCs.


Việc MNCs tiến hành đầu tư ra các nước Châu Á cịn có thể tận dụng được những
lợi thế so sánh tốt hơn. Đồng thời, Châu Á cũng là một khu vực đang trong giai
đoạn tăng trưởng, những yếu tốt nhân lực, vật lực cũng như các chính sách hỗ trợ
cũng mang lại một sự thuận lợi cho MNCs qua việc có được các chi phí sản xuất
tốt hơn, hợp lý hơn. Mang lại một tỷ suất sinh lời cao hơn. Theo các nghiên cứu,
phần lớn lợi nhuận của MNCs là thu được từ hoạt động ở nước ngồi.


Trong năm 2010, lợi nhuận của Ngân hàng HSBC tại Hong Kong tăng trưởng 13%, còn lợi nhuận tại
các khu vực khác ở châu Á lại tăng tới 36%.




Lợi nhuận quý 2 của Ngân hàng Standard Chartered đạt 3,21 tỷ USD, 73% trong đó bắt nguồn từ châu Á.



Lợi nhuận của ngân hàng này tại châu Mỹ, Anh và châu Âu lại chỉ chiếm có 4%.
Akzo Nobel – hãng sản xuất sơn lớn nhất thế giới cho biết, doanh thu tiêu thụ của công ty tại châu Á
trong quý 2 đã thực hiện được mức tăng trưởng năm là 76%. Lợi nhuận quý 2 của công ty này là 351 triệu
USD. Hoạt động kinh doanh ở châu Á chiếm 20% thu nhập toàn cầu.

Biểu đồ cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP của một số quốc gia Châu Á vẫn rất cao,
một số quốc gia vẫn chưa thực sự phục hồi sau khủng hoảng nhưng những con số
cho thấy một tình hình khả quan. Châu Á hiện là đầu tàu cho sự phục hồi sau suy
thoái.
Định vị thương hiệu tốt thông qua qui mô tầm quốc tế sẽ mang lại một vị thế
thương mại tốt hơn, góp phần gia tăng doanh thu. Thương hiệu MNCs cũng nhờ đó
có sức ảnh hưởng nhiều hơn, tạo nên sự uy tín cao hơn cho MNCs.

2.1.3.2. Rủi ro,


Việc chọn lựa một thị trường để MNCs thực hiện FDI chủ yếu dựa trên mức lợi
nhuận thu được. Tuy nhiên, có một số vấn đề đi ngược lại với mục tiêu đó. Đó là
rủi ro mà MNCs phải đối mặt. So với hoạt động nội địa, việc triển khai đầu tư ra
nước ngồi cũng gặp nhiều khó khăn, rủi ro cao hơn.
a). Chính sách phát triển kinh tế xã hội:


Lạm phát: Tình hình giá cả tồn cầu đang leo thang và Châu Á lại là khu vực có
giá cả tăng mạnh nhất. Tình hình lạm phát có thể đẩy chi phí sản xuất tăng cao, làm
triệt tiêu các lợi thế so sánh đáng lẽ nhận được. Từ đó, khả năng làm cho thu nhập
rịng chuyển về cơng ty mẹ bị ảnh hưởng xấu là rất lớn.

Trong biều đồ, lạm phát ở những nước đang phát triển ở Châu Á liên tục chiếm một
tỷ trọng lớn trong tổng tỷ lệ lạm phát thế giới qua nhiều năm.


Tỷ giá: là một chính sách quan trọng làm ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền thu
vào của MNCs. Như đồ thị cho thấy, chỉ trong vòng 2 năm, sự thay đổi tỷ giá của
các quốc gia tăng giảm với những con số ngẫu nhiên, có khi rất cao đến gần 30%
như ở Hàn Quốc, nhưng cũng rất nhỏ như ở Trung Quốc, chưa đến 5%. Như vậy,
MNCs khi đầu tư vào các nước Châu Á cũng đã phải cân nhắc yếu tố này rất nhiều




Lãi suất: lãi suất đi đôi với lạm phát. Châu Á là khu vực có mức tăng giá nóng nhất
trên thế giới, nên khó có một mức lãi suất ổn định. Có thể là bất lợi, cũng có thể là

có lợi. Nếu MNCs thực hiện FDI trong lĩnh vực sản xuất theo mơ hình khơng tập
trung, mức lãi suất tăng cao có thể gây khó khăn cho việc chi trả lãi vay, MNCs
đầu tư trong lĩnh vực tài chính có thể có tìm kiếm lợi nhuận. Tất cả khơng thể chỉ
xét trong một nhân tố lãi suất, mà còn phải xét trong các nhân tốt tác động tổng thể



lẫn nhau để có một nhận định chính xác nhất.
Các qui định, chế độ hành chính, pháp luật có thể khơng phù hợp với loại hình đầu



tư của MNCs.
• Các chính sách bảo hộ nhà sản xuất trong nước
Định hướng phát triển của quốc gia có thể hạn chế những ngành mà MNCs đầu tư



vào
Qui định khắc khe về mơi trường sinh thái của một số quốc gia, như Singapore,
Nhật Bản,… có thể trở thành rào cản cho một số công ty, có thể qui định sẽ làm
tăng chi phí cho yếu tố mơi trường, làm dự án đầu tư khơng cịn khả thi.
b). Trình độ lao động chưa đáp ứng được yêu cầu cao của MNCs.


Khoảng 10-15 năm gần đây, ASEAN đang trở thành một khu vực có hoạt động di chuyển lao động quốc
tế mạnh. Phần lớn di chuyển lao động có chun mơn cao (khoảng 80%) đến từ Mỹ, Châu Âu, Úc, dưới
danh nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài và theo yêu cầu của chính phủ các nước ASEAN.
Theo JETRO, hiện ASEAN thiếu khoảng 54,1% lao động chuyên môn trong ngành cơ khí và 39,7% lao
động chun mơn trong ngành điện, điện tử.


c). Khả năng xuất hiện đối thủ cạnh tranh
Với một thị trường đầy tiềm năng như Châu Á thì khả năng xuất hiện đối thủ cạnh
tranh, MNCs khác cùng hoạt động là không thể tránh khỏi.
Thị trường Châu Á đã và đang chứng kiến sự đổi bộ của hàng loạt MNCs họat
động trong cùng lĩnh vực, là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp như P&G và
Unilever về hàng tiêu dùng; big four (Deloitte & Touch, KPMG, Ernst & Young,
Pricewaterhouse Coopers) trong lĩnh vực kiểm toán; chuỗi các cửa hàng thức ăn
nhanh như Lotteria, KFC, Mc.Donald’s,…
d). Văn hóa tiêu dùng cũng là một yếu tố MNCs phải xem xét.
Các thị trường khác của châu Á có xu hướng chuộng dùng hàng hiệu hơn các khu vực khác trên thế giới.
Trong kết quả khảo sát của Synovate – một hãng chuyên nghiên cứu thị trường, các nhà phân tích nhận
thấy sự khác biệt trong tâm lý của người tiêu dùng khu vực châu Á và các khu vực khác.
Trong khi một nửa số người tham gia khảo sát ở Mỹ cho biết họ cảm thấy áy náy khi mua hàng xa xỉ và
xem những món hàng này là thứ vượt quá mức cần thiết, thì những người Ấn Độ giải thích họ mua hàng
hiệu vì chất lượng của sản phẩm và vì đó là một phong cách sống. Gần 3/4 số người được hỏi ở Ấn Độ
cho rằng không thấy áy náy gì khi mua một sản phẩm xa xỉ. Tại UAE, tỷ lệ chuộng dùng sản phẩm hàng
hiệu cũng rất cao lên đến 58%.

Các nhóm tiêu dùng thương hiệu tại châu Á: gồm có năm phân khúc riêng biệt.
• Những người thích thương hiệu “mới” (21%): thích cái mới, bởi nó là mới lạ và
khác biệt.
• Những người tìm kiếm giá trị đích thực (23%): Tìm kiếm giá trị gia tăng, sự kết
nối tình cảm và sự tin cậy, khao khát giá trị ngồi chức năng thơng thường.
• Những người tin vào chủ nghĩa cá nhân (21%): Thích những thương hiệu sành


điệu, hợp thời trang nhưng nổi tiếng, đặt những tiêu chuẩn cao nhất cho các thị
hiếu của mình.
• Những người tìm kiếm địa vị (19%): Chạy theo những thương hiệu hàng đầu, cần

sự đảm bảo và chứng nhận rằng họ đang sở hữu những gì tốt nhất.
• Những người coi trọng chức năng của sản phẩm (16%): Thực tế và thực dụng, bị
thu hút bởi chất lượng và độ bền.



×