Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (180.21 KB, 24 trang )

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO THEO NHU CẦU Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM HỢP TÁC CHUYÊN
GIA VÀ KỸ THUẬT VỚI NƯỚC NGOÀI
1.Quá trình hình thành
Trung tâm hợp tác chuyên gia và kỹ thuật với nước ngoài được thành lập
vào ngày 28 tháng 2 năm 1989 theo quyết định số 212 của Bộ trưởng Bộ Đại
học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo),
trước đó là Cục chuyên gia thuộc Chính phủ. Trong quyết định này có nêu rõ
Trung tâm trực thuộc Bộ Đại học, THCN và DN, Trung tâm hoạt động theo chế
độ hạch toán kinh tế, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài
khoản tại Ngân hàng. Mọi hoạt động của trung tâm phải đảm bảo theo đúng
pháp luật của Nhà nước và các quy định của Bộ.
Trung tâm hợp tác chuyên gia và kỹ thuật với nước ngoài – Bộ GD-ĐT là
đơn vị trực tiếp quản lý chuyên gia giáo dục làm việc ở nước ngoài. Trung tâm
hiện đang thực hiện tuyển chọn, đào tạo ngoại ngữ và đưa chuyên gia đi làm
việc tại các nước như Angola, Algierie, Công Gô, Madagascar, Môdămbique,
Nhật bản, Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nga, Lào, Campuchia, Malaysia và một số nước
khác trên thế giới.
2. Chức năng, nhiệm vụ vủa trung tâm
2.1. Chức năng
Trung tâm hợp tác chuyên gia và kỹ thuật với nước ngoài là tổ chức kinh
tế trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, có chức năng làm dịch vụ đưa chuyên gia
và người lao động (bao gồm: chuyên gia giáo dục, chuyên gia kỹ thuật và các
dạng lao động khác) đi làm việc ở nước ngoài theo quy định, chế độ chính sách
của Nhà nước và của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2.2. Nhiệm vụ
+ 02 nhiệm vụ nêu trong quyết định số 2447/QĐ ngày 19/9/1991:

11
- Tiến hành tổ chức đưa người Việt Nam đi học tập, thực hành nâng cao


trình độ theo nguyện vọng cá nhân và khả năng tiếp nhận của các cơ sở ngoài
nước, trên cơ sở chủ trương của Bộ và quy định của Nhà nước;
- Làm môi giới, giới thiệu, lo thủ tục ở trong và ngoài nước cho các đối
tượng trên.
+ 08 nhiệm vụ trong Quyết định số 1556/TCCB ngày 3/8/1992:
- Lập kế hoạch hợp tác chuyên gia và lao động kỹ thuật khác;
- Khảo sát tiếp cận thị trường lao động, ký kết các hợp đồng về: Hợp tác
chuyên gia giáo dục, chuyên gia kỹ thuật và lao động có nghề;
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay
nghề, trình độ ngoại ngữ để chuẩn bị đội ngũ chuyên gia giỏi, lao động có kỹ
thuật cao, biết ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu thị trường lao động hoặc bên sử dụng
lao động;
- Tổ chức tuyển chọn chuyên gia giáo dục, chuyên gia kỹ thuật và người
lao động có nghề đi làm việc ở nước ngoài thông qua hợp đồng với các đơn vị,
tổ chức hoặc cá nhân người lao động;
- Đề xuất với Bộ và thực hiện các chế độ có liên quan, các quy định về
nghĩa vụ và quyền lợi cho các đơn vị, cá nhân theo hợp lao động đã ký kết;
- Phối hợp làm các thủ tục du học tự túc;
- Liên doanh, liên kết với các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước về
các mặt hoạt động theo chức năng nhiệm vụ đã được quy định;
- Thực hiện các chế độ tài chính có liên quan, sử dụng ngoại tệ theo quy
định của nhà nước và của Bộ
3. Nhân sự và cơ cấu tổ chức của trung tâm
a. Nhân sự

22
Số lượng cán bộ của Trung tâm hiện nay là 46 người: trong đó 4 biên chế,
42 hợp đồng (2 tiến sĩ, 5 thạc sĩ, 37 đại học, 2 trung cấp); hiện có 30 cán bộ
đang làm việc tại trung tâm, 8 cán bộ đang làm chuyên gia ở nước ngoài, 8 cán
bộ được cử đi đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ ở nước ngoài (1 tiến sĩ, 7 thạc sĩ). Cụ thể

được thể hiện ở bảng sau đây:

33
SỐ LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN CỦA TRUNG TÂM HỢP TÁC CHUYÊN GIA
VÀ KỸ THUẬT VỚI NƯỚC NGOÀI
Tổng só
CBCNV
Biên
chế
Hợp
đồng
dài hạn
Trình độ
Đang
làm
việc tại

quan
Đang
làm
việc ở
nước
ngoài
Đang đào tạo ở
nước ngoài
Đang đào tạo
trong nước
Tiến sĩ Thạc sĩ Đại học
Trung
cấp

Tiến sĩ Thạc sĩ Tiến sĩ Thạc sĩ
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13)
46 4 42 2 5 37 2 30 8 1 7 0 1
Ghi chú:
Tổng số CBCNV là 46 người trong đó:
- Làm việc tại cơ quan: 30 người
- Làm việc tại nước ngoài: 8 người
- Học tập ở nước ngoài: 8 người

44
b. Cơ cấu tổ chức
CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TRUNG TÂM HỢP TÁC CHUYÊN GIA
VÀ KỸ THUẬT VỚI NƯỚC NGOÀI

GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
ĐẠI
DIỆN Ở
NƯỚC
NGOÀI
BAN DỰ
ÁN
PHÒNG
TÀI VỤ
PHÒNG
HÀNH
CHÍNH
TỔNG
HỢP
BAN

CHUYÊN
GIA
BAN DU
HỌC
55
II: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA
TRONG THỜI GIAN QUA
Đào tạo theo nhu cầu là mục tiêu của đổi mới giáo dục nghề nghiệp, giáo
dục đại học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ đắc lực cho quá
trình CNH – HĐH đất nước. Nó không chỉ là trách nhiệm của nhà trường; của
Bộ, ngành trung ương, địa phương mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Trong
mối quan hệ đa chiều này nhà nước đóng vai trò điều phối dẫn đường thúc đẩy
các mối quan hệ giữa nhà trường và nhà tuyển dụng, các ngành kinh tế mà đại
diện là các doanh nghiệp làm cho cung cầu xích lại gần nhau vì lợi ích chung.
Nhận thức được tầm quan trọng của đào tạo theo nhu cầu, toàn ngành
giáo dục đã có rất nhiều biện pháp để nhằm chuyển hướng nền giáo dục như
phát động các phong trào thi đua giảng dạy, mới đây Thứ trưởng kiêm Bộ
trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã phát động phong trào:
“hai không - Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu
của xã hội". Tuy nhiên từ trước đến nay vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội chưa
trở thành vấn đề chung của toàn xã hội do đó kết quả đạt được còn rất hạn chế
và nhiều khi vẫn mắc phải những lỗi của nền giáo dục cũ. Nên một bộ phận
không nhỏ sinh viên của chúng ta sau khi ra trường vẫn phải đứng trước thực
trạng thất nghiệp hoặc có xin được việc cũng đa phần là trái ngành trái nghề. Và
doanh nghiệp cũng phải chịu trận cùng khi muốn đến kỳ tuyển dụng phải đỏ
mắt mới tìm được những người có thể đảm đương được công việc ở vị trí mà
doanh nghiệp tuyển, thậm chí còn phải đào tạo lai.Tôi xin đơn cử một ví dụ
trong lĩnh vực du lịch - một trong những lĩnh vực tạo ra đóng góp lớn cho GDP:
Theo dự báo của ngành du lịch, đến năm 2010, nước ta sẽ tiếp đón từ 5,5
đến 6 triệu lượt khách du lịch và khoảng 25 triệu khách nội địa. Do vậy, nguồn

lực sẽ cần đến 1,4 triệu lao động. Trong đó, lao động trực tiếp sẽ khoảng
350.000 người. So với con số lao động thực tại (tính đến cuối năm 2007) thì tỉ lệ

66
tăng bình quân mỗi năm phải vào khoảng 8,5% (ước tính khoảng 19.000
người/năm).
Trong khi đó, với tổng số cơ sở đào tạo du lịch của ta hiện nay chỉ có 70
cơ sở, có năng lực đào tạo cho khoảng 13.000 người mỗi năm (kể cả hệ đại học
lẫn trung cấp). Và qua khảo sát thực tế, ngành cũng đưa ra nhận định: Tuy lao
động của ngành phát triển nhanh về số lượng, nhưng chất lượng chưa đảm bảo,
đặc biệt là chuyên môn nghiệp vụ, chưa theo kịp đòi hỏi ngày càng cao và đa
dạng của hoạt động du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Theo nhận định từ phía Bộ GDĐT thì lao động có trình độ đã qua các lớp
đào tạo du lịch từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và đại học - lực lượng lao động
trực tiếp phục vụ khách, trực tiếp cung cấp sản phẩm đến người tiêu dùng - chỉ
chiếm chưa đến 20% lao động toàn ngành (19,8%). Trong đó, số lao động được
đào tạo đại học và sau đại học của ngành chỉ chiếm 7,4% số lao động có chuyên
môn về du lịch.
Trong khi, quy mô tuyển sinh của các cơ sở đào tạo du lịch cũng ngày
càng tăng, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội. Theo Thứ trưởng
Bành Tiến Long - Bộ GDĐT, tuyển sinh hàng năm ở các bậc đào tạo chỉ mới
đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu đào tạo du lịch của xã hội và gần 80% nhu
cầu thực tế của ngành du lịch.
Điều này không chỉ xuất hiện trong ngành dịch vụ du lịch mà còn xuất
hiện ở nhiều ngành nghề khác như ngành ngân hàng - tài chính các doanh
nghiệp cũng rất vất vả để tìm được người đáp ứng được các yêu cầu của công
việc. Ví dụ: Một cán bộ Ngân hàng Quốc tế (VIB Bank) cho biết, cứ mỗi đợt
tuyển dụng, VIB Bank lại nhận được hàng ngàn đơn ứng cử. Nhưng tỷ lệ trúng
tuyển không cao, nhiều khi phải đăng tuyển nhiều lần cho một vị trí tuyển dụng
mới chọn được người đạt yêu cầu. Phần lớn nhân viên mới đều cần thêm 2 - 6

tháng để đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ và kỹ năng làm việc.

77
Tình trạng này hiện nay khá phổ biến ở các công ty khi có nhu cầu tuyển
dụng. Như vậy công việc dành cho người lao động là rất lớn song chính người
lao động đã bỏ mất cơ hội của mình. Sở dĩ lao động nước ta luôn gặp khó khăn
trong vấn đề tìm việc làm phù hợp với những gì đã học và phù hợp với nhu cầu
của nhà tuyển dụng chính là xuất phát từ hệ thống giáo dục của nước ta còn
nhiều bất cập mà yếu tố chính là do giáo dục nước ta chủ yếu đào tạo cái mình
có chứ không quan tâm đến cái thị trường cần. Hay nói cách khác cung và cầu
lao động ở nước ta còn quá vênh.
Một điều đáng buồn nữa là theo điều tra trong quý II/2007, nhu cầu lao
động của 45/56 ngành nghề tăng cao đáng kể, tập trung vào những ngành nghề
đòi hỏi chuyên môn và trình độ cao. Trong khi đó, theo khảo sát, nếu nguồn
cung tăng khoảng 30%, thì nhu cầu nguồn lao động lại tăng đến 142% so với
quý trước. Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới (năm 2007) thì tại
Việt Nam, khoảng 60% lao động trẻ tốt nghiệp từ các trường dạy nghề và
trường cao đẳng cần được đào tạo lại ngay sau khi tuyển dụng. Một số doanh
nghiệp phần mềm cần đào tạo lại ít nhất 1 năm cho khoảng 80%-90% sinh viên
tốt nghiệp vừa được tuyển dụng.
TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp VN lý giải:
“Bán cái khách hàng cần, thay vì bán cái mình có” là câu châm ngôn tưởng như
đơn giản nhưng không phải dễ thực hiện. Bản chất của nó là các đơn vị đào tạo
phải xuất phát từ phân tích nhu cầu của khách hàng trước khi bắt tay vào “sản
xuất”. Và chất lượng của “sản phẩm” cũng do khách hàng đánh giá và quyết
định. Thiết kế nội dung đào tạo hiện nay vẫn đang gặp nhiều trở ngại do thiếu tư
duy “định hướng khách hàng” và do đó chất lượng đào tạo cũng đương nhiên
chưa đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng.
Như vậy, kết quả quá trình đào tạo theo nhu cầu xã hội của nước ta trong
thời gian qua chưa đạt được như mong muốn, vẫn còn nhiều mặt hạn chế mà

chúng ta cần phải khắc phục kịp thời trong thời gian tới. Dưới đây tôi xin nêu ra
một số thành tựu chúng ta đã đạt được cũng như những hạn chế còn vướng mắc.

88
1. Những thành tựu đã đạt được từ hoạt động giáo dục đào tạo
Trong nhiều năm qua cùng với các lĩnh vực khác của xã hội như y tế, văn hoá xã hội …
đang thay đổi từng ngày theo nhu cầu của xã hội, giáo dục cũng có những bước chuyển mình
thành công trong việc từng bước đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội
cụ thể:
Thứ nhất: Hệ thống giáo dục đào tạo nghề nghiệp bao gồm các trường
đại học và cao đẳng, hệ thống các trường trung học chuyên nghiệp và hệ thồng
các trường nghề đã đòng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế, cung cấp hang
triệu lao động mỗi năm ở các trình độ khác nhau với số lượng ngày càng tăng,
chất lượng dần được nâng cao.
Thứ hai: Cơ cấu trình độ đào tạo giữa đại học, cao đẳng, trung cấp
chuyên nghiệp và dạy nghề đã được điều chỉnh. Năm 2000 tỷ trọng cơ cấu trình
độ ĐH/CĐ/TCCN/CN là 1/0/0,7/1.1; tỷ lệ hiện nay là: 1/0,4/0,9/3,8. Nguồn
nhân lực trình độ nghề tham gia lao động trực tiếp tăng nhanh.
- Về số lượng: Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo năm
2000: năm 2001 – 2002 cả nước có 77 trường đại học, 114 trường cao đẳng và
252 trường TCCN . Năm 2005 – 2006 số trường đại học là 148 trường tăng
92%; cao đẳng 163 trường tăng 42,9%; TCCN là 284 trường tăng 12,7%. Số
sinh viên, học sinh học trong các cơ sở đào tạo năm 2001 – 2002: đại học
763.256, cao đẳng 210.836, TCCN 271.175. Con số tương ứng năm học 2005 –
2006: đại học 1.087.813 tăng 42,53%, cao đẳng là 299.294 tăng 41,95%, TCCN
là 500.252 tăng 84,47%. Khối dạy nghề hết năm 2006 cả nước có 262 trường
dạy nghề và 599 trung tâm dạy nghề. Số học sinh học nghề dài hạn năm 2001 là
126.100, năm 2005 là 228.600 tăng 79.69%
- Về chất lượng: Cơ bản nguồn nhân lực có trình độ đào tạo đáp ứng được
những yêu cầu thiết yếu của nền kinh tế và thị trường lao động. Nhiều chương

trình đào tạo mới đã được mở và đưa vào áp dụng đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu của toàn xã hội như khoa học máy tính, cộng nghệ thông tin, tự động
hoá, cơ điện tử, công nghệ cơ khí, nuôi trồng thuỷ sản, tài chính, ngân hang, các
ngành dịch vụ và du lịch. Cho đến nay số chương trình đào tạo áp dụng đang

99

×