Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

LÍ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GTGT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (196.62 KB, 19 trang )

LÍ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GTGT
1.Khái quát chung về thuế GTGT.
Luật thuế GTGT đã được thông qua trong kì họp thứ XI Quốc hội khóa IX
ngày 10 tháng 5 năm 1997 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1999. Việc thay
thế thuế doanh thu trước đây bằng thuế GTGT được coi là một trong những thành
công quan trọng trong cải cách thuế ở nước ta cho phù hợp với tình hình mới. Đến
nay lí luận về thuế GTGT vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện về mặt
pháp lí cũng như việc áp dụng vào thực tế.
1.1.Khái niệm về thuế GTGT
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu được tính thêm trên phần giá trị tăng
thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến
tiêu dùng.
Với khái niệm trên, thuế GTGT là loại thuế được thu theo sự phân đoạn của
quá trình sản xuất – lưu thông hàng hóa, dịch vụ từ khâu đầu đến khâu cuối cùng
trong một chu trình sản xuất – lưu thông hàng hóa, dịch vụ từ khâu đầu đến khâu
cuối cùng trong một chu trình kinh tế khép kín. Xét trên phạm vi toàn xã hội, thuế
GTGT được tính trên tổng giá trị sản phẩm hàng hóa lưu thông trên thị trường.
1.2.Cơ sở ra đời thuế GTGT
Thuế GTGT được áp dụng ở nước ta từ ngày 01 tháng 01 năm 1999. Trước
đó trong một thời gian dài nước ta sử dụng thuế doanh thu. Đây là loại thuế gián
thu, thu trên doanh thu của doanh nghiệp nhằm động viên một phần thu nhập của
người tiêu dùng cho ngân sách Nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội, kiểm soát
kinh doanh, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.
Thuế doanh thu được tính như sau:
Thuế doanh thu phải nộp = Doanh thu tính thuế x Thuế suất tương ứng (1)
Trong đó: doanh thu tính thuế là tổng doanh thu bán hàng chưa trừ một phí tổn
nào. Thuế doanh thu được thu hàng tháng và được hạch toán như một khoản giảm
trừ doanh thu.
Có thể thấy việc tính toán thuế phải nộp khá đơn giản vì được thực hiện trực
tiếp trên doanh thu bán hàng mà không phải qua bước trung gian là xác định thuế
đầu vào, đầu ra như của thuế GTGT. Song chính bản thân cách tính thuế cũng làm


nảy sinh không ít bất cập:
Thứ nhất, là sự trùng lắp trong cách tính thuế, thuế đánh chồng lên thuế. Nếu
gọi T là thuế doanh thu phải nộp, Dt là doanh thu tính thuế, Gt là giá trị tăng thêm,
Cp là toàn bộ chi phí đầu vào tham gia cấu thành giá trị mới và t là thuế suất doanh
thu thì công thức (1) có thể biểu diễn lại như sau:
T = Dt x t = (Gt + Cp) x t = Gt x t + Cp x t (2)
Từ (2) ta thấy rằng: trong doanh thu tính thuế có 1 bộ phận giá trị đầu vào
tham gia cấu thành giá trị mới. Bản thân bộ phận giá trị này cũng đã bị đánh thuế
với một mức thuế suất quy định khi là đầu ra của khâu trước ở doanh nghiệp khác
và khi tham gia giá trị mới nó lại tiếp tục bị đánh thuế một lần nữa với một mức
thuế suất khác ( Thường là cao hơn ). Như vâỵ, sản phẩm, hàng hóa, càng tham gia
vào nhiều chu trình sản xuất ở các doanh nghiệp khác nhau thì sự trùng lắp trong
đánh thuế càng nhiều và giá trị trùng lặp càng lớn. Theo đó, doanh nghiệp ở các
giai đoạn sau chịu thiệt nhiều hơn ở giai đoạn trước.
Bên cạnh đó, thuế doanh thu là thuế gián thu, tức là trong gía bán đã có thuế
(doanh thu tính thuế), tức là chịu thêm một lần thuế nữa. Điều đó cho thấy thuế
doanh thu đã tính trùng thuế không chỉ hai lần mà rất nhiều lần. Hệ quả là một
nghịch lý: doanh nghiệp càng tiêu thụ nhiều thì càng bị thiệt hại và thực tế đã rất
nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng lỗ vốn do nộp thuế quá nhiều dù trên báo cáo
tài chính cho kết quả lãi.
Thứ hai, thuế doanh thu đánh vào tài sản đầu tư nên không khuyến khích
phát triển sản xuất. Thuế doanh thu là loại thuế gián thu, nghĩa là doanh nghiệp
không phải là người chịu thuế nhưng trên thực tế thuế doanh thu mà doanh nghiệp
đã trả trong giá thanh toán đầu vào không được trả lại cho doanh nghiệp, ngược lại
doanh nghiệp phải gánh chịu như một chi phí. Như thế kể cả hàng năm trong kho
chưa tiêu thụ (do đó chưa phát sinh doanh thu) cũng bị đánh thuế. Điều này mâu
thuẫn với quy định tính thuế là tính trên doanh thu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ chịu
thuế, đồng thời gây cho các doanh nghiệp tâm lí không muốn mở rộng đầu tư do
càng bỏ vốn đầu tư họ càng phải nộp thuế nhiều. Về điểm này, hoàn thuế trong
thuế GTGT rõ ràng là một sự vượt trội

Đầu vào bị đánh thuế, đầu ra cũng bị đánh thuế, số thuế phải chịu lớn hơn
thực tế gấp nhiều lần do tính trùng lắp là hạn chế lớn nhất của thuế doanh thu,
khiến cho thuế doanh thu không những không thúc đẩy sản xuất kinh doanh mà
còn làm thu hẹp các giao dịch kinh tế, giảm hiệu quả hoạt động kinh tế của các
hoạt động kinh doanh. Mặt khác chính gánh nặng thuế cùng sự bất cập của cơ chế
quản lý thuế đã khuyến khích các doanh nghiệp tìm mọi cách để trốn thuế làm thất
thu ngân sách Nhà nước, tạo ra sự không bình đẳng giữa các doanh nghiệp tham
gia kinh doanh.
Thư ba, hệ thống thuế suất 11 mức quá phức tạp, khó áp dụng, khó quản lí,
là kẽ hở nảy sinh nhiều gian lận nhằm trốn thuế, tránh thuế. Hơn nữa các mức thuế
suất khác nhau còn làm tăng mức độ trùng lắp của thuế, đồng thời gây ra sự bất
bình đẳng giữa các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, kinh
doanh các mặt hàng khác nhau và do đó chịu thuế suất khác nhau.
Thứ tư, thuế doanh thu trong giá mua được coi như một chi phí đầu vào,
trong giá bán được coi như một khoản giảm trừ doanh thu đã làm sai lệch về bản
chất thuế gián thu: về nguyên tắc người nộp thuế không phải là người chịu thuế,
theo đó doanh nghiệp chỉ nộp hộ người tiêu dùng - đối tượng chịu thuế – và thu hộ
Nhà nước số thuế doanh thu trong giá bán khi tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa. Nói
cách khác, thuế doanh thu mang tính trung lập về kinh tế và bản chất nó không
phải là thu nhập hay chi phí của doanh nghiệp. Nhưng tính chất này đã không được
thể hiện trong hạch toán thuế doanh thu.
Với những nhược điểm trên, việc áp dụng thuế doanh thu trong một thời
gian dài đã làm thu hẹp các hoạt động kinh tế ngoài ý muốn và tỏ ra không phù
hợp với nền kinh tế mới của Việt Nam đang trên đường hội nhập đời sống kinh tế
quốc tế. Yêu cầu của cải cách hệ thống thuế đã dẫn tới sự ra đời thuế GTGT thay
thế cho thuế doanh thu với mục đích khắc phục các mặt hạn chế của thuế doanh
thu, kích thích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
1.3.Đặc trưng của thuế GTGT.
Thuế GTGT là loại thuế gián thu, có nghĩa đây là loại thuế điều tiết thu nhập
của người tiêu dùng. Về nguyên tắc, luôn có sự tách biệt giữa người nộp thuế và

người chịu thuế. Người nộp thuế là các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng thuộc
diện chịu thuế GTGT, người chịu thuế là người tiêu dùng các mặt hàng đó, nói
cách khác thuế GTGT mang tính trung lập về kinh tế, nó được cộng vào giá bán
tạo nên mức giá mới người tiêu dùng phải trả cho sự tiêu dùng hàng hóa dịch vụ.
Doanh nghiệp thu hộ phần thuế đó cho Nhà nước qua tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ, cũng như nộp hộ người tiêu dùng khi mua các đầu vào tính thuế. Phần
chênh lệch giữa thuế thu hộ và nộp hộ chính là số thuế phải nộp Nhà nước hoặc
được hoàn lại thông qua cơ chế khấu trừ thuế đầu vào. Điều đó cũng có nghĩa là
thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
được tạo ra trong quá trình lưu thông trên thị trường. Đặc trưng này được thể hiện
rõ trong các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ: thuế GTGT
đầu vào và đầu ra được theo rõi trên các tài khoản riêng, tách biệt hẳn với tài khoản
theo dõi giá trị tài sản chịu thuế mua vào và bán ra và không được coi là bộ phận
cấu thành giá trị mới của các tài sản đó.
Như vậy, doanh nghiệp chỉ đóng vài trò trung gian nộp hộ và thu hộ trong
quá trình Nhà nước điều tiết thu nhập của người tiêu dùng bằng công cụ thuế
GTGT. Theo đó, về mặt lí luận, thuế GTGT không phải là thu nhập hay chi phí của
doanh nghiệp và không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của doanh nghiệp trong
kinh doanh. Đây là thể hiện rõ nét bản chất thuế gián thu mà thuế doanh thu không
thực hiện được.
1.4.Đối tượng nộp thuế GTGT.
Theo luật thuế GTGT thì các doanh nghiệp có thể tính thuế theo một trong
hai phương pháp là: Phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên
giá trị gia tăng.
Đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng là: Cá
nhân sản xuất kinh doanh là người Việt Nam. Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh
doanh ở Việt Nam không theo luật thuế đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực
hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế
theo phương pháp khấu trừ. Các cơ sở kinh doanh vàng, bạc, đá quý ngoại tệ.
Đối tượng áp dụng theo phương pháp khấu trừ thuế là các đơn vị, tổ chức

kinh doanh bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài,
doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần, hợp tác xã và các đơn vị, tổ chức kinh
doanh khác.
1.5.Đối tượng chịu thuế.
Thuế GTGT là loại thuế gián thu, người tiêu dùng phải chịu thuế. Thúê tính
trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình tự nhập
khẩu, sản xuất tiêu thụ đến tiêu dùng.
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh
doanh và tiêu dùng ở Việt Nam trừ các đối tượng chịu thuế ở Việt Nam ở Điều 4
Nghị Định 28/1998/NĐ-CP.
Còn đối với hàng hóa nhập khẩu, đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa
nhập khẩu dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam được phép nhập
khẩu qua biên giới hoặc từ khu chế xuất nhập khẩu vào thị trường nội địa.
1.6.Phương pháp tính thuế GTGT
1.6.1.Thuế GTGT được tính theo phương pháp khấu trừ.
Cách tính:
Xác định số thuế GTGT .
Số thuế GTGT
phải nộp
= Thuế GTGT đầu ra -
Thuế GTGT đầu
vào được khấu trừ
Trong đó:
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế
khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán
ra. Khi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải gi rõ giá bán
chưa thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán. Trường hợp hóa
đơn chỉ ghi giá thanh toán không gi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT
của hàng hóa, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hóa đơn, chứng
từ.

Thuế GTGT đầu vào = Tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng
mua hàng hóa, dịch vụ hoặc theo chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập
khẩu.
Thuế GTGT cơ sở kinh doanh được tính khấu trừ quy định như sau: Thuế
đầu vào của hàng hóa, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng nào thì được kê
khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất
dùng hay ở trong kho. Thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ dùng vào sản xuất kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ. Trường hợp cơ sở
kinh doanh mua vật tư, hàng hóa không có hóa đơn, chứng từ hoặc có hóa đơn
chứng từ không phải hóa đơn thuế GTGT hoặc hóa đơn thuế GTGT nhưng không
ghi rõ số thuế GTGT ngoài giá bán thì không được khấu trừ thuế đầu vào, trừ các
đối tượng có quy định riêng.
Nhược điểm:
Khi thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của các loại hàng hóa, dịch vụ bán ra
chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ mà nguyên liệu mua vào lại chịu thuế
giá trị gia tăng trực tiếp thì dẫn đến tình trạng thất thoát khấu trừ, đó là chênh lệch
giữa phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp với phương pháp
tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Vì có những mặt hàng được khấu trừ
thuế đầu vào là 3% nhưng bán ra 10% nên doanh nghiệp được lợi.
Đối với vật tư, hàng hóa mua về dùng đồng thời cho sản xuất kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT nhưng không tách
riêng được thì cuối kỳ, kế toán phải xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
và không đựoc khấu trừ là rất khó. Cho dù xác định dựa trên cơ sở phân bổ theo tỷ
lệ doanh thu nhưng vẫn chưa được hoàn thiện và đấy có thể là khe hở để cho các
doanh nghiệp có tính xấu lợi dụng để phục vụ lòng tham của doanh nghiệp trốn
thuế dựa trên cơ sở trên.
Ưu điểm:
Đối với cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng nộp thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ mà thường xuyên có số thuế GTGT đầu vào lớn hơn số
thuế GTGT thì được cơ quan thuế cho phép hoàn lại thuế GTGT theo quy định của

chế độ thuế.
Các doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ rất
dễ quản lý, dễ tính, dễ quyết toán cuối kỳ và đặc biệt là giúp các ông chủ doanh
nghiệp hiểu biết được các nguyên tắc thuế GTGT. Vì thế hầu hết các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh trong nước dường như áp dụng thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ.
Nếu số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế GTGT đầu ra
phát sinh trong kỳ thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào bằng số thuế
GTGT đầu ra, số thuế GTGT đầu vào còn lại được khấu trừ tiếp vào kỳ tính thuế
sau hoặc được xét hoàn thuế.
1.6.2.Thuế GTGT được tính theo phương pháp trực tiếp.
Cách tính:
Xác định số thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT
phải nôp
=
GTGT của hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế
x
Thuế suất thuế GTGT
của hàng hóa, dịch vụ
GTGT của hàng
hóa, dịch vụ
=
Giá thanh toán của hàng
hóa, dịch vụ bán ra
x
Giá thanh toán của hàng
hóa, dịch vụ mua vào
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra là giá bán thực tế bên mua phải

thanh toán cho bên bán, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu
thêm mà bên mua phải trả.
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng của hàng hóa, dịch
vụ bán ra được xác định bằng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào mà cơ sở sản xuất
kinh doanh đã dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT
bán ra.
Phương pháp xác định GTGT làm căn cứ tính thuế GTGT phải nộp đối với
từng cơ sở sản xuất kinh doanh như sau: Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh đã
thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hóa, dịch vụ có hóa đơn chứng từ, ghi chép sổ
sách kế toán thì GTGT được xác định căn cứ vào giá mua, giá bán ghi trên chứng
từ.
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hóa đơn chứng từ bán
hàng hóa, dịch vụ. Xác định được đúng doanh thu bán hàng hóa dịch vụ theo hóa
đơn bán hàng hóa dịch vụ nhưng không có đủ hóa đơn mua hàng hóa dịch vụ thì
GTGT được xác định = Doanh thu x tỷ lệ % GTGT tính trên doanh thu.
Đối với cá nhân, hộ kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ
hóa đơn mua, bán hàng hóa, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh
doanh của từng hộ ấn định x tỷ lệ % GTGT tính trên doanh thu
Khi áp dụng phương pháp trực tiếp để tính thuế GTGT thì kế toán phản ánh
giá trị vật tư mua vào và doanh thu bán hàng hóa theo giá thanh toán.
Nhược điểm:
Theo hệ thống kế toán thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp cho vào
chi phí quản lý, mà chi phí qủan lý là chi phí ảnh hưởng đến kết chuyển lãi lỗ của
doanh nghiệp. Do đó khoản thuế GTGT là khoản thuế doanh nghiệp thu hộ từ
người tiêu dùng để nộp cho Nhà nước lại cho vào chi phí, vì thế xẽ ảnh hưởng đến
thu nhập nếu doanh nghiệp có ý định trốn thuế, cho nên cơ quan thuế phải có biện
pháp sửa đổi cho phù hợp khi cho vào chi phí.
Vì vậy thuế GTGT phải nộp của hàng hóa, dịch vụ bán ra trong kì của các
doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên giá trị tăng thêm,
không nên hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp vì có 2 lí do sau:

Xét về bản chất kinh tế, thuế GTGT là một loại thuế gián thu được tính trên
phần giá trị tăng thêm của thành phẩm, hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình

×