Tải bản đầy đủ (.docx) (96 trang)

Chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (373.58 KB, 96 trang )

NGUYỄNTHỊ THÚY

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THÚY

LUẬTHÌNH SỰVÀ TỐTỤNG HÌNHSỰ

CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN THAM Ô TÀI
SẢN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

KHĨAIX ĐỢT2 NĂM2018

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THÚY

CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN THAM Ô TÀI
SẢN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự
Mã số: 8.38.01.04


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

HÀ NỘI, năm 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản
từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là cơng trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Quang Phương. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tơi hồn tồn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu và tính
trung thực của luận văn.
Tơi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU
TRA VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN........................................................................... 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của chứng minh trong điều tra vụ
án tham ô tài sản................................................................................................... 8
1.2. Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản..............16
1.3. Hoạt động của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản....................27
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU
TRA VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH............................................................................................ 35

2.1. Quy định của pháp luật về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản . 35

2.2. Thực tiễn hoạt động chứng minh hoạt động điều tra vụ án tham ơ tài sản tại
Thành phố Hồ Chí Minh..................................................................................... 49
Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN...................66
3.1. Các yêu cầu nâng cáo chất lượng chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài
sản....................................................................................................................... 66
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong điều tra vụ án tham ô
tài sản.................................................................................................................. 71
KẾT LUẬN............................................................................................................ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ANĐT

An ninh điều tra

BLHS

Bộ luật Hình sự

BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự

CQĐT


Cơ quan điều tra

CSĐT

Cảnh sát điều tra

ĐTV

Điều tra viên

KSND

Kiểm sát nhân dân

KSV

Kiểm sát viên

PCTN

Phòng, chống tham nhũng

THTT

Tiến hành tố tụng

TTHS

Tố tụng hình sự


VKS

Viện kiểm sát


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 2.1. Số vụ án, bị can tham ô tài sản Cơ quan điều tra – Cơng an thành
phố Hồ Chí Minh khởi tố giai đoạn 2015 - 2019............................................50
Biểu đồ 2.2. Số vụ án tham ô tài sản kết thúc điều tra so với tổng số vụ án
tham ô tài sản tại Cơ quan điều tra giai đoạn 2015 - 2019..............................50
Biểu đồ 2.3. Số vụ án tham ô tài sản Viện kiểm sát truy tố so với tổng số vụ
án tham ô tài sản tại Viện kiểm sát giai đoạn 2015 - 2019..............................51
Biểu đồ 2.4. Số vụ án tham ô tài sản bị Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan
điều tra để điều tra bổ sung giai đoạn 2015 - 2019.........................................54


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng là một trong những trở ngại lớn nhất đối với sự ổn định và phát
triển của mỗi quốc gia, làm suy giảm nghiêm trọng các nguồn lực phát triển của đất
nước. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây tình hình tham nhũng nói chung và
tình hình các tội phạm về tham nhũng nói riêng trong đó có tội phạm tham ô tài sản
có những diễn biến phức tạp ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực… và gây hậu
quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, bởi vậy Đảng ta đã có
nhiều chủ trương, giải pháp đấu tranh phòng, chống tệ nạn tham nhũng cũng như tội
phạm về tham nhũng, tham ô tài sản. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII,
Đảng ta xác định: Đẩy mạnh đấu tranh PCTN, lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên,
quan trọng đồng thời là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài. Trên cơ sở pháp lý

hiện hành, cơng tác PCTN nói chung và phịng, chống các tội phạm tham nhũng nói
riêng trong đó có tội phạm tham ô tài sản ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được
những kết quả nhất định, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, tình hình
tham nhũng, trong đó có các tội phạm về tham nhũng, như đã nhấn mạnh còn diễn
biến phức tạp và cơng tác PCTN cũng cịn những hạn chế, bất cập nhất định.
Hiện nay, tình hình tội phạm nói chung và tội phạm tham nhũng nói riêng
đang diễn ra ngày càng nhiều, với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây trở ngại
cho đời sống xã hội nói chung cũng như công tác thu thập chứng cứ trong hoạt động
chứng minh vụ án tham nhũng – tham ơ nói riêng. Do đó, để đảm bảo tính kịp thời
trong hoạt động phát hiện tội phạm và thu thập chứng cứ đòi hỏi các cơ quan tố tụng
phải tiến hành hoạt động chứng minh nhằm xác định sự thật vụ án. Chứng cứ ln
là vấn đề quan trọng trong q trình giải quyết mọi vụ án hình sự, là cơng cụ hữu
dụng giúp cơ quan có thẩm quyền THTT đấu tranh với đối tượng phạm tội.
Trong quá trình điều tra vụ án tham ô tài sản, chứng cứ và chứng minh là
những vấn đề được CQĐT, VKS quan tâm trong quá trình thực hiện; nếu chứng
minh được thực hiện hiệu quả, đúng quy định của pháp luật thì tài liệu, chứng cứ
thu thập được có giá trị chứng minh tội phạm cao, và ngược lại nếu chứng minh

1


không được thực hiện tốt, không tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật thì
những tài liệu, chứng cứ thu thập được trong giai đoạn này sẽ khơng có giá trị
chứng minh và không được sử dụng trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Trong quá
trình giải quyết các vụ án hình sự nói chung, vụ án tham ô tài sản nói riêng, các hoạt
động chứng minh luôn đóng vai trị hết sức quan trọng và đã đạt được nhiều thành
công đáng kể, song vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót cần được nghiên
cứu, tổng kết rút kinh nghiệm nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả chứng minh
trong điều tra vụ án hình sự, vụ án tham ô tài sản.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Chứng minh

trong điều tra vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề
tài luận văn thạc sĩ, ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và chứng minh trong
điều tra vụ án tham ô tài sản nói riêng là một hoạt động mang tính đặc thù của Luật
TTHS. Việc nghiên cứu về chứng minh trong điều tra vụ án tham ơ tài sản có ý
nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con người, nhất
là người bị buộc tội, giúp tránh được những hạn chế về tình trạng oan sai, làm oan
người vô tội, cũng tránh được việc bỏ lọt tội phạm, đồng thời giúp cho việc thu
thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ được đảm bảo tính chính xác, tính hợp pháp, trên
cơ sở đó sẽ giúp cho việc xét xử của Tòa án được đảm bảo đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật. Trong khoa học luật TTHS Việt Nam cũng như trong thực tiễn áp
dụng, vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự nói chung và chứng minh vụ án tham
ô tài sản trong giai đoạn điều tra nói riêng ln được các nhà khoa học quan tâm,
nghiên cứu. Trong những năm qua, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về Chứng cứ
và chứng minh trong vụ án hình sự nói chung được cơng bố trên các sách báo, trong
các luận văn thạc sỹ luận văn tiến sỹ, các tạp chí chuyên ngành và các đề tài nghiên
cứu cấp bộ do Viện KSND tối cao thực hiện.
Liên quan đến đề tài luận văn, đến nay đã có một số cơng trình khoa học đã
cơng bố như sau: Sách “Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự” của tác giả

2


TS. Đỗ Văn Đương, Nxb Tư pháp, Hồ Chí Minh năm 2006; Sách “Chứng cứ trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam” của TS. Nguyễn Văn Cừ, Nxb Tư Pháp, Hồ Chí
Minh năm 2005; Sách “Chứng minh trong tố tụng hình sự - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn”, của tác giả Nguyễn Duy Thuân, Trường Đại học an ninh nhân dân,
TP. Hồ Chí Minh năm 2006…
Các bài viết của một số tác giả trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến nội dung

này dưới nhiều góc độ khác nhau được đăng tải trên tạp chí Kiểm sát, tạp chí Tịa
án, tạp chí Luật học…, cụ thể như: “Hồn thiện chế định về chứng minh và chứng
cứ trong tố tụng hình sự” của tác giả Mai Thế Bày (Tạp chí kiểm sát số 18 & 20,
2008); “Kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng – hối lộ của
một số nước trên thế giới” của tác giả Võ Thành Đủ (Tạp chí kiểm sát số 12, 2017);
“Phát hiện, xử lý các vụ án tham ô tài sản: thực trạng và giải pháp khắc phục hạn
chế bất cập” của tác giả Nguyễn Thị Hương (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 5
(381), tháng 3/2019), “Một số kinh nghiệm trong công tác giải quyết các vụ án về
tham nhũng, kinh tế lớn trong thời gian qua” của tác giả Đỗ mạnh Bổng (Tạp chí
kiểm sát số 01, 2019); “Bình luận về tội tham ô tài sản” của tác giả TS. Đỗ Đức
Hồng Hà (Tạp chí kiểm sát số 05, 2018)…
Bên cạnh đó, cịn có một số luận văn như: luận văn thạc sĩ “Chứng minh
trong điều tra vụ án hình sự” của tác giả Vũ Ngọc Hà; Luận văn thạc sĩ “Hoạt động
chứng minh trong điều tra vụ án hình sự” của tác giải Lý Văn Cẩn; Luận văn thạc sĩ
“Hoạt động chứng minh trong điều tra vụ án hình sự theo Luật tố tụng Hình sự Việt
Nam” của tác giả Lê Thị Mỹ Giàu; Luận văn thạc sĩ “Tội tham ơ tài sản trong luật
hình sự Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Tạ Thu Thủy;
Luận văn thạc sĩ “Tội tham ơ tài sản trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Văn Cương …Các đề tài này đã đưa ra lý luận về chứng cứ và chứng minh
vụ án hình sự nói chung, hoặc đi vào làm rõ cấu thành cũng như những vấn đề liên
quan đến định tội danh cụ thể…
Tuy nhiên các cơng trình này chưa đi vào nghiên cứu chứng cứ và chứng
minh trong từng loại vụ án cụ thể. Vấn đề nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận để áp

3


dụng quy định của pháp luật về quá trình chứng minh trong điều tra vụ án tham ơ tài
sản ít được quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh đó, trong thực tiễn vẫn còn nhiều vụ án
mà CQĐT giải quyết chưa được triệt để, quá trình chứng minh xác định sự thật vụ

án cịn có nhiều sai sót. Từ đó cho thấy, việc nhận thức và áp dụng pháp luật về
chứng minh nói chung và chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản của một số
chủ thể THTT chưa được triệt để, đầy đủ, toàn diện và khách quan. Hiện nay chưa
có cơng trình nào nghiên cứu về vấn đề chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài
sản từ thực tiễn TP. Hồ Chí Minh. Do vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện đề tài
“Chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí
Minh” là vấn đề mang tính cấp thiết nhằm hồn thiện, góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động chứng minh của cơ quan có thẩm quyền THTT nói chung cũng như
của CQĐT trong q trình giải quyết vụ án tham ơ tài sản nói riêng.
3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài phân tích làm sáng tỏ lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn chứng minh
trong điều tra vụ án tham ô tài sản theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn TP.
Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hồn thiện và góp phần nâng cao
hiệu quả chứng minh trong điều tra vụ án tham ơ tài sản trên địa bàn TP. Hồ Chí
Minh trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-

Nghiên cứu các vấn đề lý luận về chứng minh trong điều tra vụ án hình sự

nói chung và vụ án tham ơ tài sản nói riêng như: khái niệm, đặc điểm của chứng
minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản, mục đích, ý nghĩa, nội hàm của chứng
minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản…
-

Nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự, TTHS đối với chứng minh


trong điều tra vụ án tham ô tài sản.
-

Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng thực thi các quy định của pháp

luật về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản của Cơ quan CSĐT, Cơ quan
ANĐT – Cơng an TP. Hồ Chí Minh và Viện KSND TP. Hồ Chí Minh đồng thời

4


phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế của cơng tác này và những ngun nhân cơ
bản của nó.
-

Làm rõ các yêu cầu và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng chứng

minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó “Chứng minh
trong điều tra vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”.
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và những quy định của pháp luật
hình sự và TTHS Việt Nam hiện hành về chứng minh và thực tiễn thi hành quy định
của pháp luật về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản do Cơ quan CSĐT,
Cơ quan ANĐT - Công an nhân dân TP. Hồ Chí Minh thụ lý.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu dưới góc độ luật TTHS Việt Nam, trong
đó, nghiên cứu những vấn đề lý luận về chứng minh trong điều tra vụ án hình sự,
nghiên cứu quy định của pháp luật về chứng minh trong điều tra vụ án hình sự, đặc
biệt tập trung nghiên cứu về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản theo
pháp luật TTHS Việt Nam.
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện các quy định có
liên quan đến chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và chứng minh
trong điều tra vụ án tham ơ tài sản nói riêng trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm
2019.
Về chủ thể, địa bàn: án do Cơ quan CSĐT, Cơ quan ANĐT - Cơng an TP. Hồ
Chí Minh thụ lý; Viện KSND TP. Hồ Chí Minh thực hành quyền cơng tố và kiểm sát
hoạt động điều tra.
5.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên sự vận dụng phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác - Lênin về con đường nhận thức chung và khả năng nhận thức chân lý
trong TTHS nói riêng; đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống

5


các chủ trương, đường lối, các quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách và pháp luật
của Nhà nước về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp và đấu tranh phịng,
chống tội phạm nói chung, tội phạm tham nhũng nói riêng được thể hiện trong các
văn kiện của Đảng.
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương
pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp thống kê, so sánh; Phương pháp tổng kết

thực tiễn… trên cơ sở lý luận khoa học TTHS để làm sáng tỏ nội dung cần nghiên
cứu của đề tài.
Cụ thể, tác giả sử dụng những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm của Viện
KSND TP. Hồ Chí Minh – cơ quan chủ quản công tác thống kê tội phạm; nghiên
cứu các quyết định tố tụng liên quan đến hoạt động chứng minh vụ án, tổng hợp các
tri thức khoa học pháp luật TTHS và các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong
luận văn. Ngoài ra, tác giả còn tham khảo ý kiến của các ĐTV của Cơ quan CSĐT –
Cơng an nhân dân TP. Hồ Chí Minh trực tiếp tiến hành các hoạt động chứng minh
trong vụ án tham ô tài sản ở giai đoạn điều tra cũng như ý kiến của các KSV trực
tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án tham ô tài sản
của Viện KSND TP. Hồ Chí Minh.
6.
-

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận

Là cơng trình khoa học được nghiên cứu, phân tích tồn diện và sâu sắc để
làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như cơ sở pháp lý của hoạt động chứng minh trong
điều tra vụ án tham ô tài sản theo luật TTHS Việt Nam.
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên, có tính hệ thống và
tương đối toàn diện về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn
TP. Hồ Chí Minh ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học. Kết quả nghiên cứu của
luận văn sẽ giúp xác định được khái niệm, các đặc điểm riêng có, cũng như nội hàm
của chứng minh trong điều tra vụ án tham ơ tài sản, từ đó đưa ra những kiến nghị về
mặt lập pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật TTHS về vấn đề này.

6



-

Về mặt thực tiễn

Tổng kết, rút ra được những kinh nghiệm trong chứng minh vụ án tham ô tài
sản ở giai đoạn điều tra từ năm 2015 đến năm 2019 do Cơ quan CSĐT, Cơ quan
ANĐT - Công an nhân dân TP. Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết. Kết quả nghiên cứu
của luận văn giúp các Cơ quan THTT nói chung, CQĐT nói riêng xác định, áp dụng
đúng đắn trình tự, thủ tục trong chứng minh vụ án tham ô tài sản. Bên cạnh đó, tác
giả cũng hy vọng luận văn có thể được sử dụng trong cơng tác nghiên cứu của các
cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật… Những người có
thẩm quyền THTT và những người tham gia tố tụng có thể nghiên cứu nhằm áp
dụng pháp luật vào quá trình công tác thực tiễn, nâng cao chất lượng hiệu quả trong
cơng tác.
7. Kết cấu của luận văn
Ngồi phần mở đầu, kết luận, các biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo và
phần phụ lục, nội dung của luận văn được bố cục thành 03 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô
tài sản.
Chương 2. Quy định của pháp luật về chứng minh trong điều tra vụ án tham
ô tài sản và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Các yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong
điều tra vụ án tham ô tài sản.

7


Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA

VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa của chứng minh trong
điều tra vụ án tham ô tài sản
1.1.1. Khái niệm chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản
Để có thể đưa ra được một khái niệm khoa học, đầy đủ và có tính chính xác
về “chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản”, trước hết, cần thiết phải làm rõ
một số khái niệm gần kề, có liên quan như: “chứng minh”, “chứng minh tội phạm”,
“vụ án”, “điều tra vụ án”, “tội tham ô tài sản”…
Chứng minh là một trong những hoạt động thực tiễn của con người, nó diễn
ra trong tất cả các mặt của đời sống xã hội. Chứng minh theo Từ điển Tiếng Việt
thông dụng (1996), NXB Giáo dục Hà Nội được hiểu là “dùng lý lẽ, suy luận, bằng
cứ để chỉ rõ điều gì đó là đúng hay khơng đúng” [47, tr.256]. Hoặc theo Từ điển
Bách khoa Việt Nam (1999), NXB Hà Nội thì chứng minh là “Quá trình tư duy sử
dụng nhiều lý lẽ khác nhau, gọi là lý luận cứ để bảo vệ cho sự đúng đắn của một
hay nhiều tư tưởng khác nhau gọi là luận đề” [33, tr.457]. Hay theo Từ điển Tiếng
Việt (2006) của Viện ngôn ngữ học Đà Nẵng thì “Chứng minh là làm cho thấy rõ là
có sự thật, là đúng, bằng những việc hay lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch rõ một
điều gì đó là đúng” [45, tr.174].
Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm về chứng minh cụ thể như
sau: “Chứng minh là hoạt động của con người để nhận thức sự thật khách quan về
một sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó thơng qua các thơng tin, tài liệu được thu
thập, kiểm tra, đánh giá tính chân lý”. Như vậy, có thể hiểu rằng “chứng minh” là
hoạt động nhận thức, tư duy, lý luận của con người để làm sáng tỏ một sự vật, sự
việc, hiện tượng nào đó với một mục đích nhất định, nhằm xác định tính đúng, sai
của một sự vật, hiện tượng trên cơ sở những bằng chứng, chứng cứ cụ thể.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (1999), trường Đại học Luật Hà
Nội, Nxb Cơng an nhân dân thì “Chứng minh tội phạm là thu thập, kiểm tra, đánh

8



giá chứng cứ để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội” [36,
tr.161]. Theo GS, TS. Võ Khánh Vinh, trong phần bình luận Điều 65 BLTTHS năm
2003 có đưa ra khái niệm về chứng minh là “quá trình nhận thức về vụ án hình sự
do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện” [46, tr.131]. Như vậy, có thể
hiểu rằng chứng minh trong TTHS là một hoạt động của chứng minh nói chung,
diễn ra trong phạm vi cụ thể là hoạt động hình sự. Trong phạm vi này, chứng minh
là nhằm để làm rõ hành vi phạm tội của người thực hiện hành vi có liên quan đến
một vụ án cụ thể đã xảy ra trên thực tế nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án.
Chứng minh trong TTHS là một công việc phức tạp vì các cơ quan THTT và
người THTT phải áp dụng mọi biện pháp để chứng minh sự thật của vụ án. Các vụ
án đã xảy ra sẽ đều để lại những hình ảnh khách quan mà qua đó con người có thể
nhìn nhận, đánh giá những hình ảnh đó bằng chính tư duy, lý luận của mình. Từ
những tư duy, lý luận đó, giúp cho những người THTT tìm ra được sự thật của vụ án
thơng qua hoạt động chứng minh khi điều tra vụ án. Theo tác giả, quá trình chứng
minh phải tuân thủ các quy luật chung của quá trình nhận thức khách quan cũng như
các nguyên tắc như: khách quan, toàn diện... Chứng minh trong TTHS là việc làm
sáng tỏ những mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng này với những sự vật, hiện
tượng khác có trong vụ án hình sự. Từ đó, có thể hiểu rằng q trình chứng minh
trong TTHS là quá trình tư duy và thực tiễn của cơ quan có thẩm quyền THTT dựa
trên những quy định của pháp luật TTHS để thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng
những tài liệu, thông tin thu thập được để xác định sự thật khách quan của vụ án
nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đúng pháp luật.
Theo Từ điển luật học (2006), Nxb Tư pháp thì vụ án hiểu là “một vụ việc có
dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể
pháp luật được đưa ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết” [37, tr.860]. Cơ sở
pháp lý để có thể bắt đầu chứng minh trong điều tra vụ án hình sự là từ khi có quyết
định khởi tố vụ án (trừ trường hợp cần thu thập chứng cứ trước khi khởi tố vụ án
như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, tạm giữ phương tiện, khám
xét…).


9


Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam (2018) của trường Đại học Luật Hà
Nội, Nxb Công an nhân dân: “Điều tra vụ án là một giai đoạn, trong đó Cơ quan có
thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật, tiến hành thu thập,
kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm rõ đối tượng chứng minh để ra kết luận điều tra đề
nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra và ra các quyết
định khác theo quy định của pháp luật” [35, tr.115]. Theo Từ điển Luật học (2006),
Nxb Tư pháp thì “Điều tra là cơng tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm
xác định sự thật khách quan, toàn diện và đầy đủ” [37, tr.216]. Hoạt động điều tra
bao gồm nhiều hành vi tố tụng khác nhau của cơ quan THTT, bao gồm nhiều hành
vi tố tụng đặc trưng như: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, hỏi cung bị can, khám
nghiệm hiện trường, khám xét, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đối chất, nhận
dạng… nhằm làm rõ đối tượng chứng minh trong điều tra vụ án hình sự. Với tính
chất của giai đoạn điều tra vụ án hình sự làm cho việc chứng minh trong giai đoạn
này có nhiều điểm khác biệt mà khơng có giai đoạn nào có thể thay thế được.
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu chứng minh trong điều tra vụ án
hình sự như sau: chứng minh trong điều tra vụ án hình sự là hoạt động của những
cơ quan, những người có thẩm quyền THTT theo quy định của pháp luật TTHS
được thực hiện chủ yếu ở giai đoạn điều tra vụ án thông qua quá trình thu thập,
kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ nhằm để làm sáng tỏ các tình tiết, các sự vật,
hiện tượng, sự kiện đã xảy ra một cách khách quan, toàn diện, để làm cơ sở cho các
cơ quan có thẩm quyền THTT ban hành các quyết định tố tụng phù hợp và đúng với
quy định của pháp luật góp phần giải quyết vụ án đúng đắn, bảo đảm quyền con
người, quyền công dân, tránh làm oan người vô tội cũng như bỏ lọt tội phạm.
Tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 353, Mục 1, Chương XXIII BLHS
năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi chung là BLHS năm 2015). Dựa vào
khái niệm tội phạm được quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành có thể đưa ra

khái niệm về tội tham ô tài sản như sau:
Tội tham ô tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có chức vụ,
quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách

10


nhiệm quản lý xâm phạm đến những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ,
xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức trong nhà nước và của
cả các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước.
Trên cơ sở những vấn đề lý luận đã được phân tích ở trên cùng với quy định
của pháp luật có liên quan, tác giả đưa ra khái niệm về chứng minh trong điều tra vụ
án tham ô tài sản như sau: Chứng minh trong điều tra vụ án tham ơ tài sản là việc
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành áp dụng các biện pháp,
phương tiện hợp pháp để thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ nhằm xác định
sự thật khách quan, toàn diện của vụ án làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án ở các
giai đoạn tiếp theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định,
giúp giải quyết vụ án đúng các nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự.
1.1.2. Đặc điểm của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản
Chứng cứ và chứng minh là xương sống của pháp luật tố tụng nói chung,
trong đó có pháp luật tố tụng dân sự, hành chính và hình sự. Mọi hoạt động tố tụng
đều hướng tới tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thu
thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ.
Xuất phát từ đặc điểm của loại án dân sự, hành chính, hình sự cho thấy,
chứng minh trong vụ, việc dân sự, hành chính và vụ án hình sự cũng sẽ có những
đặc điểm khác nhau được quy định cụ thể tại luật tố tụng chuyên ngành.
Như vậy, trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, việc giao nộp chứng cứ để
chứng minh cho các yêu cầu trong các vụ, việc dân sự, hành chính vừa là quyền,
vừa là nghĩa vụ của các đương sự, người khởi kiện… để bảo vệ yêu cầu của mình.
Các cơ quan THTT (cụ thể là Tịa án, Viện kiểm sát) chỉ thu thập chứng cứ trong

một số trường hợp cụ thể. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh
mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tịa án giải
quyết vụ, việc dân sự, hành chính theo những chứng cứ đã thu thập được có trong
hồ sơ vụ, việc. Bộ luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính khơng quy định đối tượng
cần phải chứng minh trong vụ, việc dân sự, hành chính mà chỉ quy định những tình
tiết, sự kiện khơng phải chứng minh.

11


Trong TTHS, những khía cạnh về trách nhiệm chứng minh được thể hiện tại
Điều 15 của BLTTHS năm 2015 quy định về xác định sự thật của vụ án:
“Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án
một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và
chứng cứ xác định vơ tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của người bị buộc tội”.
Do xuất phát từ mơ hình tố tụng của Việt Nam vừa mang tính chất thẩm vấn
nhưng lại pha lẫn tính tranh tụng nên trách nhiệm chứng minh trong điều tra vụ án
hình sự thuộc về các Cơ quan THTT gồm CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, Viện KSND. Đấu tranh chống tội phạm là nhiệm vụ
của các cơ quan THTT nên trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan
này. Cơ quan THTT phải áp dụng các biện pháp do BLTTHS sự quy định để xác
định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, kết luận bị can, bị cáo
phạm tội hay khơng phạm tội.
Ngồi ra, BLTTHS Việt Nam hiện hành còn quy định người bào chữa có
quyền thu thập, đưa ra chứng cứ để chứng minh cho thân chủ của mình. Người bào
chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp hợp pháp để làm sáng tỏ những tình tiết
xác định người bị buộc tội vô tội. Tuy nhiên, họ không phải là người có nghĩa vụ
chứng minh để xác định sự thật vụ án.

Khác với chứng minh trong vụ, việc dân sự, hành chính, khơng quy định đối
tượng cần phải chứng minh thì chứng minh trong hoạt động điều tra cần phải làm rõ
các tình tiết quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015.
Vụ án tham ô tài sản là một vụ án hình sự cụ thể, do đó, khi điều tra vụ án
tham ô tài sản cũng phải chứng minh tất cả các tình tiết quy định tại Điều 85
BLTTHS năm 2015 như một vụ án hình sự nói chung. Trong q trình đó, cần làm
rõ những tình tiết định tội danh, định khung và các tình tiết khác để làm rõ được
hành vi thực hiện là tội phạm tham ô tài sản. Đối tượng chứng minh là các yếu tố
cấu thành tội phạm, bao gồm 4 yếu tố cấu thành tội phạm của tội tham ô tài sản, là:

12


mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. Đây là những yếu tố thể hiện
bản chất, tính khách quan của hành vi phạm tội.
Đặc điểm nổi bật khi chứng minh trong vụ án tham ô tài sản là chủ thể tham
ơ tài sản là người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ
quan, qn nhân chun nghiệp, cơng nhân quốc phịng trong cơ quan… Nhìn
chung, nhóm đối tượng này có đặc điểm đặc thù so với các nhóm đối tượng khác:
họ thường là những người có q trình cơng tác và cống hiến nên có nhiều kinh
nghiệm; được đào tạo có hệ thống, là những chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khác
nhau.
Chủ thể tham ô tài sản “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” được giao để vụ lợi là
đặc trưng thứ hai của tham ô tài sản. Khi thực hiện hành vi tham ô, người tham ô
phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi
ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Đây là yếu tố cơ bản để xác
định có hành vi tham ơ tài sản xảy ra. Tham ô tài sản là loại tội phạm chức vụ mang
tính chất chiếm đoạt, người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn khi thực hiện
hành vi phạm tội họ nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực
hiện vì mục đích tư lợi, vì lợi ích của bản thân, của gia đình, bất chấp hậu quả xảy

ra.
Mỗi giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng sẽ có những đặc điểm khác
nhau của chứng minh vụ án hình sự. Chứng minh trong điều tra vụ án hình sự là
hoạt động của những cơ quan và người có thẩm quyền THTT theo quy định của
pháp luật TTHS được thực hiện chủ yếu ở giai đoạn điều tra vụ án thơng qua q
trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm để làm sáng tỏ các tình tiết, các sự
vật, sự kiện đã xảy ra một cách khách quan, toàn diện, để làm cơ sở cho các cơ quan
có thẩm quyền THTT ban hành các quyết định tố tụng phù hợp và đúng quy định
của pháp luật.
Chứng minh trong giai đoạn truy tố là hoạt động của VKS nhằm kiểm tra,
đánh giá và sử dụng chứng cứ đã được CQĐT thu thập ở giai đoạn điều tra, để làm
sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ án, các tình tiết khác liên quan đến vụ án một

13


cách khách quan, toàn diện trên cơ sở quy định của pháp luật. Nhằm đưa ra kết quả
cuối cùng để hồn thiện q trình điều tra, truy tố ra tịa án hay khơng truy tố và
đình chỉ vụ án.
Chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự là làm rõ sự kiện phạm tội;
các tình tiết của việc thực hiện tội phạm tương ứng với các dấu hiệu của cấu thành
tội phạm do điều luật của BLHS quy định; người thực hiện tội phạm; có lỗi hay
khơng có lỗi, lỗi cố ý hay vơ ý; các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm;
các tình tiết đặc trưng về nhân thân bị cáo; các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự;
các sự kiện chứng minh bị cáo vơ tội; hậu quả của tội phạm; các tình tiết tạo điều
kiện cho việc thực hiện tội phạm dựa trên những chứng cứ đã thu thập được trong
quá trình điều tra, truy tố, cùng lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan, cũng
như chứng cứ mới phát hiện tại phiên tịa. Tóm lại, chứng minh ở giai đoạn xét xử
vụ án hình sự là nhằm làm rõ những tình tiết có ý nghĩa pháp lý đối với việc giải
quyết vụ án hình sự về thực chất và cả những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải

quyết các vấn đề tố tụng riêng biệt.
Đặc điểm khác biệt quan trọng nhất khi chứng minh trong điều tra vụ án
tham ô tài sản và các tội phạm khác là phải chứng minh được cách thức chiếm đoạt
tài sản của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. Nếu chứng minh được chủ thể lợi
dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản do mình quản lý sẽ kết luận được hành
vi đó cấu thành tội tham ơ, cịn nếu chứng minh ra chủ thể thực hiện hành vi phạm
tội chiếm đoạt tài sản bằng cách thức, thủ đoạn khác sẽ cấu thành những tội phạm
tương ứng được quy định trong BLHS. Do vậy, khi chứng minh tội tham ô tài sản
phải đặc biệt làm rõ tình tiết này.
1.1.3. Mục đích và ý nghĩa của chứng minh trong điều tra vụ án tham ơ tài
sản Cơng tác phịng, chống tham nhũng là một trong những nhiệm vụ được đặt ra
ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời bên cạnh nhiệm vụ chống giặc
ngoại xâm, giặc dốt và giặc đói. Nhiệm vụ đó, được thể hiện trong chính sách hình
sự của Nhà nước ta nhằm đề cao trách nhiệm của cán bộ đồng thời nghiêm trị các
hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt của công.

14


Qua gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành tựu đã
đạt được về mọi mặt, từ việc đổi mới hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước, cơ chế
quản lý kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, hồn thiện hệ thống pháp
luật, hội nhập khu vực và quốc tế..., Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ,
trong đó có tệ tham nhũng – tham ơ. Cùng với lãng phí, tham nhũng trong đó có
tham ơ tài sản đang diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực
với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút
lòng tin của nhân dân vào Đảng vào chế độ; là một trong những nguy cơ lớn đe dọa
đến sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Nhận thức sâu sắc về tác hại của tham
nhũng, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách và pháp luật về PCTN, tham ơ tài sản.

Mục đích của chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung, vụ án tham
ơ tài sản nói riêng là nhanh chóng phát hiện mọi hành vi phạm tội xảy ra, kịp thời
thu thập tài liệu, đồ vật, chứng cứ… có trong vụ án, chứng minh được các hành vi
của tội phạm, không để lọt tội phạm đồng thời không được làm oan người vô tội.
Đồng thời khi giải quyết vụ án tham ô tài sản phải đảm bảo yêu cầu tuân thủ triệt để
các quy định của pháp luật TTHS. Trách nhiệm của CQĐT, VKS phải xem xét có
hành vi phạm tội xảy ra hay không, người thực hiện hành vi phạm tội, mức độ hậu
quả như thế nào, những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án một
cách khách quan, toàn diện. Những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự có
thể được hiểu theo nghĩa rộng gồm: không chỉ chứng minh những vấn đề có liên
quan đến bản chất của vụ án mà bao gồm tất cả những vấn đề khác có liên quan đến
vụ án và có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Vì vậy, mục đích của chứng minh
trong điều tra vụ án tham ô tài sản là nhằm nhanh chóng thu thập các tài liệu chứng
cứ nhằm làm rõ sự việc phạm tội và người thực hiện hành vi tham ơ tài sản.
Một mục đích nữa của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản là
nhằm góp phần vào việc thu hồi được tài sản tham nhũng, tham ơ một cách nhanh
chóng, giảm thiểu tới mức thấp nhất thiệt hại do hành vi tham ô gây ra.

15


Trong vụ án hình sự nói chung cũng như vụ án tham ô tài sản, khi thực hiện
hành vi phạm tội, người phạm tội sẽ ln có tâm lý cố tình che dấu, lẩn trốn nên
việc xác định ai là người thực hiện hành vi phạm tội không phải là điều đơn giản.
Đặc biệt là với tội tham ô tài sản – chủ thể thực hiện tội phạm có trình độ học vấn
cao, có kỹ năng nghiệp vụ chuyên nghiệp, hành vi thực hiện rất tinh vi, che giấu
hành vi rất kín kẽ. Việc phát hiện hành vi phạm tội, và người phạm tội tham ô tài
sản và chứng minh được đó là tội phạm tham ơ tài sản là vơ cùng khó khăn.
Do đó, việc chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản mang ý nghĩa vơ
cùng quan trọng. Cơng tác phịng, chống tham ơ ở nước ta có vai trị vơ cùng quan

trọng, trước hết nó giúp giảm tình trạng vi phạm pháp luật nói chung và tội phạm
tham ơ tài sản nói riêng. Đồng thời, cơng tác này cịn có ý nghĩa trong việc bảo vệ
sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khi công tác này đạt được
hiệu quả, nó sẽ giúp nền kinh tế của đất nước tăng trưởng; cũng như cải thiện, nâng
cao chất lượng đời sống của nhân dân, lấy lại được niềm tin của nhân dân vào Đảng,
vào chế độ. Như vậy có thể nói, đất nước chỉ có thể phát triển một cách vững chắc;
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao khi chúng
ta hạn chế và ngăn ngừa được tham nhũng, tham ô tài sản diễn ra trong mọi lĩnh vực
trong đời sống xã hội.
1.2. Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra vụ án tham ơ tài sản
Khi chứng minh một vụ án hình sự nói chung và vụ án tham ơ tài sản nói
riêng cần phải chứng minh cả mặt khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ
quan của tội phạm. Khi chứng minh một vụ án cụ thể cần phải có sự tổng hợp chứng
minh của nhiều yếu tố. Ngồi chứng minh hành vi phạm tội có xảy ra hay khơng,
cịn cần phải chứng minh ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay khơng
có lỗi, có năng lực trách nhiệm hình sự hay khơng, động cơ, mục đích của hành vi
phạm tội như thế nào... Bên cạnh đó, những vấn đề cần phải chứng minh trong một
vụ án cần phải được đề cập đến các yếu tố có ý nghĩa trực tiếp hoặc gián tiếp đến
việc giải quyết vụ án như: khi xử lý người phạm tội cần phải chứng minh xem họ có
đủ điều kiện được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hay không,
16


tính chất và mức độ thiệt hại của hành vi phạm tội gây ra, những tình tiết giảm nhẹ,
tăng nặng TNHS…
1.2.1. Những vấn đề để xác định khách thể và mặt khách quan của tội phạm
Vấn đề đầu tiên khi điều tra vụ án hình sự CQĐT, VKS phải chứng minh là
có hành vi phạm tội xảy ra hay khơng, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác
của hành vi phạm tội. Trong từng vụ án hình sự cần phải chứng minh rằng hành vi
bị khởi tố, truy tố về mặt hình sự đã xảy ra trong thực tế. Việc chứng minh đó thể

hiện ở việc làm sáng tỏ một cách khách quan, đầy đủ và toàn diện tất cả các tình tiết
liên quan đến hành vi phạm tội. Có ý nghĩa đối với việc định tội danh đúng hành vi
và suy cho cùng có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Đó là
những dấu hiệu thuộc khách thể và mặt khách quan của tội phạm.
Khách thể của tội phạm bao gồm: Khách thể chung (toàn bộ quan hệ xã hội
được pháp luật hình sự bảo vệ), khách thể loại (một nhóm quan hệ xã hội được pháp
luật hình sự bảo vệ) và khách thể trực tiếp (một quan hệ xã hội cụ thể được pháp
luật hình sự bảo vệ). Khi chứng minh khách thể của tội phạm, cơ quan THTT cần
phải xác định có quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ bị xâm hại hay
khơng, nếu khơng có quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ bị xâm hại thì
khơng có tội phạm. Nếu có quan hệ xã hội bị xâm hại được pháp luật hình sự bảo vệ
thì cần phải chứng minh quan hệ xã hội đó được chương nào, điều khoản nào của
BLHS bảo vệ. Việc chứng minh khách thể của tội phạm có ý nghĩa pháp lý rất quan
trọng đối với việc giải quyết vụ án hình sự nói chung, vụ án tham ơ tài sản nó riêng
vì khách thể tội phạm là căn cứ để xác định có hay khơng có hành vi phạm tội; phân
biệt tội phạm này với tội phạm khác; xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của
hành vi mà tội phạm thực hiện…
Mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện bên ngoài của tội phạm tác động
vào các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ gây thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã
hội đó, mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành
động và không hành động), hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra, thời gian, địa

17


điểm, hồn cảnh phạm tội, cơng cụ, thủ đoạn, phương tiện phạm tội. Như vậy, khi
chứng minh mặt khách quan của tội phạm cần chứng minh các vấn đề như sau: thời
gian, địa điểm, tính chất và mức độ thiệt hại và những tình tiết khác như: cơng cụ,
phương tiện, thủ đoạn, phương pháp thực hiện… Chứng minh mặt khách quan của

tội phạm có ý nghĩa pháp lý quan trọng đối với việc định tội, định khung hình phạt
và quyết định hình phạt.
Chứng cứ để chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” trong vụ
án tham ô tài sản là chứng cứ để xác định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cấu thành
tội phạm tham ô tài sản được quy định trong BLHS hay thuộc các trường hợp không
phải là hành vi phạm tội (quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính…).
Chứng cứ để chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của
hành vi phạm tội” trong vụ án tham ô tài sản là chứng cứ xác định nếu có hành vi
phạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ,
phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào.
Tình tiết thuộc mặt khách quan của tội tham ô tài sản: người tham ơ tài sản
phải là người có hành vi khách quan là lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài
sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý. Hành vi chiếm đoạt tài sản đó phải
có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của người phạm tội, nếu người phạm
tội khơng có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó hoặc khơng thể thực hiện được hành
vi chiếm đoạt tài sản. Chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi và cần thiết để
người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản một cách dễ dàng. Người có chức
vụ, quyền hạn mà thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản không liên quan đến chức
vụ, quyền hạn của mình thì dù họ có chức vụ, quyền hạn cũng không bị coi là tham
ô tài sản. Người tham ô tài sản thuộc 01 trong 03 trường hợp sau đây mới phạm tội
tham ô tài sản:
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm
quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên; hoặc tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồng
nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi tham ơ tài sản mà cịn vi phạm; hay tài sản trị
giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về một trong các tội: tham ô tài sản;

18


nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;… chưa được xóa án

tích mà cịn vi phạm.
Tình tiết thuộc khách thể của tội tham ơ tài sản: là những quan hệ xã hội liên
quan đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức trong nhà nước và của cả các
doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước; làm cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp này
bị suy yếu, mất uy tín; làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước. Hành
vi tham ô tài sản đã trực tiếp tác động đến tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm
quản lý. Tài sản này bao gồm tài sản của Nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức
trong nhà nước hoặc là tài sản của các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Như
vậy, khách thể của tội tham ô tài sản khơng cịn là chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa
nữa, mà còn là quan hệ sở hữu của tất cả các thành phần kinh tế khác. Đồng thời nó
cịn xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức Nhà nước và ngoài
Nhà nước.
1.2.2. Những vấn đề để xác định chủ thể và mặt chủ quan của tội tham ô tài
sản
Những vấn đề cần phải chứng minh tiếp theo khi điều tra vụ án hình sự là: ai
là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay khơng có lỗi, do cố ý hay vơ ý; có
năng lực trách nhiệm hình sự hay khơng; mục đích, động cơ phạm tội là gì. Chứng
minh ai là người thực hiện hành vi phạm tội, tức là xác định chủ thể của tội phạm.
Tiếp đến xác định người đó có lỗi hay khơng, nếu có lỗi thì lỗi cố ý hay vơ ý. Mục
đích và động cơ phạm tội cũng cần được chứng minh khi điều tra vụ án. Đó là
những dấu hiệu cơ bản thuộc chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm phải được làm
sáng tỏ.
Thực chất của việc chứng minh chủ thể tội phạm là việc xác định ai là người
thực hiện hành vi phạm tội (thông qua việc chứng minh các đặc điểm nhân thân: họ
và tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nghề nghiệp, chức vụ, quyền hạn …) và
người này có năng lực trách nhiệm hình sự hay khơng, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật hình sự hay chưa … Khi chứng minh chủ thể
tội phạm, còn phải chứng minh được trong vụ án đó có bao nhiêu người tham gia,

19



×