Tải bản đầy đủ (.docx) (3 trang)

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (74.46 KB, 3 trang )

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC HIỆP
ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT-MỸ.
I/Sự ra đời của hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ.
Chúng ta biết rằng đối với quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ thì một sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi
trong lĩnh vực kinh tế thương mại sẽ giúp hai nước mau chóng khép lại quá khứ ,nhìn về tương lai
vì lợi ích chung của hai dân tộc.Tuy nhiên, nếu trong quan hệ ngoại giao đã đạt được những thành
tích nhất định như bãi bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, bình thường hoá quan hệ hai nước vào năm
1995,thành lập đại sứ quán hai nước vào năm 1997, thì trong quan hệ kinh tế bao gồm thương mại
và đầu tư lại phát triển khá chậm chạp, chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước.Chính vì thế
HĐTM song phương Việt-Mỹ được ký kết ngày 14/7/2000 đánh dâú một bước tiến mới trong quan
hệ kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ.
Hai bên đã cam kết thực hiện các nguyên tắc mậu dịch phù hợp với các thông lệ của WTO, bao
gồm thực hiện quy chế tối hậu quốc và không phân biệt đối xử,những nỗ lực chung về thương mại,
mở rộng và thúc đẩy thương mại,bằng việc cắt giảm thuế quan và xoá bỏ các biện pháp ngăn chặn
phi thuế quan như quota(hạn nghạch),đảm bảo quyền buôn bán cho các doanh nghiệp nước ngoài
và trong nước .Ngoài ra còn có những can kết về quyền sở hữu trí tuệ phát triển quan hệ đầu tư.
II/Cơ hội của các doanh nghiệp Việt Nam trước HĐTM Việt-Mỹ
1/ HĐTM Việt-Mỹ mở cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hoá sang
Mỹ một thị trường mạnh nhất thế giới với hơn 245 triệu người.Hàng hoá của Việt Nam sẽ có khả
năng cạnh tranh cao hơn do mức thuế suất chỉ còn trên 3%,trong khi trước kia phải từ 40% đến
80%.Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ xuất khẩu sang Mỹ những mặt hàng mà chúng ta có lợi thế
như dầu thô, dệt may, giày dép, mặt hàng nông hải sản.
Cơ hội xuất khẩu sang thị trường Mỹ là rất lớn.Năm 1999 giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang
thị trường Mỹ chỉ đạt 601 triệu USD/năm,thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực mà Mỹ đã
áp đặt quy chế quan hệ bình thườngvà là thành viên của WTO.Kim nghạch xuất khẩu của Việt
Nam sang Mỹ chỉ bằng 1/35 của Malaixia và bằng 1/23 của Thái Lan (do một lượng hàng của Việt
Nam xuất khẩu sang Mỹ phải qua nước thứ ba, chủ yếu là Singapore nên số liệu của Việt Nam và
Mỹ về xuất khẩu của Việt Nam và Mỹ về xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ là khá
lớn.Khi hiệp định thương mại được thực hiện, do giảm hàng hoá qua trung gian nên xuất khẩu của
Việt Nam sang Mỹ sẽ có cơ hội tăng mạnh hơn.Có ý kiến cho rằng năm 1999 ”Giá trị kim nghạch
nhập khẩu của Mỹ là 1227 tỷ USD, do đó dù Việt Nam có sang Mỹ tới 1 tỷ USD thì cũng như


muối bỏ bể ”). Còn nếu xét về cơ cấu xuấ nhập khẩu sang thị trường Mỹ trong tổng xuất nhập
khẩu cũng rất nhỏ bé.Trong suốt giai đoạn 1994-1999, xuất khẩu sang thị trường chỉ đạt 2,4% tổng
giá trị kim nghạch nhập khẩu của Việt Nam. Trong khi đó tỉ lệ này của Thái Lan là 17,4% và
10,3% và Malaixia là 19,4% và 11,9% (So với các thị trường có mức thu nhập và tiêu dùnh bình
quân đầu người tương đương, hiện nay thị trường Mỹ chỉ chiếm 4,8% giá trị kim nghạch xuất
khẩu của Việt Nam so với các nước Châu Âu là 24% và Nhật Bản là 28,7%).
2/HĐTM Việt-Mỹ sẽ tạo cơ hội làm ăn mới cho các nhà đầu tư Mỹ tại Việt Nam dưới hình
thức đầu tư trực tiếp hoặc liên doanh với các doanh nghiệp Việt Nam qua đó sẽ tăng khả năng
thành công cũng như học hỏi được cách quản lý của các nhà kinh doanh hàng đầu thế giới cho các
doanh nghiệp Việt Nam.Đồng thời nó cũng mở ra cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam phải nổ
lực không ngừng nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, học tập một cách làm ăn bài bản, phù
hợp với luật lệ kinh doanh quốc tế. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể tiếp thu công nghệ
tiên tiến, kỹ thuật hiện đại, góp phần thúc đẩy nhanh hơn tiến trinh công nghiệp hoá- hiện đại hoá
đất nước.
3/HĐTM Việt-Mỹ giúp các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu một lượng hàng lớn vào Mỹ
do đó các doanh nghiệp sẽ giải quyết được vấn đề việc làm cho công nhân của mình đồng thời
cũng tạo nhiều công ăn việc làm mới góp phần giải quyết vấn đề dân số và việc làm ở Việt Nam.
III/Những thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam
1/Trình độ phát triển kinh tế giữa hai nước rất chênh lệch, lại có những điểm rất khác
nhau về thể chế chính trị xã hội, về quan niệm ,về tập quán ,sở thích, thị hiếu người tiêu dùng.Nếu
các doanh nghiệp Việt Nam không tính đến các nhân tố này thì có thể dẫn đến tư tưởng nôn
nóng ,sốt ruột hoặc chủ quan hay bi quan trong khi giải quyết các mối quan hệ phát sinh trong quá
trình làm ăn với Mỹ do đó rất dẫn đến thất bại.
2/Hệ thống pháp luật Việt Nam còn nhiều thiếu sót lại chưa đồng bộ và có nhiều điểm
không phù hợp với thông lệ quốc tế.Mỹ là một nước có hệ thống pháp luật hết sức chặt chẽ với tư
cách là một siêu cường về kinh tế và chính trị Mỹ đã tự đặt ra những điều luật của riêng mình do
đó việc mới tiếp xúc với một thị trường mới mẻ sẽ khiến các doanh nghiệp Việt Nam không khỏi
bỡ ngỡ rất khó tránh khỏi những sai lầm bởi ở Mỹ “kiện tụng cũng được coi như một nghề” mà
bằng chứng chính là việc xuất khẩu cá Tra cá Basa của các doanh nghiệp Việt Nam sang Mỹ.
3/Sau một thời gian ngắn(3-7 năm), khi HĐTM có hiệu lực nhiều hàng hoá của Mỹ sẽ

được nhập khẩu vào Việt Nam với việc bãi bỏ hạn ngạch và giảm thuế sẽ đặt các doanh nghiệp
Việt Nam ở trong một điều kiện cạnh tranh gay gắt hơn trước đây.Đồng thời các lĩnh vực hoạt
động tài chính ,ngân hàng bảo hiểm ,viễn thông, pháp lý, giáo dục,y tế sẽ chiếm lĩnh thị trường
Việt Nam làm cho các doanh nghiệp kinh doanh trong những ngành này của Việt Nam sẽ gặp phải
những đối thủ cạnh tranh hết sức gay gắt vì những lợi thế hơn hẳn của họ .Nếu chúng ta không có
những chuẩn bị ngay từ bây giờ thì người tiêu dùng Việt Nam chỉ hướng tới những dịch vụ tiện lợi
hơn của các nhà đầu tư Mỹ.
4/ Các doanh nghiệp Việt Nam, những người trực tiếp làm ăn với Mỹ lại chưa thông hiểu luật lệ
cung cách kinh doanh của người Mỹ.Chính điều này chẳng những có thể dẫn đến việc bỏ lỡ cơ hội
trong kinh doanh mà đôi khi còn bị thiệt thòi vì những lý do không đáng có. Bên cạnh đó ,với trình
độ quản lý còn yếu kém, lại chưa có kinh nghiệm làm ăn theo cơ chế thị trường cùng với trình độ
công nghệ còn lạc hậu, trình độ chuyên môn của người lao động còn chưa cao.Tất cả những điều
đó làm cho sản phẩm của chúng ta còn kém về chất lượng, xấu về hình thức khó lòng cạnh tranh
với biết bao bạn hàng mậu dịch của Mỹ từ các nước Nam Mỹ, từ Trung Quốc, từ các nước Nics,
các nước ASEAN. Đây chính là thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi HĐTM có hiệu
lực.

×