Tải bản đầy đủ (.docx) (48 trang)

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VŨ GIA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 48 trang )

1
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN VŨ GIA
3.1. Đánh giá hiệu lực quản lý tài chính tại công ty cổ phần Vũ Gia
Công ty cổ phần Vũ Gia là một doanh nghiệp cổ phần, được thành lập trong thời
kỳ thị trường kinh doanh dịch vụ taxi diễn ra nhiều cạnh tranh khốc liệt nên việc tuân
thủ chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán và các quy định khác của pháp luật hiện hành là
một việc làm hết sức cần thiết để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đi
vào nề nếp và đạt hiệu quả cao. Quy chế quản lý tài chính của công ty là một văn bản cụ
thể hóa các chính sách tài chính do Bộ tài chính ban hành dựa vào điều kiện cụ thể của
công ty.
Công ty luôn ý thức được việc tuân thủ theo các quy chế quản lý tài chính đó sẽ
mang lại hiệu quả kinh doanh cao cho công ty. Mọi khoản mục, nội dung trong quy chế
đều đi vào thực tế một cách hiệu quả và thiết thực.
+ Đối với các khoản phải thu, việc các khoản phải thu không có khả năng thu hồi
là chưa xảy ra trong thực tế nên doanh nghiệp không lập dự phòng các khoản phải thu.
Tuy nhiên, trong quy chế quản lý tài chính vẫn quy định về công tác xử lý các khoản
phải thu không có khả năng thu hồi, quy định này phù hợp với quy định của Bộ tài
chính và cũng rất tốt với công ty.
+ Công ty chưa trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính dài hạn
như theo quy định trong quy chế quản lý tài chính. Đây không hẳn là hạn chế của công
ty vì các khoản đầu tư tài chính dài hạn thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản
của công ty.
+ Các khoản doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí khác
cũng như việc phân phối lợi nhuận đã được chi tiết, cụ thể phù hợp với tình hình thực tế
của công ty và được thực hiện nghiêm túc trong kỳ. Điều này được thể hiện rõ trong các
báo cáo chi tiết, báo cáo tổng hợp của công ty.
Trên đây là một số nhận xét về việc áp dụng quy chế quản ký tài chính vào thực
tiễn. Ngoài một số điều trên, còn lại tất cả các nội dung khác của quy chế đều được thực
hiện trong thực tế quản lý và hạch toán kế toán của công ty.
2


3.2. Đánh giá thực trạng lập Báo cáo tài chính và phân tích Báo cáo tài chính
3.2.1. Đánh giá về lập Báo cáo tài chính tại công ty
Ưu điểm:
Thông tin cung cấp qua hệ thống Báo cáo tài chính của công ty thật sự hữu ích
không chỉ với các nhà lãnh đạo trong công ty mà còn với các đối tượng quan tâm bên
ngoài như ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các nhà đầu tư.
+ Lao động kế toán: việc phân công lao động đảm nhiệm các phần hành kế toán
nói chung và lập Báo cáo tài chính nói riêng rất rõ ràng. Kế toán tổng hợp kiêm kế toán
trưởng đảm nhiệm công tác lập Báo cáo tài chính định kỳ hàng năm. Số liệu được tổng
hợp từ các phần hành kế toán riêng biệt.
+ Trình độ lao động kế toán: Trình độ kế toán viên tại công ty là cao và đồng
đều, khả năng sảy ra sai sót trong kế toán được giảm thiểu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa
với chất lượng thông tin cung cấp trên Báo cáo tài chính.
+ Chính sách kế toán áp dụng: Các chính sách kế toán được áp dụng để lập Báo
cáo tài chính là phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh tại công ty trên cơ sở những
quy định của các cơ quan chức năng, được nêu rõ trong Bản thuyết minh báo cáo tài
chính và thể hiện trong việc lập, trình bày Báo cáo tài chính.
+ Chế độ kế toán áp dụng: Công ty thực hiện tuân thủ nghiêm túc theo mọi quy
định hiện hành của pháp luật về chế độ chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và hệ thống Báo
cáo tài chính. Hệ thống Báo cáo tài chính của công ty được lập theo Quyết định
15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Nhìn chung,
hệ thống Báo cáo tài chính sử dụng tại công ty được lập theo mẫu chung, các chỉ tiêu chi
tiết cho những khoản mục cần thiết trên Báo cáo tài chính được trình bày trên Bản
thuyết minh báo cáo tài chính hoặc trong báo cáo nội bộ của công ty. Vì vậy, việc lập
Báo cáo tài chính được thực hiện theo đúng mẫu thống nhất mà vẫn đảm bảo cung cấp
thông tin kế toán cụ thể, chi tiết cho phân tích tài chính của công ty.
+ Công tác lập Báo cáo tài chính: Việc lập Báo cáo tài chính của công ty tuân thủ
theo những nguyên tắc cơ bản của kế toán như: hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất
quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ, có thể so sánh, đáp ứng yêu cầu lập Báo cáo tài chính
của công ty là trung thực và hợp lý.

3
Tiến độ lập, gửi Báo cáo tài chính năm của công ty luôn đúng thời hạn theo quy
định chung của Bộ tài chính. Điều này đáp ứng được nhu cầu cung cấp thông tin kịp
thời, chính xác theo yêu cầu của các đối tượng quan tâm đến tình hình của công ty.
+ Quy trình lập Báo cáo tài chính:
Chất lượng nguồn số liệu lập Báo cáo tài chính được đảm bảo: chứng từ kế toán
đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ; công tác ghi sổ được phân công rõ ràng, có sự kiểm tra,
đối chiếu giữa các kế toán viên.
Công tác kế toán cuối kỳ (kiểm kê, thực hiện các bút toán cuối kỳ), công tác khóa
sổ được thực hiện theo đúng quy định của Bộ tài chính và phù hợp với đặc điểm của
công ty.
Các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính được trình bày theo đúng mẫu quy định của
Bộ tài chính theo từng thời kỳ.
Trách nhiệm lập Báo cáo tài chính là của kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp
trong công ty. Các kế toán viên đảm nhiệm các phần hành có trách nhiệm đảm bảo tính
chính xác của số liệu cung cấp cho kế toán tổng hợp thực hiện lập Báo cáo tài chính.
+ Phần mềm kế toán: phần mềm kế toán cùng với việc nối mạng nội bộ trong
công ty đã giúp công tác lập, kiểm tra, đối chiếu số liệu trên Báo cáo tài chính của công
ty diễn ra nhanh chóng, đảm bảo độ tin cậy hơn. Với phần mềm kế toán đang thử
nghiệm, công tác kế toán tại công ty được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác,
tiết kiệm lao động kế toán cũng như giúp phần nào cho việc tổng hợp số liệu để việc lên
các Báo cáo tài chính được nhanh chóng, dễ dàng hơn nhiều so với thực hiện kế toán thủ
công. Hơn nữa, việc xây dựng mạng nội bộ trong công ty giúp cho việc kiểm tra, đối
chiếu số liệu, việc cung cấp thông tin phản hồi cũng kịp thời hơn.
Hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm trên, công tác lập Báo cáo tài chính của công ty vẫn
còn một số hạn chế.
+ Quy trình lập Báo cáo tài chính: tuy chính sách kế toán của công ty yêu cầu lập
dự phòng với các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các khoản nợ phải thu khó đòi
nhưng thực tế cho thấy trên Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp không hề xuất hiện
các khoản mục dự phòng. Điều đó làm giảm tính chính xác của thông tin kế toán cung

cấp, làm ảnh hưởng đến giá trị của các Báo cáo tài chính. Nguyên nhân là do công ty
chưa thỏa mãn những điều kiện về trích lập dự phòng do cơ quan Thuế quy định.
4
Việc lập Báo cáo tài chính của công ty mặc dù đã có những sửa đổi cho phù hợp
với Quyết định số 15/QĐ/BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính
nhưng vẫn còn có những bất cập. Khoản mục doanh thu hoạt động tài chính và chi phí
tài chính của doanh nghiệp chưa được chi tiết trên thuyết minh Báo cáo tài chính. Các
nguyên tắc kế toán áp dụng trong công ty cũng chưa được trình bày đầy đủ trên thuyết
minh Báo cáo tài chính.
Trong phần hành kế toán tài sản cố định, khi doanh nghiệp thực hiện nhượng bán
tài sản cố định, phần thu nhượng bán và chi nhượng bán không được hạch toán vào tài
khoản 711 – Thu nhập khác và tài khoản 811 – Chi phí khác. Việc hạch toán như vậy
không đúng với bản chất của thu nhập và chi phí. Trong phần hành kế toán chi phí, giá
thành, doanh nghiệp không sử dụng tài khoản 641 – Chi phí bán hàng. Trên thực tế, tại
doanh nghiệp đã phát sinh một số khoản chi phí như chi phí quảng cáo, chi phí hội nghị
khách hàng. Những khoản mục chi phí này chiếm tỷ trọng nhỏ nên doanh nghiệp đã
hạch toán vào tài khoản 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp. Việc hạch toán như vậy là
không đúng với bản chất của chi phí. Mặc dù kế toán trưởng đã kiểm soát khắt khe
nhưng vẫn không phát hiện ra những tồn tại trên, do vậy mục tiêu phân loại và trình bày
Báo cáo tài chính bị ảnh hưởng.
+ Phần mềm kế toán: phần mềm kế toán công ty đang sử dụng vẫn chưa được
hoàn thiện nên công tác lập Báo cáo tài chính của công ty chưa được tự động hóa hoàn
toàn, vẫn còn cơ hội xảy ra sai sót. Hiện nay, do hạn chế về kinh phí nên việc áp dụng
phần mềm kế toán mới vẫn chưa được ban lãnh đạo công ty phê duyệt.
3.2.2. Đánh giá về phân tích Báo cáo tài chính tại công ty
Ưu điểm: Việc phân tích Báo cáo tài chính tại công ty được thực hiện khá nghiêm túc
và có những ưu điểm sau
+ Lao động kế toán thực hiện phân tích: Công tác phân tích Báo cáo tài chính tại
công ty do kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp thực hiện. Kế toán trưởng tại công ty
có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm làm việc lâu năm. Công việc phân tích Báo

cáo tài chính của công ty do một người đảm đương trách nhiệm từ khi thành lập công ty
nên có điều kiện bao quát tình hình tài chính tại công ty. Ngoài ra, kế toán trưởng có thể
báo cáo trực tiếp với giám đốc công ty nên đảm bảo được tính thời sự của thông tin
phân tích.
5
+ Nội dung phân tích: các chỉ tiêu được phân tích đều theo quy định của Bộ tài
chính, ngoài ra còn bổ sung thêm các chỉ tiêu cần thiết khác. Các chỉ tiêu trong Bản
thuyết minh báo cáo tài chính được phân tích khá tỉ mỉ, thêm vào đó, các chỉ tiêu bổ
sung cũng được phân tích chi tiết để thấy rõ nguyên nhân biến động của các chỉ tiêu.
+ Quy trình phân tích:
Từng công việc trong quy trình phân tích được thực hiện khá đây đủ như: xác
định mục tiêu phân tích Báo cáo tài chính, nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thông
tin cần thu nhập và thời gian tiến hành.
Trong giai đoạn thực hiện phân tích, các công việc phân tích Báo cáo được thực
hiện tuần tự từ sưu tầm tài liệu, xử lý số liệu; tính toán các chỉ tiêu phân tích; xác định
nguyên nhân và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu
phân tích; tổng hợp kết quả và rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của công
ty.
+ Kết quả phân tích: sản phẩm của phân tích Báo cáo tài chính không chỉ là kết
quả phân tích mà còn kèm theo các giải pháp nhằm khắc phục những nhược điểm trong
kỳ kế toán phân tích và tiếp tục phát huy những điểm mạnh của doanh nghiệp nhằm
nâng cao năng lực tài chính của công ty. Đây là một ưu điểm lớn cần phát huy.
Hạn chế: tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phân tích Báo cáo tài chính của công ty
vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định.
+ Lao động kế toán thực hiện phân tích: kế toán trưởng kiêm nhiệm luôn phân
tích Báo cáo tài chính làm cho công việc của kế toán trưởng phải thực hiện sẽ rất nhiều,
thêm vào đó những đánh giá sẽ mang tính chủ quan hơn. Đặc biệt, khi kết thúc năm tài
chính, ngoài việc kiểm soát lập báo cáo, thực hiện công việc hàng ngày, kế toán trưởng
còn thực hiện thêm công việc phân tích nên chất lượng công việc phân tích không tránh
khỏi bị ảnh hưởng. Công việc này chỉ do một người kiêm nhiệm nên các phân tích và

giải pháp vẫn còn mang tính chủ quan. Hiện nay, ban lãnh đạo công ty đang có kế hoạch
bổ sung nhân lực cho bộ phận kế toán nhằm khắc phục nhược điểm trên.
+ Về tổ chức thực hiện phân tích: do hạn chế về lao động kế toán thực hiện phân
tích nên việc tổ chức thực hiện phân tích có sự chồng chéo. Kế toán trưởng phải thực
hiện cùng lúc quá nhiều công việc vào thời điểm cuối kỳ.
6
+ Về phạm vi phân tích: việc phân tích mới chỉ được giới hạn trong phạm vi nội
bộ công ty, chưa có sự so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành. Hiện nay,
rất ít doanh nghiệp công khai số liệu kế toán trong năm tài chính nên việc thu thập số
liệu và so sánh với các doanh nghiệp trong cùng ngành là hết sức khó khăn. Việc đánh
giá tình hình tài chính của công ty trong mối tương quan với các doanh nghiệp cùng
ngành là không có tính khả thi trong điều kiện thị trường hiện nay.
+ Về nguồn số liệu dùng trong phân tích: nguồn số liệu dùng trong phân tích của
doanh nghiệp chưa thật sự đáng tin cậy vì Báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp
chưa được kiểm toán bởi một tổ chức kiểm toán độc lập.
+ Về phương pháp sử dụng trong phân tích: hiện nay, công ty mới chỉ thực hiện
phân tích Báo cáo tài chính thông qua các bảng biểu số liệu. Đối với các nhà phân tích
chuyên nghiệp và những người trong cùng lĩnh vực tài chính, việc đọc hiểu hệ thống
bảng biểu này là không mấy khó khăn. Tuy nhiên, để các đối tượng quan tâm có được
cái nhìn trực quan, rõ ràng, mạch lạc về sự biến động của các chỉ tiêu phân tích thì
doanh nghiệp nên sử dụng thêm phương pháp đồ thị.
+ Về quy trình phân tích: giai đoạn kết thúc phân tích, không có quá trình hoàn
chỉnh hồ sơ chính thức về phân tích Báo cáo tài chính mà chỉ lập một bản báo cáo về kết
luận sau khi phân tích Báo cáo tài chính kèm theo các bản báo cáo nội bộ để trình Ban
giám đốc. Quy trình phân tích được thực hiện khá đầy đủ, song khâu công việc cuối
cùng thể hiện kết quả công việc lại không được thực hiện. Điều này gây khó khăn cho
các đối tượng quan tâm ngoài phạm vi doanh nghiệp mà không thông thạo về đánh giá
tài chính doanh nghiệp. Đây cũng là tình trạng chung của các doanh nghiệp hiện nay vì
việc giải thích tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng một văn bản cụ thể chưa được
các cơ quan chức năng yêu cầu.

+ Về kết quả phân tích:
Các biện pháp đề ra sau quá trình thực hiện phân tích chưa được giải trình bằng
một văn bản cụ thể, do đó, các biện pháp đề ra đôi khi rất thiết thực và có tính khả thi
nhưng chưa được chú ý áp dụng một cách triệt để. Nguyên nhân là do chưa có một yêu
cầu nào về việc cung cấp bản giải trình kèm theo này từ phía ban quản lý công ty, công
tác phân tích phần nào vẫn mang tính hình thức.
7
Tuy nhiên, qua công tác phân tích tình hình tài chính cho thấy thực trạng kinh
doanh cũng như năng lực tài chính của doanh nghiệp là khá tốt. Tổng tài sản tăng qua
các năm, cơ cấu tài sản cho thấy những đầu tư mang tính chiều sâu của doanh nghiệp
vào tài sản cố định. Tỷ suất lợi nhuận tương đối ổn định tuy tỷ suất này năm 2007 giảm
so với năm 2006. Doanh nghiệp chưa chú ý thanh toán các khoản công nợ, tuy nhiên, do
tài sản có thể dùng để thanh toán của doanh nghiệp lớn nên khả năng thanh toán của
doanh nghiệp vẫn được đảm bảo.
+ Về nội dung phân tích: mặc dù công tác phân tích Báo cáo tài chính của công
ty được thực hiện khá chi tiết và tỷ mỉ nhưng vẫn còn một số nội dung công ty chưa
thực hiện phân tích. Công ty chưa thực hiện phân tích cấu trúc tài chính, phân tích từng
Báo cáo tài chính, phân tích rủi ro tài chính. Trên thực tế, những nội dung đó mới chỉ
được vạch ra trên lý thuyết, không có nhiều doanh nghiệp thực hiện phân tích. Đối với
một công ty quy mô nhỏ như công ty cổ phần Vũ Gia thì phân tích tất cả các nội dung
đó gây lãng phí nhân lực, không cần thiết và tính ứng dụng của kết quả phân tích không
cao.
Tồn tại trước mắt trong khâu phân tích Báo cáo tài chính của công ty là việc phân
tích tình hình thanh toán của công ty chưa đầy đủ. Công ty chưa thực hiện phân tích các
khoản nợ quan trọng, số vòng quay các khoản phải thu và thời gian các khoản phải thu.
Công ty chưa ý thức được tầm quan trọng của phân tích các khoản nợ quan trọng. Hiện
nay, nhà nước quy định trình tự ưu tiên trong quá trình thanh toán được sắp xếp theo thứ
tự sau: thanh toán cho người lao động, nộp ngân sách nhà nước, thanh toán với người
bán, thanh toán với người mua và trả nợ ngân hàng. Một doanh nghiệp có hệ số khả
năng thanh toán cao mà các khoản nợ người lao động và nợ nhà nước chiếm tỷ trọng

cao và có xu hướng tăng qua các năm thì vẫn chưa gây ấn tượng tốt với ngân hàng và
các tổ chức tín dụng. Doanh nghiệp nên tính toán và phân tích chỉ tiêu số vòng quay các
khoản phải thu (phải trả) để biết được số dư các khoản phải thu (phải trả) của công ty có
ở mức hợp lý không và hiệu quả của việc thu hồi nợ (tốc độ thanh toán các khoản phải
trả) có cao không. Doanh nghiệp cũng nên tính toán thêm thời gian quay vòng các khoản
phải thu (phải trả). Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền và thanh toán của
công ty càng nhanh.
8
Doanh nghiệp chưa thực hiện phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu về tỷ suất
sinh lời, do vậy, doanh nghiệp chưa nhận thấy lý do sự biến động của các chỉ tiêu này.
Việc tính toán đầy đủ các hệ số về hiệu quả kinh doanh như lý thuyết cũng là không cần
thiết.
3.3. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác lập Báo cáo tài chính và phân tích Báo
cáo tài chính tại công ty
Xuất phát từ nhu cầu khách quan hình thành và phát triển của hạch toán kế toán
là cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm, trong điều kiện kinh tế thị trường
ngày càng phát triển hiện nay, thông tin kế toán ngày càng đa dạng và nhu cầu nắm bắt
thông tin ngày càng cao. Là sản phẩm quan trọng nhất của hệ thống kế toán, hệ thống
Báo cáo tài chính ngày càng khẳng định vai trò cung cấp thông tin hữu ích, toàn diện
nhất của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Trong điều kiện thị trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, kết quả kinh doanh của
công ty không chỉ là mối quan tâm của ban lãnh đạo trong nội bộ công ty mà còn là mối
quan tâm của các đối tượng khác như cơ quan chủ quản, các nhà đầu tư, các tổ chức tín
dụng, người lao động trong công ty…Các thông tin về kết quả kinh doanh là cơ sở quan
trọng để đưa ra quyết định kinh doanh của các đối tượng liên quan:
+ Đối với các nhà đầu tư bên ngoài công ty, họ quan tâm đến các thông tin về
khả năng sinh lời của công ty. Đồng thời, họ cũng muốn xem xét đến khả năng xảy ra
rủi ro tiềm tàng liên quan đến khoản đầu tư tài chính của mình. Họ cần những thông tin
kịp thời để quyết định thời điểm đầu tư, thời điểm rút vốn và quy mô đầu tư.
+ Cán bộ công nhân viên cũng quan tâm đến tình hình kinh doanh, thông tin kế

toán của công ty vì tình hình tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình thanh toán
lương với công nhân viên.
+ Ngân hàng và các tổ chức tín dụng quan tâm đến khả năng thanh toán cũng như
tình hình lãi lỗ trong kinh doanh của công ty để ra quyết định cho vay được chính xác.
Các nhà cung cấp cũng xem xét nhiều khả năng thanh toán của công ty để nhận định
xem công ty có đủ khả năng thanh toán tiền hàng hay không.
Như vậy, nhu cầu thông tin kế toán ngày càng đòi hỏi tính chính xác, kịp thời. Vì
thế, việc hoàn thiện công tác lập Báo cáo tài chính là hết sức bức thiết, nhằm nâng cao
chất lượng thông tin, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế.
9
Thực trạng công tác lập và phân tích Báo cáo tài chính của công ty còn những
hạn chế nhất định. Để khắc phục những hạn chế đó và nâng cao chất lượng thông tin
trên các Báo cáo tài chính, công ty phải không ngừng hoàn thiện lập và trình bày Báo
cáo tài chính.
Cơ sở để đưa ra biện pháp hoàn thiện hệ thống Báo cáo tài chính, nâng cao chất
lượng lập Báo cáo tài chính tại công ty xuất phát từ yêu cầu của thông tin kế toán và
nhiệm vụ của công tác kế toán. Hạch toán kế toán với nhiệm vụ thu thập, xử lý và cung
cấp thông tin tài chính, kết quả kinh doanh để làm cơ sở cho việc ra quyết định quản lý.
Muốn vậy, thông tin kế toán phải được cung cấp kịp thời, chính xác, khách quan. Thông
tin trong Báo cáo tài chính là thông tin chung nhất về tình hình hoạt động kinh doanh
của công ty, tất cả những người quan tâm có thể nắm bắt, hiểu được tình hình tài chính
mà không cần phải tìm hiểu báo cáo chi tiết của công ty.
Cùng một thông tin kế toán thì khía cạnh xem xét, đánh giá là khác nhau tùy
thuộc vào nhu cầu sử dụng thông tin cũng như vai trò quản lý vĩ mô và lĩnh vực hoạt
động. Ví dụ như, đối với vai trò xem xét, đánh giá nhu cầu đầu tư, tại phòng kinh doanh
cần các thông tin mang tính thường xuyên, cụ thể chứ không phải các thông tin có tính
khái quát cao. Trong khi để đề ra các kế hoạch kinh doanh trong tương lai, ban giám đốc
cần các thông tin mang tính tổng hợp cao thể hiện tình hình hoạt động của công ty và
thông tin đó có thể là thường xuyên hoặc định kỳ đều được. Điều này chỉ có thể được
đáp ứng thông qua việc phân tích cụ thể thực trạng của công ty.

Tóm lại, vì những lý do trên, việc hoàn thiện công tác lập và phân tích Báo cáo
tài chính là thực sự cần thiết để đảm bảo tính chính xác của thông tin kế toán, mang lại
tích cực với hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đồng thời, việc khắc phục và hoàn thiện
hơn nữa công tác này là một việc làm cần thiết nhằm cung cấp thông tin kế toán dễ hiểu,
phù hợp, tin cậy, có thể so sánh vì không phải người đọc báo cáo nào cũng hiểu rõ về
công tác kế toán.
3.4. Nội dung hoàn thiện công tác lập và phân tích Báo cáo tài chính tại công ty
3.4.1. Hoàn thiện lập Báo cáo tài chính tại công ty
Căn cứ trên những ưu điểm và nhược điểm của công tác lập Báo cáo tài chính tại
công ty cổ phần Vũ Gia, em xin đưa ra một số ý kiến sau:
10
+ Về lao động kế toán: công ty cần duy trì chất lượng đội ngũ nhân viên kế toán.
Trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán đều nhau và đạt yêu cầu, mỗi kế toán viên
đều có khả năng hoàn thành tốt công việc của mình. Tuy nhiên, vào thời điểm cuối kỳ
kế toán, quá nhiều công việc tập trung vào kế toán trưởng khiến chất lượng công việc bị
hạn chế. Vì vậy, công ty nên tuyển dụng thêm lao động để giảm thiểu mật độ lao động
cho kế toán trưởng và cũng là để nâng cao chất lượng công việc, độ chính xác của thông
tin cung cấp trên Báo cáo tài chính.
+ Về chính sách kế toán áp dụng: công ty cần trích lập dự phòng với các khoản
phải thu khó đòi và các khoản đầu tư tài chính dài hạn, đảm bảo nguyên tắc thận trọng
trong kế toán, nâng cao tính chính xác của thông tin kế toán trên Báo cáo tài chính. Tuy
nhiên, việc trích lập dự phòng là một công việc khó, đòi hỏi kế toán viên có trình độ
chuyên môn cao và kinh nghiệm làm việc lâu năm. Đây là tồn tại của nhiều doanh
nghiệp hiện nay, không riêng đối với công ty cổ phần Vũ Gia. Doanh nghiệp có thể thuê
các công ty kiểm toán độc lập để nhận được ý kiến về tính trung thực và hợp lý của Báo
cáo tài chính, đây cũng là một giải pháp tăng độ tin cậy của thông tin cung cấp trên Báo
cáo tài chính mà cũng không quá tốn kém.
+ Về phần mềm kế toán: Hoàn thiện phần mềm kế toán đang sử dụng hoặc thử
nghiệm phần mềm kế toán mới, hoàn thiện công tác lập Báo cáo tài chính trên máy. Làm
được như vậy không những giảm thiểu khối lượng công việc mà còn tăng độ chính xác.

Phương án thử nghiệm phần hành kế toán mới không những tốn kém mà còn có tính rủi
ro cao, vì vậy, trong thời gian trước mắt, doanh nghiệp nên xem xét phương án hoàn
thiện phần hành kế toán đang sử dụng.
Công tác lập Báo cáo tài chính của công ty nói chung là hoàn thiện, đáp ứng đầy
đủ yêu cầu về cung cấp thông tin kịp thời, chính xác. Một số hạn chế của công ty sẽ dần
được khắc phục trong thời gian tới.
3.4.2. Hoàn thiện phân tích Báo cáo tài chính tại công ty
Hiện nay, việc phân tích Báo cáo tài chính của công ty được thực hiện khá cẩn
thận so với tình trạng chỉ tính toán các chỉ tiêu theo quy định của phần lớn các doanh
nghiệp hiện nay. Bên cạnh những nhược điểm cần phát huy trong thời gian tới, doanh
nghiệp cần khắc phục hạn chế trong khâu phân tích Báo cáo tài chính, cụ thể như sau:
11
+ Về lao động kế toán và tổ chức thực hiện phân tích: doanh nghiệp nên bổ sung
nhân viên kế toán giúp kế toán trưởng phân tích tình hình tài chính vào thời điểm cuối
kỳ. Doanh nghiệp không cần thiết phải lập riêng một bộ phận để thực hiện phân tích tình
hình tài chính vì đây không phải là công việc tiến hành thường xuyên trong năm. Như
vậy, sẽ tránh lãng phí công việc mà vẫn đáp ứng yêu cầu công việc, khắc phục đựoc hạn
chế về tổ chức thực hiện phân tích.
+ Về nguồn số liệu phân tích: doanh nghiệp cần có biện pháp để đảm bảo tính tin
cậy của nguồn số liệu phục vụ phân tích. Các Báo cáo tài chính cần được lập và trình
bày theo quy định của chế độ và chuẩn mực kế toán hiện hành, được kiểm toán bởi một
tổ chức kiểm toán độc lập. Bên cạnh đó, doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục hoàn thiện, nâng
cao chất lượng của hệ thống báo cáo nội bộ.
+ Về phương pháp sử dụng trong phân tích: nghiên cứu và đưa ra phương pháp
đò thị để công tác phân tích Báo cáo tài chính được hoàn thiện hơn, kết quả phân tích dễ
hiểu, có tính so sánh cao.
+ Về quy trình phân tích: thực hiện lập hồ sơ phân tích định kỳ hàng năm, báo
cáo kèm theo bộ Báo cáo tài chính của công ty.
+ Về kết quả phân tích: các biện pháp đề ra sau phân tích Báo cáo tài chính cần
được giải trình cụ thể trên một văn bản, có thể đính kèm hồ sơ phân tích hàng năm.

+ Về nội dung phân tích: sau thời gian ngắn ngủi thực tập tại công ty cổ phần Vũ
Gia, em xin được đưa ra một vài ý kiến bổ sung cho công tác phân tích Báo cáo tài
chính tại công ty.
Phân tích tình hình thanh toán tại công ty:
• Công ty chưa thực hiện phân tích các khoản nợ quan trọng, đây là một
mảng quan trọng trong phân tích tình hình thanh toán của doanh nghiệp. Việc phân tích
các khoản nợ quan trọng cho phép người sử dụng Báo cáo tài chính và bản thân doanh
nghiệp biết được việc thanh toán các khoản công nợ có được thực hiện theo đúng thứ tự
ưu tiên thanh toán của nhà nước hay không. Hiện nay, các khoản công nợ trên Báo cáo
tài chính chưa được sắp xếp theo đúng thứ tự ưu tiên thanh toán, đây là điểm mâu thuẫn
giữa chế độ và chủ trương của nhà nước khiến các công ty không thấy được tầm quan
trọng của phân tích các khoản nợ quan trọng.
12
Số liệu về thanh toán các khoản nợ ngắn hạn qua 3 năm 2005, 2006, 2007 cho
thấy tồn tại lớn nhất tại công ty là khoản mục phải trả công nhân viên tăng vọt trong
năm 2007. Tuy nhiên, đây là khoản nợ được ưu tiên thanh toán nhất theo quy định của
nhà nước, việc dây dưa, nợ đọng với công nhân viên cho thấy doanh nghiệp chưa quan
tâm đến việc thanh toán tiền lương đúng kỳ hạn cho người lao động. Doanh nghiệp cần
khắc phục nhược điểm này để tạo tinh thần phấn khởi cho người lao động trong quá
trình làm việc.
• Doanh nghiệp chưa thực hiện tính toán và phân tích số vòng quay các
khoản phải thu, thời gian 1 vòng quay các khoản phải thu, số vòng quay các khoản phải
trả người bán và thời gian 1 vòng quay các khoản phải trả người bán.
- Chỉ tiêu số vòng quay các khoản phải thu được tính theo công thức sau:
Số vòng quay của các Tổng doanh thu bán chịu
= ---------------------------------------------------
khoản phải thu Số dư bình quân phải thu khách hàng
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ phân tích số vòng quay phải thu của khách hàng
là bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao thì khả năng thu hồi tiền của khách hàng của
doanh nghiệp càng tốt.

- Chỉ tiêu thời gian một vòng quay các khoản phải thu của khách hàng được tính
theo công thức sau:
Thời gian 1 vòng quay các khoản Thời gian của kỳ phân tích
= ------------------------------------------------------
phải thu của khách hàng Số vòng quay các khoản phải thu khách hàng
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian của một vòng quay của một khoản phải thu
khách hàng là bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này cần so sánh với thời gian bình quân ghi
trong hợp đồng kinh tế để thấy được thực chất khả năng thu tiền của doanh nghiệp và uy
tín của khách hàng đối với doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu số vòng quay các khoản phải trả người bán được tính theo công thức
sau:
Số vòng quay các khoản Tổng số tiền hàng mua chịu
= -----------------------------------------------
phải trả người bán Số dư bình quân phải trả người bán
13
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ phân tích số vòng quay phải trả người bán quay
được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng cao thì tiến độ thanh toán của doanh nghiệp đối
với các khoản phải trả càng nhanh.
- Chỉ tiêu thời gian bình quân của một vòng quay khoản phải trả người bán được
tính theo công thức sau:
Thời gian 1 vòng quay các Thời gian kỳ phân tích
= ---------------------------------------------------------
khoản phải trả người bán Số vòng quay các khoản phải trả người bán
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian của một vòng quay của một khoản phải trả người
bán là bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này cần so sánh với thời gian bình quân ghi trong hợp
đồng kinh tế để thấy được tình hình thanh toán của doanh nghiệp từ đó đưa ra giải pháp
phù hợp.
Ví dụ, từ số liệu trên Báo cáo tài chính và Bảng cân đối số phát sinh của công ty,
ta tính được:
Số vòng quay các khoản 90.012.684

= ------------------- = 0,9979 (vòng)
phải trả người bán năm 2006 90.205.119
Số vòng quay các khoản 123.568.103
= ------------------- = 1,0547 (vòng)
phải trả người bán năm 2007 117.162.619
Tử số của phép tính là số phát sinh khoản phải trả người bán trong năm, mẫu số
là bình quân của số dư khoản phải trả người bán đầu năm và cuối năm. Số liệu tính toán
trên có ý nghĩa: trong năm 2006, khoản phải trả người bán quay được 0,9979 vòng;
trong khi đó, trong năm 2007, khoản phải trả người bán quay được 1,0547 vòng. Như
vậy, tiến độ thanh toán của doanh nghiệp với các khoản phải trả năm 2007 cao hơn năm
2006, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp chấp hành nghiêm túc kỷ luật thanh toán, tạo được
uy tín đối với các nhà cung cấp.
Thời gian 1 vòng quay các 365
= ------------ = 365,77 (ngày)
khoản phải trả người bán 0,9979
Thời gian 1 vòng quay các 365
= ------------ = 346,07 (ngày)
khoản phải trả người bán 1,0547
14
Số liệu tính toán trên có ý nghĩa: thời gian một quay các khoản phải trả người
bán năm 2006 là 365,77 ngày; trong khi đó, thời gian một vòng quay các khoản phải trả
người bán năm 2007 là 346,07 ngày.
Phân tích hiệu quả kinh doanh tại công ty:
Công ty có thể sử dụng mô hình phân tích tài chính Dupont để làm rõ mối quan
hệ giữa các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh. Mô hình phân tích tài chính Dupont cho
phép xác định mối quan hệ giữa các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
hoặc mối quan hệ giữa chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh với cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
Từ chỗ xác định mối quan hệ giữa các chỉ tiêu, doanh nghiệp sẽ phân tích được sự thay
đổi của nhân tố phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh chủ yếu là do ảnh hưởng của
nhân tố nào và đề xuất giải pháp tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tùy theo mục đích

phân tích, có thể xây dựng mô hình phân tích tài chính Dupont theo một trong hai cách
sau:
• Mô hình 1:
Tỷ suất lợi nhuận trên Lợi nhuận Doanh thu
= ------------------ * -------------------------------
tổng tài sản (ROA) Doanh thu Tổng tài sản bình quân
Từ biểu thức trên, công ty xác định mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận trên tổng
tài sản với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cũng như hiệu quả sử dụng tài sản theo
doanh thu. Hơn thế nữa, công ty xác định được 2 chỉ tiêu còn lại đã ảnh hưởng đến tỷ
suất lợi nhuận trên tổng tài sản như thế nào và sự thay đổi của tỷ suất lợi nhuận trên
tổng tài sản chủ yếu là do ảnh hưởng của nhân tố nào.
• Mô hình 2:
Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH bình quân Lợi nhuận
= ------------------------------ * -----------------------
tổng tài sản (ROA) Tổng tài sản bình quân VCSH bình quân
Tương tự như trên, công ty sẽ xác định được sự thay đổi của nhân tố tỷ suất lợi
nhuận trên tổng tài sản chủ yếu do sự thay đổi của nhân tố tỷ suất tự tài trợ hay tỷ suất
lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE).
15
Ví dụ, phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty theo mô hình 2:
Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007
ROA (LN/TTSBQ) 7,81 9,21
a (VCSHBQ/TTSBQ) 0,3621 0,4106
ROE (LN/VCSHBQ) 21,56 22,43
Nhân tố a thay đổi làm ROA thay đổi một lượng là: (0,4106 - 0,3621)*21,56 = 1,04566.
Trong khi đó, ROA thay đổi do ảnh hưởng của nhân tố ROE là: 0,4106*(22,43 – 21,56)
= 0,357222.
Như vậy, ROA tăng lên chủ yếu là do nhân tố a tăng lên, tuy nhiên, nhân tố ROE tăng
lên cũng làm cho ROA tăng lên đáng kể. Có thể kết luận, cơ cấu vốn của doanh nghiệp

đã được hợp lý hóa, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong năm 2008, doanh
nghiệp muốn tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh thì nên tập trung nâng cao suất sinh lợi
của vốn chủ sở hữu. Nâng cao chỉ tiêu ROE thì một mặt phải tăng quy mô lợi nhuận,
một mặt phải đảm bảo hợp lý cơ cấu vốn sản xuất.
3.5. Điều kiện thực hiện
* Đối với ban lãnh đạo công ty:
+ Nhanh chóng hoàn thiện phần hành kế toán đang sử dụng bằng cách thuê ngoài
hoặc đào tạo cán bộ xây dựng phần mềm kế toán trong nội bộ công ty.
+ Tạo điều kiện nâng cao chất lượng đội ngũ kế toán và đặc biệt là đội ngũ phân
tích Báo cáo tài chính.
+ Ban lãnh đạo yêu cầu phòng tài chính kế toán cung cấp hồ sơ hoàn chỉnh về
phân tích Báo cáo tài chính cùng những biện pháp đề ra.
* Đối với những đối tượng quan tâm đến công ty:
Các đối tượng quan tâm đến công ty như: nhà đầu tư, ngân hàng và các tổ chức
tín dụng, chủ nợ hoặc công nhân viên.
Những đối tượng này có trách nhiệm, quyền lợi liên quan đến doanh nghiệp nên
họ có thái độ rất thận trọng khi đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm đưa
ra những quyết định đúng đắn.
16
* Đối với các cơ quan chức năng:
+ Bộ tài chính cần đảm bảo tính khoa học, logic của hệ thống văn bản kế toán đã
và sẽ ban hành để dễ dàng phát hiện những mâu thuẫn trong nội dung của các văn bản
mà có sự điều chỉnh phù hợp với thực tế công tác hạch toán kế toán tại các doanh
nghiệp.
+ Bộ tài chính cần luôn cập nhật sự biến động của môi trường kinh doanh, những
đòi hỏi của nền kinh tế ngày càng phát triển mà có ảnh hưởng đến chế độ kế toán, chế
độ Báo cáo tài chính hiện hành để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và kịp thời.
+ Khi ban hành các quyết định, Bộ tài chính cần đẩy nhanh việc ban hành các
thông tư hướng dẫn kèm theo
+ Bộ tài chính có thể quy định chi tiết hơn về công tác phân tích Báo cáo tài

chính đối với doanh nghiệp, để phân tích Báo cáo tài chính trong từng đơn vị được thực
hiện thống nhất hơn, đầy đủ hơn.
+ Cơ quan thống kê cần công khai hóa số liệu trung bình ngành và những số liệu
có thể công bố của các doanh nghiệp, để đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh của nền
kinh tế thị trường và cũng cung cấp cơ sở để các doanh nghiệp thực hiện so sánh với
tình hình bản thân doanh nghiệp mình.
17
KẾT LUẬN
Trong những năm gần đây, hệ thống những quy định liên quan đến Báo cáo tài
chính của Việt Nam không ngừng được thay đổi, cho phù hợp với điều kiện mới và cho
phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế. Vai trò cung cấp thông tin trên Báo cáo tài
chính không ngừng được nâng cao. Việc lập và trình bày Báo cáo tài chính phải tuân
theo đúng chuẩn mực nhằm cung cấp thông tin trung thực và hợp lý cho các đối tượng
quan tâm. Hơn thế nữa, thông qua các kết quả phân tích tình hình tài chính, có thể đưa
ra các dự báo về kinh tế, các quyết định về tài chính trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
và từ đó có thể đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn.
Công ty cổ phần Vũ Gia nhận thức rõ vai trò của lập và phân tích Báo cáo tài
chính nên đã không ngừng cải thiện công tác này để đáp ứng nhu cầu về cung cấp thông
tin kế toán hữu ích, kịp thời của các đối tượng quan tâm đến hoạt động kinh doanh của
công ty.
Vì thời gian thực tập có hạn nên việc tìm hiểu công tác lập và phân tích Báo cáo
tài chính không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Khóa luận tốt nghiệp này ngoài
việc đánh giá ưu nhược điểm của công tác trên còn đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn
thiện công tác này.
Em cũng xin được chân thành cảm ơn thạc sĩ Lê Kim Ngọc trong thời gian qua
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp em hoàn thành bản khóa luận này theo thời gian quy
định của khoa kế toán.
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Điều tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần Vũ Gia.

2. Báo cáo tài chính năm 2002, 2003, 2004, 2005, 2006,2007 của công ty cổ phần Vũ
Gia.
3. Bộ Tài Chính, Quyết định số 15/2006/QĐ - BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày
20 tháng 3 năm 2006 về chế độ kế toán doanh nghiệp.
4. Bộ Tài chính, Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 về việc ban hành
và công bố 6 Chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 3).
5. Bộ Tài Chính, Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 về việc ban
hành chế độ kế toán doanh nghiệp.
6. Khoa Kế toán trường Đại học Kinh tế quốc dân (2006), giáo trình Kế toán tài
chính, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.
7. Khoa Kế toán trường Đại học Kinh tế quốc dân (1999), giáo trình Kế toán quốc tế,
nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.
8. PGS. TS. Nguyễn Văn Công (10/2005), chuyên đề về Báo cáo tài chính và lập,
đọc, kiểm tra, phân tích Báo cáo tài chính, nhà xuất bản tài chính.
19
PHỤ LỤC

×