Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Đánh giá việc thực trạng thực hiện qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ tại bệnh viện sản nhi tỉnh quảng ninh năm 2019

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.47 MB, 97 trang )

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ THỊ THÙY TRANG

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUI TRÌNH CHĂM
SĨC THIẾT YẾU BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH TRONG VÀ
NGAY SAU ĐẺ TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI TỈNH
QUẢNG NINH NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 872070

HÀ NỘI, 2019


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ THỊ THÙY TRANG

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUI TRÌNH CHĂM
SĨC THIẾT YẾU BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH TRONG VÀ
NGAY SAU ĐẺ TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI TỈNH
QUẢNG NINH NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 872070

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐINH THỊ PHƯƠNG HÒA



HÀ NỘI, 2019


i

LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Lê Thị Thùy Trang, học viên lớp Thạc sĩ YTCC21B, xin cam đoan đã
thực hiện q trình làm khóa luận một cách khoa học, chính xác và trung thực.
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS Đinh Thị Phương Hòa và TS Dương Minh Đức.
2. Các kết quả số liệu và thơng tin trong khóa luận này là hồn tồn chính xác
đều có thực, kết quả thu được từ quá trình nghiên cứu của chúng tơi chưa
được cơng bố trên bất cứ tạp chí, bài báo nào.
Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Quảng Ninh, ngày tháng

năm 2019

Người Thực hiện

Lê Thị Thùy Trang


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành luận văn chương trình đào tạo Thạc sỹ Y tế Công cộng, tôi đã
nhận được rất nhiều sự gúp đỡ và hỗ trợ chân thành tận tình của q thầy cơ Nhà
trường, ban lãnh đạo, đồng nghiệp, bạn bè nơi tôi công tác cùng người thân trong

gia đình.
Tơi xin bày tỏ lịng kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường
Đại học Y tế Cơng cộng, Phịng Đào tạo Sau Đại Học, các thầy cô giáo Trường Đại
Học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tơi trong khóa học.
Đặc biệt, tơi xin trân trọng bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đinh Thị
Phương Hòa và TS Dương Minh Đức đã giúp đỡ tận tình giúp tơi lựa chọn, định
hướng, hướng dẫn tơi trong suốt q trình thực hiện đề tài cũng như hồn thành
luận văn này.
Tơi xin dành tình cảm chân thành và sự biết ơn sâu sắc tới Ban Lãnh đạo
Bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Quảng Ninh, bạn bè, đồng nghiệp đã dành cho tôi những
tình cảm, sự hỗ trợ tồn diện, q báu giúp tôi triển khai thành công nghiên cứu.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình bé nhỏ của tơi gồm bố tôi, chồng và hai
con cùng anh chị em, những người thân trong gia đình, bạn bè đã hết lịng động
viên ủng hộ tơi trong suốt q trình học tập và là động lực giúp đỡ tơi vượt qua
những khó khăn để đạt được kết quả khóa học và hồn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn

Lê Thị Thùy Trang


iii

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................................. v
DANH MỤC BẢNG- BIỂU ĐỒ- HÌNH .............................................................................vi
TĨM TẮT NGHIÊN CỨU .................................................................................................vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................................... 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .................................................................................................. 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................................... 4


1.1. Khái niệm có liên quan trong luận văn ............................................................4
1.2. Nội dung chương trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay
sau đẻ ......................................................................................................................5
1.3. Thực trạng về chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ.....8
1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện chăm sóc thiết yếu bà
mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ .....................................................................13
1.5. Thông tin về địa bàn nghiên cứu ...................................................................14
1.6. Khung lý thuyết .............................................................................................16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................. 18

2.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................18
2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu .....................................................................18
2.3. Thiết kế nghiên cứu .......................................................................................18
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ...............................................................19
2.5. Phương pháp thu thập số liệu.........................................................................20
2.6. Các biến số nghiên cứu. .................................................................................21
2.7. Các khái niệm và các tiêu chí đánh giá..........................................................22
2.8. Phương pháp phân tích số liệu .......................................................................22
2.9. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu .....................................................................22
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................................... 24

3.1. Một số thông tin chung về hộ sinh tại khoa Sản đẻ .......................................24
3.2. Quan sát thực hành quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh .........25
3.3. Một số yếu tố thuận lợi và khó khăn trong thực hiện Chăm sóc thiết yếu bà
mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ tại Bệnh viện. .............................................34


iv


CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN .................................................................................................. 40

4.1. Thực trạng thực hiện Qui trình Chăm sóc thiết yếu BM, TSS trong và ngay
sau đẻ. ...................................................................................................................40
4.2. Các yếu tố thuận lợi khó khăn khi thực hiện quy trình .................................44
4.3. Hạn chế của nghiên cứu đánh giá ..................................................................45
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 47
KHUYẾN NGHỊ ................................................................................................................. 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 50
PHỤ LỤC ............................................................................................................................ 54

Phụ lục 1: BẢNG KIỂM QUAN SÁT CHĂM SÓC THIẾT YẾU BÀ MẸ VÀ
TRẺ SƠ SINH TRONG VÀ NGAY SAU ĐẺ ĐỐI VỚI TRẺ THỞ ĐƯỢC ......54
Phụ lục 2: PHIẾU PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ Y TẾ ......................................58
Phụ lục 3: PHIẾU THẢO LUẬN NHÓM ............................................................61
Phụ lục 4 : GIẤY CHẤP NHẬN THAM GIA PHỎNG VẤN SÂU ...................63
Phụ lục 5 : GIẤY CHẤP NHẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU ...........................64
Phụ lục 6: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU ....................................................................65


v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BYT

Bộ Y tế

CBYT

Cán bộ Y tế


CSTYBMTSS

Chăm sóc thiết yếu bà mẹ trẻ sơ sinh

CSSKSS

Chăm sóc sức khỏe sinh sản

IMC

International confederation of Midwives
Hiệp hội Nữ hộ sinh Quốc tế

FIGO

International Federation of Gyneology and Obstetric
Liên đoàn Quốc tế về Sản Phụ khoa

EENC

Early Essental Newborn care
Chăm sóc thiết yếu sơ sinh sớm

TVM

Tử vong mẹ

TVSS


Tử vong sơ sinh

TSS

Trẻ sơ sinh

UNFPA

United Nations Population Fund
Quỹ Dân số Liên hợp quốc

WHO

World Health Organiration - Tổ chức Y tế Thế giới

NICU

Neonatal Intensive Care Unit
Đơn vị chăm sóc sơ sinh tích cực


vi

DANH MỤC BẢNG- BIỂU ĐỒ- HÌNH
Danh mục bảng
Bảng 3.1 Một số thông tin chung của hộ sinh khoa Sản đẻ..................................24
Bảng 3.2. Thực hành chuẩn bị trước sinh.............................................................25
Bảng 3.3 Thực hành đỡ đầu thai nhi.....................................................................26
Bảng 3.4. Thực hành đỡ vai thai nhi.....................................................................28
Bảng 3.5 Thực hành đỡ mông và chi thai nhi.......................................................29

Bảng 3.6. Thực hành các việc cần làm ngay sau sinh chăm sóc mẹ và con.........31
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 1: Tỷ lệ ca sinh hộ sinh thực hành đúng các bước chuẩn bị....................26
Biểu đồ 2: Tỷ lệ ca sinh hộ sinh thực hành đúng kỹ năng đỡ đầu thai nhi...........27
Biểu đồ 3: Tỷ lệ ca sinh hộ sinh thực hành đúng kỹ năng đỡ vai thai nhi............29
Biểu đồ 4: Tỷ lệ ca sinh hộ sinh thực hành đúng kỹ năng đỡ mông, chi thai nhi.30
Biểu đồ 5: Tỷ lệ ca sinh hộ sinh thực hành đúng các bước thực hành đỡ đẻ........30
Biểu đồ 6: Tỷ lệ ca sinh hộ sinh thực hành đúng các bước cần làm ngay sau đẻ.33
Biểu đồ 7: Tỷ lệ ca sinh hộ sinh thực hành đúng 40 bước quy trình Chăm sóc
thiết yếu.....................................................................................................................34
Danh mục hình
Hình 1: Khung lý thuyết thực hiện Qui trình Chăm sóc thiết yếu BM-TSS trong
và ngay sau................................................................................................................17


vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đặt vấn đề: Bộ y tế ban hành Quyết định số 4673/QĐ-BYT ngày 10/11/2014
về qui trình “Chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ”, được thực
hiện tại các cơ sở y tế nhằm nâng cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ
sơ sinh nhằm mục tiêu giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh. Đánh giá việc thực hiện
qui trình tại các cơ sở y tế là rất cần thiết để chỉ đạo, điều hành vì vậy chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá việc thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu bà
mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh, năm
2019”.
Mục tiêu: Mô tả thực trạng thực hiện qui trình và phân tích một số yếu tố
thuận lợi, khó khăn đến việc thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu BM-TSS trong
và ngay sau đẻ tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh năm 2019.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu

định lượng và định tính.
Kết quả: Tỷ lệ ca sinh cán bộ y tế thực hành đúng từ 35-40 bước quy trình
Chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh chiếm 63,5%; từ 30-34 bước đạt 33,9%;
Dưới 29 bước chiếm 2,6%. Tỷ lệ thực hiện đúng: Các bước chuẩn bị của hộ sinh đạt
87,8%, kỹ năng đỡ đầu thai nhi đạt 78,9%, kỹ năng đỡ vai thai nhi đạt 74,1%; Thực
hiện đủ 2 bước trong kỹ năng đỡ mông và chi thai nhi đạt 64,1%; Thực hiện đúng
cả 12 bước thực hành đỡ đẻ đạt 39,7%; 74,6% hộ sinh thực hành đúng từ 12-14
bước các việc cần làm ngay sau đẻ. Các yếu tố thuận lợi là cơ sở hạ tầng, trang thiết
bị hiện đại, bệnh viện áp dụng triển khai theo qui trình chuẩn quốc gia, mang lại
nhiều lợi ích cho cả bà mẹ, trẻ sơ sinh và nhân viên y tế, đặc biệt khi áp dụng qui
trình sẽ hạn chế sai sót, giảm thiểu tai biến, nhầm lẫn.
Các yếu tố khó khăn: Một số bà mẹ trong q trình sinh cịn đau đớn, mệt mỏi,
chưa ổn định tâm lý… nên ảnh hưởng đến việc phối hợp thực hiện quy trình như da
kề da, cho trẻ bú sớm, xoa đáy tử cung.
Khuyến nghị: Nâng cao hơn kỹ năng tư vấn giải thích hướng dẫn cho bà mẹ
và người nhà bà mẹ hiểu rõ tầm quan trọng trong việc chăm sóc thiết yếu bà mẹ và
trẻ sơ sinh. Tăng cường công tác giám sát quản lý chất lượng.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em luôn là một trong những ưu tiên
hàng đầu của Đảng và Nhà Nước. Chính vì vậy, các chỉ số về sức khỏe bà mẹ - trẻ
em ở nước ta được cải thiện một cách đáng kể trong vài thập kỷ qua. Tổng kết mục
tiêu phát triển Thiên niên kỷ giai đoạn 1990-2015 Việt Nam được cộng đồng quốc
tế đánh giá là điểm sáng trong thực hiện [11]. Theo báo cáo tổng kết thực hiện Mục
tiêu Thiên niên kỷ giai đoạn 15 năm của Bộ Kế hạch và Đầu tư, tử vong mẹ đã giảm
từ 233/100.000 trẻ đẻ ra sống xuống 58/100.000 và tử vong trẻ em <5 tuổi đã giảm
từ 58‰ vào năm 1990 xuống còn 20,1‰ năm 2015 [13].

Mặc dù đã có sự cải thiện rõ rệt về tình trạng sức khỏe bà mẹ, trẻ em nhưng
trong tiến trình hướng tới hậu mục Tiêu thiên niên kỷ, việc chăm sóc sức khỏe bà
mẹ trẻ em ở nước ta vẫn cịn gặp nhiều khó khăn. Hai thách thức lớn nhất là vẫn còn
sự khác biệt về tử vong mẹ và tử vong trẻ em giữa các vùng miền trong cả nước và
tử vong sơ sinh là gánh nặng trong mơ hình bệnh tật, tử vong trẻ em thu hẹp khoảng
trống về tử vong mẹ và sơ sinh giữa các vùng miền là nhiệm vụ ưu tiên của ngành y
tế trong các chiến lược, mục tiêu về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em trong thập
kỷ tới [9].
Chất lượng chăm sóc cuộc đẻ đóng vai trị rất quan trọng trong bảo đảm sự an
toàn cho bà mẹ và trẻ sơ sinh. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực hành lâm sàng
lỗi thời và có hại trong và ngay khi sinh của cán bộ y tế làm tăng nguy cơ tử vong
và mắc bệnh ở bà mẹ và trẻ sơ sinh [27], [26], [22]. Chất lượng chăm sóc thường bị
hạn chế do thiếu hướng dẫn quy trình rõ ràng và hạn chế về năng lực của nhân viên
y tế cũng như các vấn đề khác của hệ thống y tế [18], [15]. Liên quan đến các vấn
đề trên, trong thời gian gần đây tình trạng tử vong mẹ và tử vong sơ sinh không
giảm và nhiều trường hợp có sai sót do cán bộ y tế gây bức xúc trong dư luận xã hội
[11].
Thực trạng trên, việc cải thiện kiến thức, tuân thủ quy trình thực hành là nội
dung cốt lõi trong can thiệp nâng cao chất lượng chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh của
Bộ Y tế. Quyết định số 4673/ QĐ- BYT ngày 10/11/2014 phê duyệt “Tài liệu hướng


2

dẫn chun mơn chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ” [7]
là các hướng dẫn chuyên môn nhằm đảm bảo cuộc đẻ an toàn, giảm tai biến sản
khoa, tử vong mẹ, tử vong trẻ sơ sinh và giúp trẻ ra đời với sự khởi đầu tốt lành
nhất.
Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh là một bệnh viện chuyên khoa đầu ngành
lĩnh vực Sản Nhi của tỉnh. Bệnh viện đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2015 với

nhiệm vụ khám và chữa bệnh chuyên khoa sản phụ - nhi khoa cho nhân dân trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh lân cận trong khu vực Đông Bắc Tổ quốc. Kể từ
khi đi vào hoạt động bệnh viện đã đưa ra nhiều giải pháp trong đó có tuân thủ các
quy chế và quy trình chun mơn để nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh.
Qui trình chun mơn chăm sóc thiết yếu bà mẹ trẻ sơ sinh (CSTY BM-TSS) trong
và ngay sau đẻ là một quy trình quan trọng được bệnh viện ưu tiên triển khai trong
cải thiện dịch vụ chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, nhân viên y tế thực hiện
theo thói quen, khơng đúng thứ tự theo các bước của qui trình nên ảnh hưởng đến
chất lượng của ca sinh. Vì thế, chúng tơi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá việc
thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ tại
Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh, năm 2019”.


3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng thực hiện qui trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh
trong và ngay sau đẻ tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh năm 2019.
2. Phân tích một số yếu tố thuận lợi và khó khăn đến thực hiện qui trình chăm
sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ của Bệnh viện Sản Nhi tỉnh
Quảng Ninh năm 2019.


4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm có liên quan trong luận văn
Chuyển dạ là một loạt hiện tượng diễn ra ở người có thai trong giai đoạn cuối
làm cho thai và bánh rau được đưa ra khỏi buồng tử cung qua đường âm đạo [8].
Đỡ đẻ thường ngôi chỏm là thủ thuật tác động vào thì sổ thai để giúp cuộc đẻ

được an toàn theo đường âm đạo, không cần can thiệp (trừ trường hợp cắt tầng sinh
môn) các thao tác đỡ đẻ gồm có (đỡ đầu, đỡ vai, đỡ thân, mông và chi), tiếp xúc da
kề da ngay sau đẻ, tiêm Oxytocin, kẹp dây rốn muộn một thì, kéo dây rốn có kiểm
sốt, xoa đáy tử cung, hỗ trợ bà mẹ cho trẻ bú sớm và bú mẹ hồn tồn [8].
Sốc trong sản khoa là một tình trạng cấp cứu có thể ảnh hưởng đến tính mạng
của sản phụ cần được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Trong sản khoa sốc thường
gặp sốc do mất máu (băng huyết sau đẻ, sảy thai băng huyết…)[8].
Chăm sóc trong sinh là chăm sóc và theo dõi bà mẹ từ khi chuyển dạ đến khi
trẻ ra đời nhằm theo dõi cuộc đẻ để có hướng xử trí phù hợp đảm bảo cho q trình
sinh được an tồn [5].
Chăm sóc sản khoa thiết yếu là những chăm sóc y tế cần thiết đối với bà mẹ
trong và sau đẻ nhằm giảm tử vong mẹ, tử vong sơ sinh do các tai biến sản khoa.
Chăm sóc sản khoa thiết yếu bao gồm [6]:
- Chăm sóc sản khoa cơ bản: Sử dụng kháng sinh theo phân tuyến kỹ thuật;
Sử dụng thuốc chống co giật trong tiền sản giật, sản giật; Sử dụng thuốc gây co cơ
tử cung sau đẻ; Bóc nhau nhân tạo, kiểm sốt tử cung khi có băng huyết; Đỡ đẻ
ngơi chỏm.
- Chăm sóc sản khoa tồn diện gồm các dịch vụ Chăm sóc sản khoa cơ bản,
mổ lấy thai và truyền máu.
Chăm sóc sơ sinh thiết yếu (EENC): EENC bao gồm một gói các can thiệp
dựa trên bằng chứng đơn giản để ngăn ngừa hoặc điều trị các nguyên nhân quan
trọng nhất gây bệnh tật và tử vong ở trẻ sơ sinh. Can thiệp bao gồm [22] [31]: Lau
khô giữ ấm cho trẻ nhằm phòng hạ thân nhiệt và kích thích hơ hấp; Tiếp xúc da kề


5

da ngay và sau khi sinh để ngăn ngừa hạ thân nhiệt, hạ đường huyết và thúc đẩy cho
con bú sớm. Trì hỗn kẹp rốn để giảm nguy cơ thiếu máu ở trẻ sơ sinh và các biến
chứng nặng hơn ở trẻ non tháng, hồi sức cho trẻ không thở có thể ngăn ngừa tử

vong sơ sinh và các thói quen vệ sinh tay đúng thời gian của các nhân viên y tế để
giảm nguy cơ nhiễm trùng huyết.
Chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ: Là các chăm
sóc thiết yếu nhằm đảm bảo an toàn cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ
[7].
1.2. Nội dung chương trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và
ngay sau đẻ
1.2.1 Cơ sở lý thuyết và các bằng chứng về các can thiệp trong và ngay
sau đẻ: [7]
Chảy máu sau đẻ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ, đặc biệt ở các
nước đang phát triển. Mặc dù có thể tiên lượng được trước nguy cơ chảy máu
nhưng có tới 90% trường hợp xảy ra trên sản phụ khơng có yếu tố nguy cơ nào. Để
phịng ngừa chảy máu sau đẻ, Hiệp hội nữ hộ sinh quốc tế (ICM) và Hiệp hội Sản
phụ khoa quốc tế (FIGO) khuyến cáo xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ
bao gồm ba can thiệp chính: tiêm bắp oxytocin ngay sau khi sổ thai, kéo dây rốn có
kiểm sốt và xoa đáy tử cung 15 phút/lần trong hai giờ đầu sau đẻ.
Tiêm bắp oxytocin
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo sử dụng thuốc tăng co tử cung
(thuốc được khuyến cáo là oxytocin) để xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ
cho tất cả các trường hợp đẻ đường âm đạo, oxytocin sử dụng đường tiêm bắp với
liều 10 đơn vị để đề phòng chảy máu sau đẻ.
Kéo dây rốn có kiểm sốt
Trước đây kéo dây rốn có kiểm sốt được khuyến cáo áp dụng cho tất cả các
trường hợp đẻ thường, do các nhân viên y tế đã được đào tạo về kỹ năng xử trí tích
cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ thực hiện. Năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành hướng


6

dẫn “Xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ” trong đó khuyến cáo kéo dây rốn

có kiểm sốt sau khi tiêm bắp 10 đơn vị oxytocin được áp dụng cho tất cả các
trường hợp đẻ đường âm đạo tại cơ sở y tế từ tuyến xã đến trung ương do nhân viên
y tế đỡ đẻ thực hiện. Tuy nhiên bằng chứng nghiên cứu gần đây đã khuyến cáo kéo
dây rốn chỉ nên thực hiện tại các cơ sở cung cấp dịch vụ đỡ đẻ có cán bộ y tế có kỹ
năng và được đào tạo về xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ, cịn các nơi
khơng có nhân viên y tế có kỹ năng và chưa được đào tạo thì khơng được tiến hành
kéo dây rốn có kiểm sốt.
Xoa đáy tử cung
Xoa đáy tử cung là một trong ba can thiệp của xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc
chuyển dạ được khuyến cáo tiến hành liên tục trong hai giờ đầu sau đẻ, với tần suất
15 phút/lần. Hơn nữa xoa đáy tử cung còn có thể giúp phát hiện sớm các trường hợp
đờ tử cung sau đẻ, hạn chế được tai biến băng huyết.
Thử nghiệm lâm sàng trên 200 sản phụ chia thành hai nhóm có và khơng xoa
đáy tử cung sau khi xử trí tích cực giai đoạn ba cuộc chuyển dạ cho thấy giảm lượng
máu mất, giảm số lượng sản phụ cần dùng thêm thuốc tăng co bóp tử cung ở nhóm
có xoa đáy tử cung so với nhóm khơng xoa đáy tử cung.
Kẹp và cắt dây rốn muộn
Nghiên cứu về sinh lý ở trẻ sơ sinh cho thấy, trong phút đầu tiên sau sinh
lượng máu truyền từ bánh rau sang trẻ sơ sinh khoảng 80ml và có thể lên tới 100 ml
trong 3 phút sau sinh. Lượng máu thêm này có thể cung cấp một lượng sắt tương
ứng 40-50mg/kg cân nặng của trẻ, cùng với lượng sắt của cơ thể (khoảng 75mg/kg
cân nặng) có thể giúp trẻ đủ tháng ngăn ngừa được thiếu máu thiết sắt trong năm
đầu. Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng nếu kẹp rốn đúng thời điểm, một lượng
máu sẽ từ bánh rau qua dây rốn đến đứa trẻ làm giúp cho trẻ đủ tháng không bị
thiếu máu do thiếu sắt trong những tháng đầu, và đặc biệt ở trẻ non tháng không bị
thiếu máu cũng như giảm tỷ lệ xuất huyết não do giảm prothrombin.


7


Chỉ kẹp cắt dây rốn sớm (trước 01 phút) đối với các trường hợp trẻ ngạt cần
phải hồi sức tích cực.
Tiếp xúc da kề da
Trẻ được tiếp xúc da kề da với mẹ ngay từ những phút đầu sau khi sinh giúp
tăng sự tương tác sớm giữa mẹ và con. Trẻ sẽ khơng bị hạ thân nhiệt, trẻ sẽ tìm vú
mẹ sớm hơn và bú mẹ khỏe hơn. Người mẹ cũng giảm lo lắng, giảm nỗi đau “vượt
cạn một mình”. Kết quả nghiên cứu Cochrane phân tích gộp 34 thử nghiệm lâm
sàng trên 2177 cặp mẹ con về tiếp xúc da kề da cho thấy các trẻ được tiếp xúc trực
tiếp da kề da với mẹ ngay sau sinh thì ít khóc hơn so với các trẻ được nhân viên y tế
chăm sóc, các bà mẹ cũng cảm thấy dễ dàng cho con bú mẹ hơn trong những tháng
đầu sau đẻ, thời gian cho bú cũng lâu hơn. Các bà mẹ cũng ghi nhận trẻ gần gũi với
mẹ hơn.
Cho trẻ bú sớm
Cho trẻ bú sớm và bú sữa mẹ hoàn toàn trong giờ đầu sau đẻ, giúp trẻ tận dụng
được nguồn sữa non quí giá bảo đảm đủ dinh dưỡng và còn như là một vắc xin đầu
giúp trẻ tránh được các bệnh nhiễm khuẩn. Cho trẻ bú sớm còn giúp tử cung của bà
mẹ co hồi tốt, phòng băng huyết sau sinh do động tác bú vú kích thích tuyến yên
sản xuất oxytocin. Cho trẻ bú sớm cùng với việc tiếp xúc da kề da làm tăng cường
gắn kết mẹ con, là nền tảng của sự kết nối tình mẫu tử trong suốt cuộc đời sau này.
1.2.2 Qui trình chăm sóc thiết yếu trong và ngay sau sinh
Với từ các bằng chứng kiểm chứng trên lâm sàng, WHO đã đưa ra khuyến
cáo áp dụng 6 bước chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ
bao gồm: [7]
1. Lau khô và ủ ấm; cho trẻ tiếp xúc trực tiếp da kề da (trẻ được đặt lên bụng
mẹ ngay sau khi sinh và kéo dài ít nhất 90 phút sau sinh)
2. Tiêm bắp 10 đơn vị oxytocin


8


3. Kẹp dây rốn muộn (sau khi dây rốn đã ngừng đập hoặc 1-3 phút sau khi thai
sổ) và kẹp và cắt dây rốn một thì.
4. Kéo dây rốn có kiểm soát
5. Xoa đáy tử cung cứ 15 phút một lần trong vòng 2 giờ đầu sau đẻ.
6. Hỗ trợ cho trẻ bú sớm và bú mẹ hồn tồn
Chăm sóc sơ sinh thiết yếu (EENC): EENC là tập hợp các can thiệp đơn
giản, hiệu quả về chi phí có lợi cho trẻ sơ sinh [24].
Phương pháp này khá đơn giản mà mang lại những lợi ích lớn khơng ngờ. Nó
giúp ủ ấm trẻ, chuyển máu ở bánh nhau và những vi khuẩn có lợi sang bé từ người
mẹ và các mẹ được khuyến khích ni con hồn tồn bằng sữa mẹ. Sau khi cho em
bé tiếp xúc da trực tiếp với người mẹ, các bác sĩ sẽ kẹp dây rốn sau đó cắt rốn cho
bé bằng những dụng cụ được tiệt trùng. Ngay khi vừa sinh con xong, người mẹ có
thể cho con bú ngay nếu thấy trẻ có những dấu hiệu đòi ăn. Bú là một bản năng bẩm
sinh của trẻ sơ sinh nên bé sẽ có những biểu hiện như chảy dãi, lia lưỡi hay ngọ
nguậy tìm vú mẹ hoặc có thể là gặm nắm tay hay ngón tay. Bú sớm sau khi vừa sinh
ra đời cũng là hành động đặc biệt quan trọng bởi những giọt sữa non này hay còn là
những giọt sữa đầu tiên mang đến cho bé rất nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu có tác
dụng với kháng thể và các tế bào miễn dịch. Sau đó, các y bác sĩ sẽ thực hiện các
quy trình chăm sóc bé sơ sinh cần thiết khác như cung cấp vitamin K cho bé, nhỏ
thuốc nhỏ mắt, tiêm phịng, cân bé và khám tồn thân. Những việc này được thực
hiện ngay sau khi bé được bú sữa lần đầu tiên. Những việc này cần được thực hiện
theo một thứ tự chuẩn để mang lại kết quả tối ưu [28].
1.3. Thực trạng về chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ
1.3.1 Trên thế giới
Các quốc gia thành viên và các bên liên quan của tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương đều hành động vì tầm nhìn về sức khỏe bà
mẹ và trẻ em: Mọi trẻ sơ sinh đều có quyền bắt đầu cuộc sống khỏe mạnh. Tuy vậy
thật đáng buồn, cứ mỗi hai phút trôi qua lại có một trẻ sơ sinh tử vong tại khu vực



9

này. Cịn ở Châu phi hàng năm, có khoảng 1,16 triệu trẻ em chết trong 28 ngày đầu
tiên của cuộc đời. Phần lớn trẻ sơ sinh tử vong có liên quan đến chuyển dạ, sinh sản
và thực hành chăm sóc trẻ sơ sinh kém [23], [32]. Với khoảng, hai phần ba trường
hợp tử vong sơ sinh xảy ra trong ba ngày đầu đời, chủ yếu là do các biến chứng liên
quan đến sinh non, ngạt sinh và nhiễm khuẩn [21].
Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia đã chung tay xây dựng Kế hoạch hành
động cho trẻ sơ sinh khỏe mạnh ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Kế hoạch này
nhằm cải thiện cuộc sinh và chăm sóc trẻ sơ sinh tại các cơ sở y tế, nơi phần lớn các
ca sinh nở xảy ra trong khu vực [31].
Chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh (EENC) là một gói can thiệp thực
hiện từ khi sản phụ có cơn co, trong khi sinh và sau sinh cho đến 7 ngày, gồm 3 hợp
phần chính; Cái ơm đầu đời; Chăm sóc và đề phịng các nguy cơ đối với trẻ thiếu
tháng và Chăm sóc trẻ sơ sinh bệnh.
Hợp phần đầu tiên của EENC là cái ôm đầu tiên giữa mẹ và con (First
Embrace) nhằm mục đích mạng lại một khởi đầu lành mạnh cho mọi em bé sơ sinh
bao gồm lau khô trẻ đúng cách ngay sau khi đẻ, tiếp đến là để tiếp xúc da kề da với
mẹ; kẹp dây rốn muộn (sau 2-3 phút) bằng dụng cụ vô khuẩn và bắt đầu cho con bú
sớm và bú mẹ hồn tồn trong vịng 1 giờ sau đẻ, can thiệp EENC thực hiện giúp trẻ
thích nghi cuộc sống ngoài tử cung một cách an toàn nhất. Kết quả đánh giá các
biện pháp can thiệp thiết yếu này cho thấy đã ngăn chặn được 50.000 trẻ sơ sinh tử
vong hàng năm mà không cần giải pháp công nghệ đắt tiền. Nội dung cốt lõi của
các chăm sóc thiết yếu này là thay đổi thực hành cơ bản có thể thực hiện được ở nọi
trẻ sinh ra tăng cơ hội sống còn cho trẻ [30]. EENC đã được giới thiệu tại hơn 3360
cơ sở y tế với 30 nhân viên cơ sở y tế được huấn luyện như ở Campuchia và
Philippines đã đạt được mục tiêu kế hoạch hành động là 80% cơ sở giới thiệu
EENC. Mức độ bao phủ của các can thiệp cứu sống cho trẻ đủ tháng cũng tăng đáng
kể: 75% trẻ đủ tháng được tiếp xúc da kề da với mẹ sau khi sinh và 85% được bú
mẹ hoàn toàn trong thời kỳ sơ sinh.



10

Trong quá trình chuyển dạ, khi sinh và ngay sau khi đẻ bà mẹ hay gặp nguy
hiểm. Xuất huyết sau sinh là nguyên nhân gây tử vong mẹ hàng đầu ở các nước thu
nhập thấp và nguyên nhân chính của gần một phần tư số ca tử vong mẹ trên toàn
cầu. Các trường hợp tử vong do xuất huyết sau sinh xảy ra trong 24 giờ đầu sau khi
sinh; phần lớn trong số này có thể tránh được thơng qua việc sử dụng thuốc co hồi
tử cung dự phòng trong giai đoạn ba chuyển dạ và bằng cách xử trí kịp thời và phù
hợp [28]. Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng oxytocin đề phòng chảy máu sau đẻ.
Một nghiên cứu tại khoa Sản phụ ở Thổ Nhĩ Kỳ thời gian dùng oxytocin tiêm bắp
không ảnh hưởng đến tỷ lệ xuất huyết sau sinh ở phụ nữ có nguy cơ xuất huyết sau
sinh thấp [20]. Nghiên cứu ở Nhật Bản sử dụng oxytocin dự phòng làm giảm đáng
kể mất máu và tỷ lệ mắc bệnh xuất huyết sau sinh trong q trình sinh nở âm đạo
khơng làm tăng tác dụng phụ [17]. Ngồi ra kéo dây có kiểm sốt trong giai đoạn ba
chuyển dạ phòng ngừa xuất huyết sau sinh, nghiên cứu ở Trung Quốc cho rằng kéo
dây rốn có kiểm soát dường như giảm nguy cơ xuất huyết [16].
Nghiên cứu của tác giả Megbey Bench và cộng sự (2016) “Về sử dụng chăm
sóc thiết yếu và các yếu tố liên quan giữa các bà mẹ trong cơ sở chăm sóc cơng
cộng tại thị trấn Akasum, phía nam Ethiopia, 2016” thực hiện trên 243 phụ nữ, theo
nghiên cứu tỷ lệ chăm sóc rốn an tồn cho bú sữa mẹ sớm, chăm sóc thân nhiệt
63,1%; 32,6% và 44,7%. Chỉ có 113 (26,7%) trong số những người tham gia đã
thực hiện các biện pháp chăm sóc mới sinh. [14]
1.3.2 Ở Việt Nam
Trước khi đưa ra sáng kiến EENC, Bộ Y tế chọn ba Bệnh viện là Trung tâm
đào tạo về EENC: Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện Sản Nhi Đà Nẵng và bệnh
viện Từ Dũ. Với sự hỗ trợ của Văn phịng khu vực WHO ở Tây Thái Bình Dương,
mỗi bệnh viện đã huấn luyện 10 đội 12 nhân viên của mình làm người hỗ trợ.
Hướng dẫn bỏ túi thực hành lâm sàng chăm sóc trẻ sơ sinh cần thiết sớm, do

Văn phịng khu vực Tây Thái Bình Dương của WHO xuất bản, đã được xem xét và
điều chỉnh cho Việt Nam như một phác đồ lâm sàng quốc gia. Bộ Y tế ban hành
Quyết định số 4673 vào tháng 11 năm 2014 yêu cầu tất cả nhân viên tại cơ sở phải


11

tuân theo. Tiếp theo là một công văn của Bộ Y tế yêu cầu Ủy ban Nhân dân tỉnh
đảm bảo rằng các sở y tế hướng dẫn và theo dõi các cơ sở y tế trong việc thực hiện
Quyết định số 4673. Như vậy Qui trình được phê duyệt là phối hợp chăm sóc thiết
yếu cho cả bà mẹ và trẻ sơ sinh có tên là Chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong
và ngay sau khi đẻ [7]. Đến nay tất cả các cơ sở tuyến trung ương, tuyến tỉnh và
85% cơ sở y tế tuyến huyện có đỡ đẻ triển khai thực hiện qui trình này. Các thực
hành được mơ tả trong qui trình hướng dẫn bao gồm 6 nội dung thực hiện cho cả mẹ
và con; Tiêm bắp oxytoxin; Kéo dây rốn có kiểm sốt; Xoa đáy tử cung; Kẹp và cắt
dây rốn muộn; Tiếp xúc da kề da và Cho trẻ bú sớm. Việc thực hiện EENC cũng
được đưa vào tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện (Quyết định số 6858 vào tháng
11 năm 2016), được tiến hành hàng năm tại Việt Nam [10].
Trọng tâm của việc triển khai chương trình này là cải thiện chất lượng chăm
sóc tại các cơ sở y tế nơi các ca sinh nở đều được sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ sơ
sinh thiết yếu sớm. Việc thực hiện EENC bao gồm hướng dẫn nhân viên của cơ sở y
thực hành chăm sóc trẻ sơ sinh. Sau đó, một số phương pháp cải tiến chất lượng
được sử dụng như chính sách địa phương, sắp xếp lại khơng gian làm việc, vai trò
của nhân viên y tế, sắp xếp các nhiệm vụ và sự sẵn có của vật tư và thiết bị.
Theo báo cáo thống kê Vụ sức khỏe bà mẹ và trẻ em năm 2018 “Báo cáo cơng
tác chăm sóc sức khỏe sinh sản 2018- phương hướng 2019” phần lớn các tai biến
sản khoa, TVM, TVSS nguyên nhân do không tuân thủ nghiêm túc các quy định
chuyên môn, theo dõi trong chuyển dạ, theo dõi sau sinh…nhất là trong những giờ
đầu [12].
Việc triển khai EENC ở Việt Nam đã chứng minh được hiệu qủa cho cả bà mẹ

và trẻ sơ sinh, tuy nhiên việc tuân thủ qui trình cịn hạn chế. Nghiên cứu của Ngơ
Thị Minh Hà về “Thực hiện chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay
sau đẻ của hộ sinh tại khoa sản đẻ BV phụ Sản Trung Ương và một số yếu tố ảnh
hưởng” năm 2017 cho kết quả chỉ có là 59% hộ sinh thực hành đủ và đạt yêu cầu tất
cả các bước CSTY trong và ngay sau đẻ. Toàn bộ các ca sinh được thực hành đều
nằm trong 99 trường hợp quan sát trẻ thở được (59,6%) hộ sinh thực hành đủ và đạt


12

các yêu cầu. Trong 99 trường hợp trên, có 9/28 thao tác được thực hành đạt ở 100%
ở tất cả các ca. Các yếu tố ảnh hưởng thực hành không đạt của hộ sinh là do, kiến
thức và thái độ của hộ sinh về qui trình cịn hạn chế; việc giám sát cịn mang tính
truyền thống; thời lượng đào tạo ít, phải phân bổ cho nhiều nội dung tập huấn khác
và số lượng nhân viên phịng đẻ ít số ca sinh nhiều vì thế nhân viên thường bỏ bước
trong qui trình [1].
Nghiên cứu về “Thực hiện CSTY BM tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắc Lắc”
năm 2017 cho thấy chỉ khoảng 8% ca sinh cán bộ y tế thực hiện đúng 35-40 bước
quy trình [2]. Người đỡ đẻ chưa thay đổi thực sự thói quen trong thực hành chăm
sóc thiết yếu BM và TSS [3]. Một nghiên cứu khác ở khoa Sản bệnh viện tỉnh Ninh
Thuận năm 2018 cho số liệu khả quan hơn với tỷ lệ nhân viên thực hiện và đủ bước
đạt 75,5% [3].
Tại Hà Nội, một nghiên cứu khác trong năm 2018 cũng cho kết quả là nhân
viên y tế tuân thủ tương đối tốt qui trình chăm sóc thiết yếu BM-TSS trong và ngay
sau đẻ với số điểm đạt 94± 5,5 điểm trên tổng số 100 điểm. Tuy nhiên nghiên cứu
chỉ ra một số thủ thuật thực hành ít được thực hiện như xoa đáy tử cung và tư vấn
nuôi con bằng sữa mẹ [4].
Việc thực hiện EENC ở Việt Nam được đánh giá là tích cực và hiệu quả. Việc
thực hiện không chỉ dừng ở mức độ triển khai mà còn tăng cường hoạt động tập
huấn, nghiên cứu đánh giá cải thiện chất lượng bệnh viện và các phác đồ cập nhật.

Điển hình có BV Sản Nhi Đà Nẵng đã triển khai và đào tạo cho nhiều tỉnh trong cả
nước. Bệnh viện cũng là nơi tập hợp với WHO thực hiện nghiên cứu đánh giá về
hiệu quả của EENC. Nghiên cứu so sánh một chỉ số trước và sau can thiệp với cỡ
mẫu 13.201 trẻ sơ sinh tại thời điểm trước can thiệp và 14.180 trẻ tại thời điểm sau
can thiệp. Kết quả sau 1 năm can thiệp cho thấy thời gian trẻ tiếp xúc trên ngực mẹ
và tỷ lệ cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu tăng rõ rệt. Tỷ lệ trẻ phải vào khoa chăm
sóc tích cực cũng giảm cơ ý nghĩa. Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn ở những trẻ điều trị trong
khoa Chăm sóc tích cực tăng từ 49 đến 88%; tỷ lệ trẻ được áp dụng phương pháp


13

chăm sóc Kangaroo cũng tăng từ 52% tới 67 %. Phân tích thống kê về hiệu quả cho
thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001) [19].
Trước khi EENC được giới thiệu, tiếp xúc da kề da không được thực
hiện. Những đứa trẻ được sinh ra âm đạo thường được tách ra khỏi mẹ của chúng
trong ít nhất 20 phút và những đứa trẻ được sinh mổ trong sáu giờ trở lên. Sau khi
thực hiện EENC, WHO thấy rằng 100% trẻ sơ sinh đã tiếp xúc da kề da ngay lập
tức bất kể đường sinh nở. Ni con hồn toàn bằng sữa mẹ là khi em bé chỉ nhận
được sữa mẹ, nghĩa là khơng có sữa, nước hay bất cứ thứ gì khác. WHO và
UNICEF khuyến nghị đây là cách lý tưởng để nuôi TSS trong 6 tháng đầu. [29]
1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện chăm sóc thiết yếu
bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ
* Kiến thức, kỹ năng của nhân viên y tế.
Kiến thức, kỹ năng thực hành EENC của hộ sinh là yếu tố quyết định thành cơng
trong q trình thực hiện EENC tại bệnh viện, vì vậy hộ sinh cần có kiến thức, kỹ
năng thực hành chuẩn theo qui trình. Tuy nhiên, kiến thức của hộ sinh về thực hiện
quy trình cịn hạn chế, ít được tham dự tập huấn chuyên môn. Trong các lớp tập
huấn thì nội dung đào tạo chủ yếu là lý thuyết, chất lượng đào tạo thực hành rất
thiếu và yếu dẫn đến kỹ năng thực hành của cán bộ y tế bị hạn chế [12].

* Các văn bản hướng dẫn chính sách [7]
Dựa trên Quyết định số 4673/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 10/ 11/2014, Bệnh viện
đã ban hành quy trình “Chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ”
cho riêng bệnh viện. (Quyết định số 688/QĐ-BVSN ngày 08/08/2015).
* Cơ sở vật chất, trang thiết bị. [7]
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc thiết yếu chính trong EENC là khơng nhiều
nhưng cần thiết cứu sống bà mẹ và trẻ sơ sinh, nên bố trí đủ số phòng sinh để lưu
theo dõi bà mẹ, trẻ sơ sinh ít nhất 2 giờ sau sinh, thực hiện da kề da ít nhất 90 phút.
Có góc hồi sức sơ sinh tại phòng sinh với đủ dụng cụ hồi sức sơ sinh như bóng sơ
sinh, mặt nạ sơ sinh đúng cỡ số 0, số 1, có máy hút đờm nhớt, có Oxy. Tất cả trang


14

thiết bị hoạt động tốt. Góc hồi sức sơ sinh trong phóng đẻ cách giường đẻ dưới 2
mét. Dụng cụ đỡ đẻ (có kẹp nhựa) được tiệt khuẩn, khăn vải/khăn lơng đón bé sạch.
Thuốc Oxytoxin được sử dụng trong giai đọan 3 cuộc chuyển dạ có đủ và sẵn
sàng, được sử dụng 2 ống= 10 đơn vị sau khi thai sổ và kiểm tra khơng cịn thai thứ
hai. Các thuốc thiết yếu trong phòng sinh như Mange Sulfat…cũng cần được sẵn
sàng.
* Nhân viên viên y tế
Để thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau
đẻ tốt nhất nên có 02 người (Nếu khơng đủ nhân lực có thể một người thực hiện).
[7]
Dịch vụ chăm sóc do hộ sinh cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống
dịch vụ y tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhân lực hộ sinh thiếu cả số lượng, chất lượng
và cơ cấu chưa phù hợp. Bên cạnh đó, mơi trường cơng việc có nhiều áp lực về tâm
lý và cường độ công việc; hệ thống chính sánh tiêu chuẩn của hộ sinh cịn thiếu và
chưa đáp ứng với yêu cầu của hội nhập quốc tế; chưa có phân cấp cụ thể phạm vi
hành nghề của hộ sinh theo trình độ đào tạo, theo sự phân định vai trị của hộ sinh

trong chuỗi chăm sóc y tế liên tục cho người bệnh là những yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp đến cơng tác chăm sóc người bệnh của hộ sinh. [12]
Việc cải thiện điều kiện, môi trường làm việc, mức thu nhập, đảm bảo chế độ
chính sách đãi ngộ, tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ, phát triển cá nhân, nêu
cao vai trị trách nhiệm trong công việc và phát triển bệnh viện là cần thiết để làm
tăng mức độ hài lòng của đội ngũ điều dưỡng, hộ sinh trong cơng việc, từ đó nâng
cao chất lượng chăm sóc người bệnh tại các bệnh viện.
1.5. Thông tin về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh là bệnh viện chuyên khoa, tuyến chuyên môn
cao nhất về khám, chữa bệnh trong lĩnh vực sản phụ khoa và nhi khoa của tỉnh
Quảng Ninh và tiến tới là của khu vực Đông Bắc của Tổ quốc. Bệnh viện được
thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2015. Với sự đoàn kết, năng động, sáng tạo,


15

tâm huyết, hết lịng vì sức khỏe bà mẹ trẻ em của cả tập thể cán bộ và y, bác sỹ,
những năm qua Bệnh viện đã từng bước trở thành một địa chỉ tin cậy, chuyên khoa
sâu, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân tỉnh Quảng
Ninh và cả các tỉnh lân cận. Trong suốt những năm qua Bệnh viện khơng ngừng cố
gắng và hồn thiện về trình độ chun mơn, cũng như cơ sở vật chất, nhằm mục
đích hướng tới sự hài lịng của người bệnh. Đặc biệt bệnh viện triển khai được
nhiều kỹ thuật mới như lĩnh vực sản khoa: IVF, giải trình tự gen… lĩnh vực sơ sinh:
Kỹ thuật làm mát não trẻ, phẫu thuật tim bẩm sinh ngồi ra góp phần giảm tỷ lệ
bệnh tật và tử vong đối với trẻ, tác động tích cực lên sức khỏe của trẻ lúc trưởng
thành tăng tỷ lệ tiếp cận sữa mẹ vào năm 2020 bệnh viện thành lập ngân hàng sữa
mẹ.
Cơ cấu tổ chức: Giường bệnh được giao 350, gồm 22 khoa/phòng trong đó có
5 phịng chức năng và 17 khoa lâm sàng, cận lâm sàng.
Về nhân lực: Bệnh viện có 426 tổng viên chức, người lao động trong đó: 110

bác sỹ; 153 điều dưỡng; 35 kỹ thuật viên; 42 hộ sinh; 69 đối tượng khác. Khoa Sản
Đẻ của Bệnh viện có 39 nhân viên trong đó 22 hộ sinh có 2 phịng sinh với 6 giường
sinh, đáp ứng 6 ca sinh cùng lúc. Theo báo cáo thống kê tổng số lượt khám thai năm
2017: 28.543, số ca sinh thường 3.028; năm 2018: 24.702 lượt khám thai, số ca sinh
thường 3.043. Trung bình mỗi năm có khoảng 7000 trẻ được sinh ra. Trung bình
một ngày có từ 15-20 ca sinh thường.
Thực hiện theo Quyết định 4673/QĐ-BYT ngày 10 tháng 11 năm 2014 của
Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn chun mơn Chăm sóc thiết yếu BMTSS trong và ngay sau đẻ. Bệnh viện xây dựng và ban hành thực hiện quy trình này.
Tuy nhiên để tìm hiểu việc chăm sóc sản khoa, thực hành chăm sóc sơ sinh tồn
diện, không cách ly mẹ một trong 90 phút đầu sau sinh, tư vấn cho bà mẹ cho trẻ bú
dấu hiệu trẻ địi bú nươi con bằng sữa mẹ hồn tồn trong 6 tháng đầu không sử
dụng sữa công thức cho trẻ sơ sinh… là việc rất cần thiết nên nghiên cứu này với kỳ
vọng giúp cho bệnh viện và các CSYT khác trong tỉnh triển khai thực hiện tuân thủ


16

đúng qui trình chăm sóc thiết yếu BM-TSS trong và ngay sau đẻ ngày càng đạt hiệu
quả hơn.
1.6. Khung lý thuyết
Khung lý thuyết dựa trên mơ hình thúc đẩy dịch vụ chăm sóc sức khỏe thơng
qua thực hành dựa trên bằng chứng (PARIHS) [25]
Bằng chứng: Dựa trên Quyết định số 4673/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 10/
11/2014 về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn chun mơn “Chăm sóc thiết yếu bà
mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ”. [7]
Môi trường làm việc gồm lãnh đạo đánh giá và giám sát nguồn lực.


×