Tải bản đầy đủ (.docx) (34 trang)

Thực trạng công tác quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước của Cục Tài chính doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (178.18 KB, 34 trang )

Thực trạng công tác quản lý vốn nhà nớc tại
các doanh nghiệp nhà nớc của Cục Tài
chính doanh nghiệp.
I. Giới thiệu Cục Tài chính doanh nghiệp
1. Lịch sử hình thành
Quản lý tài chính doanh nghiệp là một mảng quan trọng trong công tác của
Bộ Tài chính. Trớc yêu cầu thực tiến của việc quản lý tài chính các doanh nghiệp
nhà nớc, đặc biệt là vốn và tài sản của Nhà nớc tại doanh nghiệp, lịch sử hình
thành Cục Tài chính doanh nghiệp đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau:
-Trớc tháng 10/1995: là các vụ tài vụ thuộc Bộ Tài chính kết hợp với các vụ
tài vụ thuộc các Bộ chuyên ngành thực hiện chức năng quản lý tài chính doanh
nghiệp.
-Từ tháng 10/1995 đến 10/1999 là Tổng cục quản lý vốn và tài sản Nhà nớc
tại doanh nghiệp và trực thuộc Bộ Tài chính, đợc thành lập trên cơ sở các vụ tài vụ
của Bộ Tài chính có nhiệm vụ quản lý thống nhất vốn và tài sản Nhà nớc tại doanh
nghiệp.
-Từ tháng 10/1999 đến nay: Tổng cục quản lý vốn và tài sản Nhà nớc tại
doanh nghiệp đợc tổ chức lại thành Cục Tài chính doanh nghiệp theo Nghị định
84/1999/NĐ- CP. Cục Tài chính doanh nghiệp là đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính.
Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng, thành lập Chi cục Tài chính doanh
nghiệp hoặc Phòng Tài chính doanh nghiệp trực thuộc Sở Tài chính- Vật giá. Có
10 tỉnh đợc thành lập Chi cục trực thuộc Sở Tài chính- Vật giá là:
+ Thành phố Hà Nội
+ Thành phố Hồ Chí Minh
+ Thành phố Hải Phòng
+ Thành phố Đà Nẵng
+ Tỉnh Quảng Ninh
+ Tỉnh Đồng Nai
+ Tỉnh Bình Dơng
+ Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
+ Tỉnh Hải Dơng


+ Tỉnh Thanh Hoá.
2. Chức năng, nhiệm vụ của Cục Tài chính doanh nghiệp:
-Thống nhất quản lý nhà nớc về tài chính doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế trong cả nớc:
Chủ trì hoặc tham gia xây dựng các chính sách, chế độ quản lý tài chính
doanh nghiệp; chế độ quản lý, bảo toàn và phát triển vốn nhà nớc tại
doanh nghiệp; chế độ hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp và các chế
độ khác liên quan đến quản lý tài chính doanh nghiệp theo quy định của
Bộ trởng Bộ Tài chính.
Hớng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ quản lý tài chính;
chế độ quản lý vốn nhà nớc, chế độ kế toán, kiểm toán doanh nghiệp
thống nhất trong cả nớc.
Tổ chức nghiên cứu chiến lợc và đề xuất các vấn đề có liên quan đến tài
chính doanh nghiệp; dự báo khả năng động viên tài chính từ doanh
nghiệp.
Tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trong cả
nớc.
Tổ chức thông tin tài chính doanh nghiệp, hớng dẫn, bồi dỡng nghiệp vụ
quản lý tài chính doanh nghiệp.
-Quản lý vốn và tài sản nhà nớc tại doanh nghiệp do Thủ tớng Chính phủ,
các Bộ trởng, Thủ trởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thành lập
hoặc góp vốn:
Hớng dẫn doanh nghiệp kiểm kê, đánh giá tài sản, xác định số vốn nhà
nớc; tổ chức giao vốn cho các doanh nghiệp theo ủy quyền của Bộ trởng
Bộ Tài chính.
Tổ chức đánh giá, xác định giá trị doanh nghiệp, giá trị phần vốn nhà n-
ớc tại doanh nghiệp nhà nớc trong trờng hợp giải thể, phá sản hoặc
chuyển đổi quyền sở hữu.
Giám sát việc xử lý vốn, tài sản nhà nớc trong các trờng hợp chia tách,
sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản và chuyển đổi sở hữu doanh

nghiệp nhà nớc; giám sát việc phân phối lợi nhuận sau thuế, việc sử
dụng các quỹ tại doanh nghiệp.
Thẩm định nhu cầu hỗ trợ tài chính hàng năm và cấp phát các khoản
chi hỗ trợ cho doanh nghiệp. Kiến nghị các biện pháp xử lý vốn và tài
sản vợt quá thẩm quyền của doanh nghiệp.
Tham gia ý kiến về chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
doanh của các doanh nghiệp trọng điểm, các Tổng công ty nhà nớc;
tham gia xây dựng và thông báo chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nớc hàng
năm của các doanh nghiệp theo ủy quyền của Bộ trởng Bộ Tài chính.
Tham gia phơng án giá sản phẩm và dịch vụ do Nhà nớc quy định giá,
tham gia việc xây dựng đơn giá, quỹ tiền lơng và xếp hạng doanh
nghiệp theo quy định của Nhà nớc.
Kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ quản lý tài chính, kế toán,
kiểm toán của doanh nghiệp.
Kiểm tra báo cáo tài chính, xác định khả năng hoàn trả nợ, mức độ bảo
toàn và phát triển vốn nhà nớc hàng năm của doanh nghiệp.
-Tổng hợp, phân tích tình hình quản lý, sử dụng vốn, việc bảo toàn và phát
triển vốn thuộc sở hữu nhà nớc tại các loại hình doanh nghiệp trong cả nớc và theo
ngành kinh tế.
-Quản lý các quỹ tài chính hỗ trợ doanh nghiệp do Bộ trởng Bộ Tài chính
ủy quyền.
-Hớng dẫn các Sở Tài chính- Vật giá thống nhất quản lý nhà nớc về tài
chính đối với các doanh nghiệp trên địa bàn; quản lý vốn nhà nớc tại các doanh
nghiệp do tỉnh, thành phố thành lập hoặc góp vốn, tổng hợp, phân tích tình hình
tài chính doanh nghiệp trên địa bàn.
-Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trởng Bộ Tài chính giao.
3. Tổ chức bộ máy của Cục Tài chính doanh nghiệp:
Cục Tài chính doanh nghiệp có Cục trởng phụ trách và một số Phó Cục tr-
ởng do Bộ Tài chính bổ nhiệm, miễn nhiệm.
Bộ máy của Cục Tài chính doanh nghiệp gồm có:

-Ban Tài chính doanh nghiệp: xây dựng, quốc phòng, an ninh, hải quan, dự
trữ quốc gia, các tổ chức chính trị, chính trị- xã hội gọi tắt là Ban Tài chính doanh
nghiệp xây dựng.
-Ban Tài chính doanh nghiệp giao thông- bu điện
-Ban Tài chính doanh nghiệp công nghiệp
-Ban Tài chính doanh nghiệp thơng mại- văn hoá- giáo dục
-Ban Tài chính doanh nghiệp nông nghiệp- thủy sản
-Ban Tài chính doanh nghiệp ngoài quốc doanh
-Ban Cổ phần hoá
-Ban Chính sách- Tổng hợp
-Văn phòng Cục.
II. Thực trạng các doanh nghiệp nhà nớc hiện nay
Trong hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nớc ta đã thực hiện nhiều chủ trơng,
biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc.
Doanh nghiệp nhà nớc đã vợt qua nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng
phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và
phát triển đất nớc; đa nớc ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội, chuyển sang
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Doanh nghiệp nhà nớc đã chi phối đợc các ngành, lĩnh vực then chốt và
sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế; góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nớc thực
hiện đợc vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế-xã hội, tăng thế và lực
của đất nớc. Doanh nghiệp nhà nớc chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm
trong nớc, trong tổng thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu và công trình hợp tác
đầu t với nớc ngoài; là lực lợng quan trọng trong thực hiện các chính sách xã
hội, khắc phục hậu quả thiên tai và bảo đảm nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích
thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh. Doanh nghiệp nhà nớc ngày càng
thích ứng với cơ chế thị trờng; năng lực sản xuất tiếp tục tăng; cơ cấu ngày
càng hợp lý hơn; trình độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ; hiệu quả và
sức cạnh tranh từng bớc đợc nâng lên; đời sống của ngời lao động từng bớc đợc
cải thiện.

Tuy nhiên, bên cạnh đó doanh nghiệp nhà nớc vẫn còn nhiều khó khăn,
nhiều doanh nghiệp hoạt động cha hiệu quả, cha thực sự thể hiện đợc vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế.
Tốc độ tăng trởng GDP của nền kinh tế trong những năm 1991- 1995 đạt
bình quân 8,2%/năm, năm 1996- 1997 đạt xấp xỉ 9%/năm. Năm 1998 mặc dù
có nhiều khó khăn nhng GDP vẫn tăng 5,8%. Năm 1999 tốc độ tăng chỉ còn
5,5%. Năm 2000 tốc độ tăng trởng đạt 7,5%, năm 2001 đạt 6,8%. Trong đó,
Các doanh nghiệp nhà nớc đã đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển
của nền kinh tế: tạo ra hơn 30% GDP, hơn 60% nguồn thu ngân sách nhà nớc,
giải quyết việc làm và thu nhập cho 1,7 triệu lao động, đảm bảo cung cấp các
sản phẩm hàng hoá, dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế nh dầu khí, điện, than, xi
măng, hàng không, bu chính viễn thông... góp phần cân đối cung cầu hàng hoá.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, các doanh nghiệp nhà nớc
vẫn đạt tỷ lệ tăng trởng trung bình 9%/năm.
Tính đến 1/1/2000, số lợng doanh nghiệp nhà nớc hiện có là 5.500, trong
đó có 732 doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp trung ơng là 1802, doanh nghiệp
địa phơng là 3.698. Số doanh nghiệp đã cổ phần hoá từ trớc đến nay là hơn 900
doanh nghiệp, riêng trong năm 2001 là 165 doanh nghiệp; trong đó: cổ phần hoá
131 doanh nghiệp; giao, bán, khoán, thuê 34 doanh nghiệp (thuộc khối địa phơng:
33 và Tổng công ty: 1). Số doanh nghiệp hoàn thành chuyển đổi sở hữu trong năm
2001 đạt khoảng 230 doanh nghiệp, gần bằng năm 2000.
Số lợng doanh nghiệp còn lại nh trên là quá nhiều và dàn trải ở nhiều
ngành lĩnh vực. Số doanh nghiệp nhà nớc thuộc các ngành dịch vụ tài chính nh
kiểm toán, kế toán, bảo hiểm còn quá ít, cha đáp ứng đợc nhu cầu đòi hỏi của
nền kinh tế và của các doanh nghiệp.
Mô hình hoạt động của các doanh nghiệp cũng đợc tổ chức lại trên cơ sở
các Tổng Công ty, Công ty, xí nghiệp liên hợp, liên hiệp các xí nghiệp, đợc tổ
chức lại thành hai loại là Tổng Công ty (gồm các doanh nghiệp thành viên hạch
toán độc lập và doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc) và các doanh nghiệp độc
lập. Đến nay, cả nớc có 94 Tổng Công ty, trong đó có 17 Tổng Công ty 91 và 74

Tổng Công ty 90. Quy mô doanh nghiệp có vốn nhà nớc trên 10 tỷ đồng chiếm
cha đến 20% tổng số các Tổng Công ty, ví dụ lĩnh vực xây dựng cả nớc có 24
Tổng Công ty, chiếm 25% tổng số.
Lợi nhuận của doanh nghiệp những năm qua tăng cha tơng xứng với sự
quan tâm u đãi của Nhà nớc về vốn, thị trờng và những chính sách bảo hộ khác.
T
T
Chỉ tiêu Đơn
vị
1998 1999 2000 2001
1 Vốn nhà nớc tại Tỷ đ 108.9 112.00 130.2 132.8
2
3
4
doanh nghiệp
Doanh thu
Lãi (đã trừ lỗ)
Tỷ lệ lãi/vốn nhà
nớc
Tỷ đ
Tỷ đ
%
70
304.4
22
11.568
10,6
0
316.2
78

12.00
0
11,6
53
328.3
20
14.58
8
11,2
58
361.1
52
15.31
7
11,5
Số liệu trên đây là theo báo cáo của doanh nghiệp nên có thể cha phản
ánh đúng thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp (cha đợc kiểm tra xác
định lại của kiểm toán hoặc của các cơ quan chức năng). Nếu tính đúng cơ chế
tài chính hiện hành (nh tính đủ chênh lệch tỷ giá, dự phòng các khoản nợ khó
đòi, khấu hao tài sản cố định...) thì số doanh nghiệp lỗ và số lỗ có thể tăng hơn
nhiều.
Vốn nhà nớc tại doanh nghiệp tăng qua các năm nhng không nhiều. Năm
2000, số vốn nhà nớc tại doanh nghiệp là 130.253 tỷ đồng, so với năm 1999
tăng 2,7%. Năm 2001 số vốn là 132.858, tăng 2% so với năm 2000. Vốn dùng
cho đầu t tài sản theo cơ chế hiện hành chủ yếu là doanh nghiệp phải tự huy
động bằng nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, Nhà nớc và các tổ chức khác. Từ
năm 1995, Nhà nớc để lại cho doanh nghiệp toàn bộ số khấu hao cơ bản tài sản
cố định thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nớc để doanh nghiệp đầu t. Tỷ lệ trích
quỹ đầu t đầu t phát triển từ lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp đợc nâng từ
35% lên 50% cũng tạo thêm nguồn đầu t cho doanh nghiệp.

Với doanh thu hàng năm khoảng trên 300.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp
nhà nớc cần có khoảng 75.000 tỷ đồng vốn lu động. Hiện nay số vốn lu động
chỉ có khoảng 20.000 tỷ đồng, mới đáp ứng đợc 27% số vốn lu động cần thiết
cho doanh nghiệp hoạt động.
Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp, trong 3 năm 1998- 2000, ngân sách
nhà nớc đã dành gần 8.000 tỷ đồng để đầu t cho doanh nghiệp nhà nớc, cho vay
tín dụng u đãi 8.685 tỷ để các doanh nghiệp đầu t đổi mới công nghệ, mở rộng
kinh doanh. Ngoài ra Nhà nớc còn dành một phần ngân sách để bù chênh lệch
lãi suất cho ngân hàng để chuyển tín dụng ngắn hạn thành tín dụng dài hạn. ở
một số ngành đặc biệt nh điện lực, dầu khí, Nhà nớc còn thực hiện bảo lãnh cho
doanh nghiệp vay vốn nớc ngoài để đầu t. Nhà nớc cũng cho phép một số địa
phơng đợc thực hiện các khoản phụ thu để ngoài giá Nhà nớc quy định để có
thêm nguồn đầu t cho doanh nghiệp nh phụ thu tiền điện, tiền lắp đặt điện thoại
ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Tới đây, theo Nghị quyết Trung ơng 3 khoá
IX, Chính phủ sẽ thực hiện không thu sử dụng vốn ngân sách nhà nớc nhằm tạo
điều kiện cho doanh nghiệp nhà nớc tích tụ vốn đầu t để đổi mới công nghề.
Giải pháp này sẽ làm tăng năng lực tài chính của doanh nghiệp nhà nớc lên
khoảng 1.500 tỷ đồng/năm.
Năm 2000, giá trị tài sản của doanh nghiệp nhà nớc (không bao gồm các
ngân hàng) là 527.267 tỷ đồng, trong khi đó vốn nhà nớc tại doanh nghiệp chỉ
là 130.253 tỷ. Do vậy, các doanh nghiệp nhà nớc phải vay, chiếm dụng vốn lẫn
nhau hoặc nợ Ngân sách nhà nớc.
Bảng dới đây cho biết tình hình nợ của các doanh nghiệp nhà nớc cho
đến 1/1/2001:
T
T
Tiêu chí Đơn
vị
1998 1999 2000
1

2
3
4
Tổng số nợ phải trả
Tỷ lệ so với vốn nhà
nớc
Tổng số phải thu
Trong đó: khó đòi
Tỷ đ
%
Tỷ đ
Tỷ đ
123.193
113
67.993
1.658
183.664
164
105.602
2.629
353.410
367
187.091
1.926
Số nợ trên đây không bao gồm số nợ của các ngân hàng thơng mại quốc
doanh.
Hiện nay, tổng nợ phải thu và nợ phải trả của khối doanh nghiệp nhà nớc
lên đến gần 300.000 tỷ đồng. Số nợ của doanh nghiệp nhà nớc thờng cao hơn số
vốn nhà nớc từ 13- 300%. Nhiều doanh nghiệp có số nợ lớn nh Tổng Công ty
điện lực (14.000 tỷ), Tổng Công ty Bu chính viễn thông (hơn 11.000 tỷ), Tổng

Công ty Rợu bia (hơn 4.500 tỷ). Nhiều doanh nghiệp có số nợ lớn gấp nhiều lần
số vốn nhà nớc tại doanh nghiệp nh Tổng Công ty Mía đờng 1 (gấp 6 lần), Tổng
Công ty Gốm sứ thủy tinh (gấp 3,5 lần), Tổng Công ty Dệt may (gần 2,5 lần),
Tổng Công ty Than (gấp 2 lần). Một số doanh nghiệp đầu t đúng hớng, công
nghệ thiết bị phù hợp nên khả năng thanh toán nợ tốt (Tổng Công ty Bu chính
viễn thông, Tổng Công ty cao su, Tổng Công ty xăng dầu...). Ngợc lại, một số
doanh nghiệp khác lại sử dụng vốn không phù hợp dẫn tới khả năng trả nợ kém
nh Tổng Công ty dâu tằm tơ. 74% nhà máy đờng địa phơng không có khả năng
trả nợ đúng hạn, 50% số nhà máy xi măng lò đứng địa phơng cũng mới trả đợc
10- 20% số nợ phải trả. Tổng Công ty Than có số nợ gấp 2 lần tổng số vốn Nhà
nớc song khả năng trả nợ rất thấp, đến 30/6/2000, số nợ vay đầu t phải trả là
885 tỷ nhng nguồn để trả chỉ có 702 tỷ, thiếu 183 tỷ đồng. Có khoảng 40 dự án
vay vốn ODA với tổng số vốn vay 350 triệu USD gặp khó khăn trong việc trả
nợ.
Chính phủ đã có một số giải pháp xử lý nợ tồn đọng của doanh nghiệp
nhà nớc. Đối với các khoản nợ liên quan đến ngân sách, Chính phủ hỗ trợ tiền
thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nớc tính đến 31/12/1999 cho các dự
án đầu t đợc phê duyệt nhng thiếu vốn, xoá số nợ thuế và các khoản phải nộp
ngân sách nhà nớc cho các doanh nghiệp kinh doanh bị lỗ. Đối với các khoản
nợ ngân hàng quốc doanh, doanh nghiệp đợc khoanh nợ, cho phép xoá nợ lãi
vay, chuyển nợ vay thành vốn ngân sách nhà nớc cấp bổ sung cho doanh nghiệp
hoặc xoá nợ lãi vay và khoanh nợ gốc, tuỳ từng trờng hợp cụ thể.
Tóm lại, trong những năm gần đay, các doanh nghiệp nhà nớc đã đạt đợc
một số kết quả nhất định, nhng cha thể hiện đợc đầy đủ vai trò chủ đạo của
mình trong nền kinh tế. Có nhiều nguyên nhân cho hiện tợng này, trong đó có
nguyên nhân từ phía công tác quản lý vốn nhà nớc tại các doanh nghiệp hiện
nay.
III. Tình hình công tác quản lý vốn nhà nớc tại các doanh nghiệp nhà
nớc của Cục Tài chính doanh nghiệp.
Nhà nớc quản lý vốn của mình tại các doanh nghiệp nhà nớc thông qua Cục

Tài chính doanh nghiệp trực thuộc Bộ Tài chính. Công tác quản lý vốn nhà nớc đ-
ợc thể hiện trên hai mặt: thực hiện vai trò chủ sở hữu và thực hiện chức năng quản
lý nhà nớc. Hai chức năng này đợc Cục Tài chính doanh nghiệp thực hiện thông
qua việc ban hành các cơ chế chính sách quản lý vốn nhà nớc và hớng dẫn, kiểm
tra giám sát việc tuân thủ các chính sách đó của doanh nghiệp.
1. Vai trò chủ sở hữu.
Từ năm 1979, một thời kỳ thử nghiệm liên tục các giải pháp đổi mới cơ chế
quản lý vốn nhà nớc tại các doanh nghiệp nhà nớc: Mở đầu là Nghị định 25/CP
ngày 21/1/1981 với ba phần kế hoạch. Tiếp theo là các Quyết định 146/HĐBT
ngày 25/8/1982, Quyết định 156/HĐBT ngày 30/11/1984 và Quyết định 16/HĐBT
ngày 26/6/1986 đã ra đời. Các Quyết định này ngày càng mở rộng quyền tự chủ
cho các doanh nghiệp nhà nớc trong sản xuất kinh doanh lẫn trong lĩnh vực tài
chính.
Sau đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đờng lối đổi
mới của Đảng, nền kinh tế nớc ta chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp
sang cơ chế kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, thừa nhận sự tồn tại của
nhiều thành phần kinh tế. Chính phủ đã triển khai một số chính sách và biện pháp
quan trọng nhằm củng cố, tăng cờng vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nớc
trong nền kinh tế.
Nghị định 59/CP của Chính phủ ban hành ngày 3/10/1996 đã đánh dấu một
bớc ngoặt trong t duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn đổi mới quản lý tài chính doanh
nghiệp nhà nớc nói chung và quản lý vốn nhà nớc tại các doanh nghiệp nhà nớc
nói riêng. Nghị định 59/CP là sự cụ thể hoá những quy định trong Luật doanh
nghiệp nhà nớc đã đợc Quốc hội thông qua ngày 20/4/1995.
Những nội dung của Nghị định đã đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý tài
chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, sau gần 3 năm thực hiện, một số điều quy định
trong Nghị định 59/CP không còn phù hợp, cần đợc sửa đổi, nếu không sẽ trở
thành vật cản trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế.
Ngày 20/4/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 27/1999/NĐ-CP
nhằm sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với

doanh nghiệp nhà nớc ban hành kèm theo Nghị định số 59/CP ngày 3/10/1996.
Những sửa đổi, bổ sung ghi trong văn bản của Bộ Tài chính hớng dẫn thực hiện về
cơ bản đã đáp ứng đợc yêu cầu thực tế, phù hợp với những yêu cầu của cơ chế thị
trờng.
1.1. Đầu t vốn và giao vốn cho doanh nghiệp nhà nớc.
a) Đầu t vốn
Nhà nớc đầu t vốn cho các doanh nghiệp Nhà nớc mới thành lập ở những
ngành, những lĩnh vực quan trọng. Các cơ quan có thẩm quyền khi quyết định
thành lập doanh nghiệp mới phải bảo đảm đủ vốn thực có tại thời điểm thành lập
không thấp hơn mức vốn pháp định của Nhà nớc cho mỗi ngành nghề.
Trong quá trình kinh doanh, căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh doanh,
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà nớc giao cho doanh nghiệp và khả
năng ngân sách Nhà nớc, Nhà nớc xem xét đầu t bổ sung cho doanh nghiệp
trong những trờng hợp cần thiết.
b) Giao vốn
Doanh nghiệp Nhà nớc đợc Nhà nớc giao vốn thuộc sở hữu Nhà nớc hiện
có tại doanh nghiệp sau khi đã đợc kiểm tra, thẩm định theo quy định hiện hành
của Nhà nớc.
Số vốn giao cho doanh nghiệp đợc xác định nh sau:
- Đối với doanh nghiệp thành lập mới là số vốn Nhà nớc ghi trong quyết
toán vốn đầu t xây dựng cơ bản bàn giao sang sản xuất kinh doanh, vốn điều lệ đ-
ợc Nhà nớc bổ sung và vốn khác thuộc sở hữu Nhà nớc (nếu có).
- Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động và thành lập lại (sáp nhập, chia
tách) là số vốn thuộc sở hữu Nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp hoặc các doanh
nghiệp thành viên, sau khi đã đợc kiểm tra, thẩm định theo quy định hiện hành
của Nhà nớc.
Trớc khi giao vốn, doanh nghiệp phải xác định rõ những tồn tại về mặt tài
chính (tài sản thừa, thiếu, mất mát, h hỏng, kém mất phẩm chất, tài sản ứ đọng
chậm luân chuyển, không cần dùng, chờ thanh lý, công nợ khó đòi, các khoản lỗ
luỹ kế, các khoản chi phí cha có nguồn bù đắp và các tổn thất tài sản khác),

nguyên nhân và trách nhiệm của những ngời liên quan đến các tồn tại để xử lý
theo chế độ hiện hành. Những tồn tại tài chính do thực hiện chủ trơng của Nhà n-
ớc thì doanh nghiệp phải kiến nghị với cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền để xử lý.
Những tồn tại cha thể xử lý đợc thì ghi rõ trong hồ sơ giao vốn. Doanh nghiệp
thành lập lại và doanh nghiệp tiếp nhận doanh nghiệp khác sáp nhập vào đợc kế
thừa các quyền lợi và thực hiện mọi nghĩa vụ của doanh nghiệp Nhà nớc trớc khi
sáp nhập, hợp nhất, chia tách.
Các khoản vốn tăng thêm do đợc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
khi thực hiện Luật khuyến khích đầu t trong nớc hoặc đợc cấp lại các khoản phải
nộp ngân sách theo Quyết định của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền đợc coi là
vốn có nguồn gốc từ ngân sách:
Các khoản vốn tăng thêm nói trên và vốn đợc Nhà nớc cấp bổ sung sau khi
đã giao vốn đều đợc tính vào số vốn Nhà nớc giao cho doanh nghiệp.
Việc giao vốn tiến hành chậm nhất 60 ngày sau khi doanh nghiệp đợc cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đối với các Tổng công ty Nhà nớc, sau khi
nhận vốn chậm nhất 30 ngày Tổng công ty phải tổ chức giao vốn cho các doanh
nghiệp thành viên. Tổng số vốn giao cho các doanh nghiệp thành viên (doanh
nghiệp độc lập và phụ thuộc) không đợc thấp hơn số vốn Nhà nớc giao cho Tổng
công ty. Trong thời gian 15 ngày sau khi giao vốn xong cho các doanh nghiệp
thành viên, Tổng công ty Nhà nớc gửi báo cáo tổng hợp và biên bản giao vốn cho
cơ quan quản lý tài chính và Thủ trởng cơ quan quyết định thành lập doanh
nghiệp.
Bộ trởng Bộ Tài chính hoặc ngời đợc uỷ quyền là ngời giao vốn cho các
doanh nghiệp Nhà nớc. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc hoặc Giám
đốc (đối với doanh nghiệp có Hội đồng quản trị), Giám đốc (đối với doanh
nghiệp không có Hội đồng quản trị) là ngời ký nhận vốn. Đối với các doanh
nghiệp là thành viên của Tổng công ty Nhà nớc, ngời giao vốn là Tổng giám
đốc Tổng công ty, ngời nhận vốn là Giám đốc doanh nghiệp thành viên.
Đối với các Tổng công ty Nhà nớc đợc thành lập theo Quyết định số
90/TTg và Quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tớng Chính phủ khi giao

vốn phải có sự chứng kiến của đại diện cơ quan Quyết định thành lập doanh
nghiệp.
1.2. Huy động vốn của các doanh nghiệp nhà nớc
Ngoài số vốn Nhà nớc đầu t, doanh nghiệp Nhà nớc phải tự huy động
vốn dới các hình thức: phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay vốn, nhận vốn góp
liên kết và các hình thức khác để phát triển kinh doanh và tự chịu trách nhiệm
về việc huy động vốn. Việc huy động vốn không đợc thay đổi hình thức sở hữu
của doanh nghiệp và phải tuân theo các quy định của Pháp luật hiện hành.
a) Doanh nghiệp nhà nớc đợc huy động vốn trong nớc theo các hình thức
sau:

×