Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (189.56 KB, 26 trang )

TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM
XÃ HỘI
1.1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI:
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của BHXH:
Con người muốn tồn tại và phát triển cần phải được đáp ứng các nhu cầu tối
thiểu: ăn, mặc, ở, nhưng để thoả mãn được các nhu cầu này con người cần phải lao
động, tạo ra những sản phẩm cần thiết đáp ứng cho các nhu cầu đó. Trong suốt cuộc
đời, mọi hoạt động của con người không phải lúc nào cũng suôn sẻ, họ có thể gặp phải
những khó khăn hay những rủi ro trong cuộc sống, làm mất khả năng lao động, giảm
hoặc mất thu nhập. Đặc biệt khi nền sản xuất hàng hoá phát triển, cùng với quá trình
công nghiệp hoá đã tạo điều kiện cho Chủ nghĩa tư bản ra đời và phát triển mạnh mẽ,
đội ngũ công nhân lao động làm thuê cũng tăng lên; cuộc sống của họ chủ yếu phụ
thuộc vào thu nhập do việc làm thuê đem lại. Tuy nhiên, NLĐ lại bị giới chủ bóc lột hết
sức nặng nề và đối xử không công bằng: giờ làm việc kéo dài, cường độ lao động rất
cao, tiền công lại bị trả rất thấp, thu nhập không đủ để đảm bảo những nhu cầu cần
thiết, khiến họ thường xuyên phải đối mặt với các hiện tượng: ốm đau, tai nạn lao động.
Đứng trước tình hình đó giai cấp công nhân đã liên kết lại với nhau để tương trợ, giúp
đỡ lẫn nhau tạo lập các quỹ cứu trợ người ốm, người bị tai nạn; lập các tổ chức tương tế
và vận động mọi người tham gia. Đây chính là mầm mống đầu tiên cho sự ra đời của
một hệ thống BHXH.
Kể từ đó hệ thống BHXH trên thế giới đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:
-Năm 1838 chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu
tiên tại Cộng hoà liên bang Đức
-Năm 1850 và năm 1861 các quỹ ốm đau được thành lập ở Đức và Bỉ
-Năm 1883 Đức ban hành đạo luật đầu tiên về BHXH
-Năm 1894 và năm 1896 Bỉ và Hà Lan đã được ban hành Bộ luật đầu tiên về các
tổ chức tương tế
-Năm 1935, Mỹ ban hành đạo luật đầu tiên về ASXH, trong đó BHXH là hạt
nhân
-Ngày 10/12/1948 Đại hội đồng Liên hợp quốc Tuyên ngôn nhân quyền, trong
đó có đoạn: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên xã hội có quyền hưởng


BHXH”
-Ngày 25/06/1952 Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước102 – Công
ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội
-Ngày 07/06/1967 Công ước 128 ra đời nói về trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền
tuất
Ở nước ta, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, Nhà nước
đã ban hành nhiều sắc lệnh nhằm thực hiện chính sách BHXH:
-Sắc lệnh số 54/SL ngày 01/11/1945 ấn định những điều kiện cho công chức về
hưu;
-Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/06/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công chức;
-Sắc lệnh 76/SL ngày 20/05/1950 ấn định cụ thể hơn việc trợ cấp hưu trí, thai
sản, chăm sóc y tế, tai nạn, tiền tuất đối với công chức;
-Sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1947 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/05/1950 ấn định
chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân sảm
xuất.
Tuy nhiên phải đến năm 1961, chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà
nước mới thực sự thực hiện trên cơ sở thành lập một Quỹ BHXH thống nhất toàn quốc
sau khi Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH kèm theo Nghị định
218/CP ngày 27/11/1961với 6 loại trợ cấp (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất).
Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII công cuộc đổi mới đất nước đi
vào chiều sâu, trong đó việc đổi mới BHXH cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội
trở thành một yêu cầu bức bách. Việc đổi mới được đánh dấu bằng việc tách một bộ
phận cấu thành của BHXH - chế độ chăm sóc y tế thành một quỹ độc lập: BHYT (Nghị
định 299/HĐBT). Ngày 22/06/1993 Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm
thời chế độ BHXH mở đầu cho cuộc cải cách sâu rộng, toàn diện.
Việc cải cách đi vào thực tiễn khi hàng loạt các văn bản pháp quy được ban hành
từ năm 1995:
-Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về Điều lệ BHXH;
-Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về thành lập BHXH Việt

Nam;
-Quyết định 606/1995/QĐ – TTg ngày 26/09/1995 của Thủ tướng Chính phủ và
việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam;
-Nghị định số 93/1998/NĐ – CP ngày 12/11/1998 của Chính phủ về việc sửa
đổi, bổ sung một số Điều lệ BHXH;
-Luật BHXH được Quốc hội khoá XI tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/06/2006 thông
qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 quy định chi tiết về chế độ, chính sách, quyền và
trách nhiệm của NLĐ, NSDLĐ, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia BHXH,…Kể từ
đây, Luật BHXH đã trở thành lang pháp lý hoàn chỉnh nhất cho hoạt động của hệ hống
BHXH, chính vì vậy quyền lợi của NLĐ cũng được đảm bảo nhất.
Trên đây là một số mốc quan trọng trong việc thực hiện BHXH. Có thể nhận
thấy rằng, Đảng và Nhà nước ta coi BHXH là một trong những chính sách xã hội hàng
đầu nên luôn cố gắng hoàn thiện hê thống BHXH một cách tốt nhất cho phù hợp với
điều kiện của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.
1.1.2. Khái niệm, bản chất và vai trò của BHXH:
1.1.2.1. Khái niệm BHXH:
BHXH ra đời và phát triển khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở Châu
Âu, chính vì vậy có thể nói, BHXH có một lịch sử khá lâu đời, có nhiều thay đổi về
chất với nhiều mô hình phong phú, được thực hiện ở hàng trăm nước trên thế giới.
BHXH nhằm bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình
họ trước những rủi ro xã hội như ốm đau, tai nạn, mất việc làm,…làm giảm hoặc mất
thu nhập. Tuy nhiên, do tính chất lịch sử và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH
cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và cho đến nay, BHXH vẫn là vấn đề còn
nhiều tranh luận.
Theo khái niệm mà ILO đưa ra thì BHXH được hiểu là: “sự tổ chức bảo đảm bù
đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ
nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử
dụng, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các
bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn
kinh tế cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.

Theo Luật BHXH của nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thì “BHXH là
sự đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc bị mất
thu nhập do ốm đau, thai sản. tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi
lao động hoặc chết trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH”.
Từ các giác độ khác cũng có những khái niệm khác nhau về BHXH, như:
-Từ giác độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ NLĐ, sử dụng
tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và được sự bảo hộ, tài trợ của Nhà nước, nhằm trợ
cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất
thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy
định của pháp luật (hưu) hoặc chết.
-Từ giác độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa
những người tham gia BHXH theo quy định của pháp luật.
-Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo
đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải những “rủi ro xã hội”, nhằm
góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Có thể nhận thấy rằng, dù đứng ở giác độ nào thì, BHXH đều được hiểu với ba
khía cạnh chủ yếu sau:
- BHXH hình thành và phát triển do nhu cầu của đời sống xã hội, nhất là khi nền
sản xuất hàng hoá hình thành. Trong lao động sản xuất, con người một mặt sẽ gặp được
những điều kiện thụận lợi để phát triển, nhưng song song với nó lại là những sự kiện
không thuận lợi, những “rủi ro xã hội” làm giảm hoặc mất thu nhập của họ. Những sự
kiện hay những “rủi ro xã hội” bằng cách này hay cách khác đều đe doạ đến “an toàn
kinh tế” của NLĐ và gia đình họ. Vì vậy, cần phải có những biện pháp để chống lại sự
đe doạ này, một trong những biện pháp đó là BHXH. Nói cách khác, BHXH ra đời
nhằm đảm bảo thu nhập cho NLĐ và gia đình họ trước những rủi ro, những sự kiện
không thuận lợi.
- Mục đích của BHXH là thông qua các trợ cấp BHXH, bù đắp hoặc thay thế thu
nhập cho NLĐ và gia đình họ trước những rủi ro hay sự kiện làm cho NLĐ bị giảm
hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao
động không được sử dụng, góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

- Lịch sử phát triển của BHXH đã chỉ ra rằng: có một số cách thức tổ chức thực
hiện để bù đắp hoặc thay thế thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ
nghề nghiệp, như: NLĐ cùng giúp đỡ nhau, Nhà nước thực hiện thông qua ngân sách và
hình thành một quỹ tài chính độc lập, tập trung thông qua sự đóng góp của các bên tham
gia.
1.1.2.2. Bản chất của BHXH:
- BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá. Khi trình độ phát triển
của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời và
phát triển. Vì vậy, có thể cho rằng sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát
triển của một nền kinh tế: một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém
không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh được. Kinh tế càng phát triển, hệ thống
BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày
càng phong phú hơn.
- Mối quan hệ bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra
giữa ba bên: bên tham gia BHXH – bên BHXH – bên được BHXH. Bên tham gia
BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật, gồm: NLĐ,
hoặc NSDLĐ hoặc cả NLĐ và NSDLĐ. NLĐ tham gia BHXH để bảo hiểm cho chính
mình trên cơ sở san sẻ rủi ro của số đông NLĐ; NSDLĐ có trách nhiệm đóng góp
BHXH cho NLĐ mà mình thuê mướn. Bên BHXH là bên nhận tiền đóng góp BHXH
của các bên tham gia. Bên BHXH thường là một cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập
ra và bảo trợ. Bên được BHXH là bên nhận các loại trợ cấp khi phát sinh những nhu
cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại sự kiện, rủi ro được bảo hiểm
gây ra. Bên được BHXH là: NLĐ và gia đình họ.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong
BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nghiên trái với chủ quan của con người như: ốm
đau, tai nạn, bệnh nghề nghiệp,... hoặc có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn
toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản,..Các rủi ro đó có thể xảy ra cả trong hoặc ngoài
quá trình lao động.
- Phần thu nhập bị giảm hoặc mất đi của NLĐ khi gặp phải rủi ro sẽ được thay
thế hoặc bù đắp một phần từ nguồn quỹ tài chính tập trung do các bên tham gia cùng

đóng góp và được Nhà nước hỗ trợ một phần.
Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, Nhà nước hỗ trợ
khi có sự thâm hụt (thu không đủ chi), chính vì vậy mà chính sách BHXH nằm trong hệ
thống chung của chính sách về kinh tế – xã hội và là một trong những bộ phận hữu cơ
trong hệ thống chính sách quản lý đất nước của quốc gia.
-Mục tiêu của BHXH là thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của NLĐ khi rủi ro
xảy ra. Mục tiêu này đã được ILO đề ra như sau:
+ Đền bù cho NLĐ những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo những nhu cầu
sinh sống thiết yếu của họ;
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật;
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng nhu cầu dân cư và các nhu cầu đặc biệt khác
của người già, người tàn tật và trẻ em.
Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con người
và đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn nhân quyền
ngày 10/12/1948 như sau: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có
quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế,
xã hội và văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”
1.1.2.3. Vai trò của BHXH:
- Đối với Người lao động:
BHXH đóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần đảm bảo cuộc sống ổn
định cho NLĐ và gia đình họ, khi mà những tủi ro bất ngờ xảy ra như: ốm đau, tai nạn,
thai sản …làm giảm hoặc mất sức lao động ảnh hưởng đến thu nhập của NLĐ. Bởi lẽ,
khi NLĐ gặp những rủi ro ảnh hưởng đến thu nhập, BHXH sẽ thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập bị mất đi cho NLĐ và gia đình họ với mức hưởng, thời điểm hưởng, thời
gian hưởng theo đúng quy định của Nhà nước trong từng chế độ. Mức trợ cấp này
không phải là hoàn toàn mức thu nhập mà NLĐ đã mất hay bị giảm đi những nhưng nó
đã phần nào cung cấp cho NLĐ một khoản tiền nhất định để trang trải những nhu cầu
thiết yếu cho bản thân và gia đình. Chính do sự thay thế và bù đắp một phần thu nhập
này của BHXH đã giúp NLĐ cảm thấy yêu nghề, yêu công việc của mình hơn; là sợi
dây ràng buộc giúp họ hăng say lao động sản xuất hơn, gắn hết NSDLĐ và NLĐ lại gần

nhau hơn, từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng sản phẩm xã hội và tăng
chất lượng cuộc sống của chính NLĐ.
-Đối với Người sử dụng lao động:
Thực tế trong quá trình lao động sản xuất, giữa NLĐ và NSDLĐ luôn xảy ra
những xung đột nhất định về tiền lương, tiền công, thời gian lao động…và khi những
rủi ro xảy ra, nếu có không có sự trợ giúp của BHXH thì dễ dẫn đến những xung đột và
tranh chấp giữa hai giới chủ - thợ. Vì vậy, BHXH góp phần điều hoà, hạn chế những
mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, tạo ra môi trường làm việc ổn định cho NLĐ và
tạo sự ổn định trong công tác quản lý cho NSDLĐ. Từ đó nâng cao khả năng sản xuất
của doanh nghiệp.
Hơn nữa NSDLĐ muốn ổn định phát triển sản xuất kinh doanh chẳng những
phải đầu tư vào máy móc, trang thết bị,…mà còn phải chăm lo đến đời sống của NLĐ
mà họ thuê mướn. Nhưng trong cuộc sống, luôn tiềm ẩn những rủi ro có thể xảy ra bất
cứ lúc nào đối với NLĐ, và khi đó NSDLĐ sẽ không có người làm thuê cho mình, do
đó quá trình sản xuất, kinh doanh sẽ bị gián đoạn rồi dẫn đến năng suất giảm và cuối
cùng là giảm thu nhập của NSDLĐ. Nhưng khi có sự tham gia của BHXH, có sự trợ
giúp về mặt tài chính thì NLĐ nhanh chóng được phục hồi những thiệt hại xảy ra,
nhanh chóng quay lại với công việc, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
-Đối với Nhà nước:
+ BHXH là một bộ phận quan trọng giúp Ngân sách Nhà nước giảm chi đến mức
tối thiểu nhưng vẫn giải quyết được khó khăn trong cuộc sống của NLĐ và gia đình họ
khi gặp phải những rủi ro.
+ BHXH góp phần giữ vững an ninh, chính trị trong nước, ổn định trật tự xã hội:
BHXH giúp điều hoà, hạn chế những mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, đồng thời tạo
ra môi trường làm việc thuận lợi cho NLĐ. Bởi lẽ, nếu những mâu thuẫn giữa NLĐ và
NSDLĐ chưa được giải quyết thì có thể dẫn tới những cuộc đình công, thậm chí là
những cuộc bãi công, đến lúc đó, quá trình sản xuất bị ngừng trệ, không có sản phẩm để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội; bên cạnh đó, Chính phủ còn phải đối mặt với hàng
loạt vấn đề như: giữ vững an toàn xã hội, đảm bảo các nhu cầu của người dân…
+ Quỹ BHXH chẳng những dùng để chi trả trợ cấp cho NLĐ khi gặp phải rủi ro

mà còn là một nguồn tài chính lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước. Nguồn quỹ
nhàn rỗi có thể được đem đầu tư vào các công trình công cộng của quốc gia. Như vậy,
một mặt nó giúp thúc đẩy kinh tế phát triển, mặt khác sẽ giúp tăng trưởng quỹ do phần
lãi do đầu tư mang lại.
1.1.3. Những nguyên tắc hoạt động và quan điểm cơ bản về BHXH:
1.1.3.1. Những nguyên tắc hoạt động của BHXH:
- Mọi NLĐ trong mọi trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất
việc làm đều có quyền hưởng BHXH.
Quyền được hưởng BHXH là một trong những biểu hiện cụ thể của quyền con
người: được hưởng trợ cấp BHXH theo các chế độ xác định. Các chế độ này gắn với
các trường hợp NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm do đó
giảm hoặc mất nguồn sinh sống. Về nguyên lý thì mọi trường hợp như thế, NLĐ phải
được hưởng BHXH, nhưng giữa nguyên lý với thực tiễn luôn luôn có một khoảng cách
khá xa. Khoảng cách đó do các điều kiện kinh tế - xã hội quy định. Bởi vậy, trên giác
độ điều hành vĩ mô, cần căn cứ vào các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của đất nước
trong từng giai đoạn phát triển để tổ chức và hoàn thiện dần việc thực hiện BHXH đối
với NLĐ.
-Nhà nước và NSDLĐ có trách nhiệm phải BHXH đối với NLĐ, NLĐ cũng phải
có trách nhiệm phải tự BHXH cho mình.
Đây là mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường, trong đó, Nhà nước có
vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước. Với vai trò
này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có
mọi công cụ để thực hiện vai trò của mình. Cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế, cũng có những kết quả bất lợi xảy ra, những kết quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián
tiếp sẽ tạo ra những rủi ro cho NLĐ. Khi xảy ra những tình trạng như vậy, nếu không có
BHXH thì Nhà nước phải chi Ngân sách để giúp đỡ NLĐ dưới những hình thức khác.
Nhưng khi có sự tham gia của BHXH, Nhà nước chỉ phài chi một khoản tiền nhỏ nhưng
vẫn đảm bảo được cuộc sống cho NLĐ.
Đối với NSDLĐ, mọi khía cạnh đặt ra cũng tương tự như trên nhưng chỉ trong
phạm vi một số doanh nghiệp, ở đó NLĐ và NSDLĐ có một mối quan hệ chặt chẽ.

BHXH sẽ giúp cho NLĐ có một cuộc sống ổn định hơn và NSDLĐ có kết quả sản xuất
kinh doanh tốt nhất.
Đối với NLĐ, khi gặp phải những rủi ro không mong muốn và không hoàn toàn
hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết là do lỗi của bản thân. Vì thế, nếu
muốn được BHXH tức là muốn được nhiều người hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của
mình cho nhiều người khác thì tự mình phải gánh chịu trực tiếp và trước hết đã. Điều
đó có nghĩa là bản thân NLĐ phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho
mình.
-BHXH phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình thành Quỹ
BHXH độc lập và tập trung.
Biểu hiện cụ thể của trách nhiệm của các bên tham gia vào BHXH đó là việc
đóng phí BHXH. Nhờ có sự đóng góp mà phương thức riêng có của BHXH là dàn trải
rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và
chiều ngang. Hơn nữa, nó còn tạo ra mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa trách nhiệm
và quyền lợi, góp phần hạn chế những hiện tượng nhiễu trong hệ thống hoạt động mang
lại nhiều lợi ích cho mọi người có liên quan .
-Phải lấy số đông bù số ít:
Cách làm riêng của BHXH là mọi người đóng góp cho bên nhận BHXH (cơ
quan BHXH chuyên nghiệp) tồn tích dần thành một quỹ tài chính độc lập và tập trung
dùng để chi trả trợ cấp cho NLĐ khi và chỉ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập theo các
chế độ xác định. Như vậy, trong số đông người tham gia đóng góp BHXH chỉ những
NLĐ mới được hưởng trợ cấp. Trong những NLĐ, chỉ những NLĐ bị ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động hay tuổi già có đủ điều kiện cần thiết mới thực sự được hưởng trợ cấp.
Vì thế số tiền họ nhận được từ trợ cấp lớn hơn rất nhều so với số tiền mà họ đã đóng
góp.
-Phải kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu
BHXH.
Trong BHXH, cả ba bên tham gia, NSDLĐ, NLĐ, Nhà nước đều nhận được
nhiều lợi ích, nhưng những lợi ích nhận được không phải luôn luôn như nhau, thống
nhất với nhau, mà trái lại có lợi ích có lúc mâu thuẫn với nhau. Vì vậy, trong nghiên cứu

xây dựng các thiết chế hoặc trong điều hành BHXH cụ thể cần phải tìm ra những giải
pháp để kết hợp hài hoà những lợi ích lâu dài của NLĐ.
Để có thể chi trả trợ cấp BHXH cho NLĐ thì cần phải có Quỹ BHXH độc lập và
tập trung. Nguồn cơ bản để hình thành nên quỹ này là đóng góp của các bên tham gia
BHXH và có sự hỗ trợ của Nhà nước. Muốn phát triển BHXH cần phải tăng trưởng
Quỹ BHXH. Vì vậy, cần phải tích cực tìm kiếm tăng các nguồn thu khác để bổ sung
như: đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của Quỹ, hợp tác quốc tế về BHXH,…
-Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đi làm, nhưng thấp nhất
cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu.
Tiền lương là khoản tiền NSDLĐ trả cho NLĐ khi họ thực hiện công việc nhất
định. Khi bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không thực hiện được công việc nhất định
hoặc không làm việc mà trước đó có tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ
cấp đó không thể bằng hoặc cao hơn tiền lương do lao động tạo ra được. Còn nếu cố
tình trả trợ cấp bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một NLĐ nào phải cố gắng có
việc làm và tích cực làm việc để có lương mà ngược lại họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản,
… để nhận được trợ cấp. Như vậy mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương
lúc đang đi làm, tuy nhiên, do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ
cấp thấp nhất cũng phải đảm bảo cuộc sống hàng ngày.
-Kết hợp giữa bắt buộc và tự nguyện.
Cho đến nay, ở nước ta việc tham gia BHXH vẫn chưa trở thành tập quán, hơn
nữa trong BHXH lợi ích của các bên tham gia và lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài
của NLĐ vẫn có những mâu thuẫn. Bởi vậy, cần có sự kết hợp giữa bắt buộc với tự
nguyện trong việc tham gia BHXH. Sự bắt buộc nên thực hiện đối với các bên tham gia
ở khu vực có quan hệ lao động và mức thu nhập cơ bản. Đối với những người có nhu
cầu BHXH ở mức cao hoặc với những NLĐ độc lập thì nên để họ tham gia tư nguỵện.
-Phải bảo đảm tính thống nhất BHXH trên phạm vi cả nước, đồng thời phải phát
huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành.
Để BHXH hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải đảm bảo tính thống nhất trên
những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh sự tuỳ tiện, tính cục bộ hoặc những mâu
thuẫn nảy sinh. Đồng thời, cũng phải có cơ chế để mỗi bộ phận cấu thành có thể năng

động trong hoạt động để có thể bù đắp, bổ sung những ưu điểm lẫn nhau.
-BHXH phải được phát trển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế -
xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể.

×