Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH SAU CHÁY TẠI BẢO VIỆT HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (192.15 KB, 27 trang )

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM
GIÁN ĐOẠN KINH DOANH SAU CHÁY TẠI BẢO VIỆT HÀ NỘI
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VIỆT HÀ NỘI.
1.1. Giới thiệu chung về Bảo Việt Hà Nội.
Tổng công ty Bảo Hiểm Việt Nam gọi tắt là Bảo Việt (tiền thân là công ty
Bảo Hiểm Việt Nam) được thành lập theo quyết định số 179/CP ngày 17/2/1964
của thủ tướng chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/1/1965. Bảo
Việt là doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh bảo hiểm, có nhiệm vụ
thành lập quỹ dự trữ bảo hiểm từ sự đóng góp tham gia của các cá nhân, đơn vị
sản xuất kinh doanh.
Công ty Bảo Hiểm Hà Nội (gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội), được thành lập từ
năm 1980 theo quyết định số 1125/QĐ-TCCB ngày 17/11/1980 của bộ Tài
Chính có tên gọi là chi nhánh bảo hiểm Hà Nội và trực thuộc Tổng công ty bảo
hiểm Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Bảo Việt Hà Nội là tổ chức hoạt động
kinh doanh bảo hiểm thương mại trên địa bàn thành phố, trụ sở đặt tại số 7- Lý
Thường Kiệt – Hà Nội.
Từ sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước có những bước chuyển
mình căn bản, đặt bảo hiểm thương mại trước những yêu cầu mới của sự nghiệp
đổi mới xây dựng đất nước. Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 17/2/1989, Bộ Tài Chính
ra quyết định số 27/TCQĐ-TCCB chuyển chi nhánh bảo hiểm Hà Nội thành
công ty bảo hiểm Hà Nội ( gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội ), có trụ sở tại 15C - Trần
Khánh Dư – Hà Nội.
Trải qua hơn 20 năm hoạt động liên tục, công ty Bảo Việt Hà Nội đã
không ngừng lớn mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu. Ban đầu thành lập, công
ty chỉ có vẻn vẹn 10 cán bộ với một phòng nhỏ làm trụ sở chính, tới nay Bảo
Việt Hà Nội đã trở thành một đơn vị kinh tế lớn mạnh với đội ngũ hàng trăm
cán bộ bảo hiểm, có trụ sở chính bề thế khang trang, thành lập văn phòng trực
thuộc tại tất cả các quận huyện trên địa bàn Hà Nội cùng đội ngũ cộng tác viên
đại lý phủ kín trên địa bàn dân cư thành phố thành phố. Sẵng sàng đáp ứng yêu
cầu của mọi tầng lớp nhân dân, trở thành một đơn vị chủ lực của Tổng công ty
bảo hiểm Việt Nam.


1.2 Cơ cấu tổ chức của Bảo Việt Hà Nội
Hiện nay cơ cấu tổ chức của Bảo Việt Hà Nội được biểu hiện qua sơ đồ
dưới đây:
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Bảo Việt Hà Nội:
Ban giám đốc
Các phòng chức năng
Các phòng nghiệp vụ
Phòng tổng hợp
P . Hành chính - quản lý
P. Kế toán – tài chính
Phòng Marketing
P. Giám định - Bồi thường
Phòng tin học
Phòng cháy - rủi ro hỗn hợp
Phòng rủi ro kỹ thuật
Phòng phi hàng hải
Phòng quốc phòng
14 phòng đại diện tại các quận, huyện
Phòng hàng hải
P. quản lý đại lý
Như vậy, tại công ty Bảo Việt Hà Nội, giám đốc là người điều hành cao
nhất về toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty giúp việc cho giám đốc là hai
phó giám đốc. Mỗi phó giám đốc quản lý một số phòng trên công ty và một số
phòng đại diện trực thuộc.
Cơ cấu văn phòng Bảo Việt Hà Nội hiện nay được chia làm hai bộ phận:
Thứ nhất là: Bao gồm 7 phòng chức năng (phòng tổng hợp, phòng hành
chính quản lý, phòng giám định bồi thường …) và 5 phòng nghiệp vụ (phòng
hàng hải, phòng phi hàng hải, phòng quốc phòng …) tại trụ sở công ty. Trong
đó, năm phòng nghiệp vụ cùng với phòng marketing có nhiệm vụ trực tiếp tiến
hành triển khai các nghiệp vụ, giải quyết các khiếu nại bồi thường thuộc phân

cấp. Ngoài ra, các phòng này còn có nhiệm vụ giúp đỡ các phòng đại diện tại
(Nguồn Bảo Việt Hà Nội )
các quận huyện trong quan hệ với khách hàng, cân nhắc chấp nhận bảo hiểm,
phát hành hợp đồng, xử lý khiếu nại, giám định bồi thường thuộc phân cấp.
Các phòng nghiệp vụ và các phòng chức năng có quan hệ mật thiết với
nhau và cùng phối hợp với ban giám đốc thực hiện quản lý, đánh giá tình hình
hoạt động kinh doanh, đưa ra các quy định nghiệp vụ, đề ra các biện pháp đối
phó kịp thời với tình hình cạnh tranh trên thị trường.
Thứ hai là: 14 phòng đại diện tại tất cả các quận huyện, nhiệm vụ của các
phòng này là triển khai phát triển địa bàn. Sang tới 2004, được sự cho phép của
Tổng công ty, Bảo Việt Hà Nội không lấy tên quận huyện làm tên phòng mà
chuyển sang đánh thứ tự 1,2,3… ví dụ: phòng 1 là phòng Hoàn Kiếm, phòng 2
là phòng Ba Đình …nhằm nâng cao tính chủ động kinh doanh của các phòng
tạo điều kiện thuận lợi cho các phòng trong khai thác trên địa bàn.
Ngoài ra, công ty còn có một hệ thống đại lý cộng tác viên rộng khắp được
quản lý thống nhất bởi phòng quản lý đại lý.
Với mô hình này, việc quản lý chung của Bảo Việt Hà Nội khá chặt chẽ cả
về chiều rộng lẫn chiều sâu.
1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của Bảo Việt Hà Nội (1999-2003).
Trong vài năm trở lại đây, kinh tế xã hội cả nước nói chung và Hà Nội nói
riêng tiếp tục phát triển ổn định. Đây là một nhân tố thuận lợi cho công tác khai
thác kinh doanh bảo hiểm của bảo hiểm Việt Nam cũng như của Bảo Việt Hà
Nội . Hơn thế Bảo Việt Hà Nội còn nhận được sự quan tâm chỉ đạo và ủng hộ
của lãnh đạo Tổng công ty, sự hợp tác giúp đỡ thường xuyên của các phòng ban
thuộc Tổng công ty, cán bộ công nhân viên bảo hiểm của Bảo Việt Hà Nội từng
bước tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt động cạnh tranh. Và trong bất kì hoàn
cảnh nào, cán bộ công nhân viên của công ty cũng luôn đoàn kết nhất trí trên
dưới một lòng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Tổng công ty và nhà nước giao
phó.
Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam có

sự thay đổi cơ bản về bản chất, đó là do việc ban hành nghị định 100/CP ngày
18/12/1993 và nghị định 74/CP ngày14/6/1997 đã phá vỡ thế độc quyền của
Bảo Việt. Hoạt động kinh doanh của công ty do đó cũng gặp nhiều khó khăn
hơn do mức độ cạnh tranh của thị trường bảo hiểm cao hơn những năm trước.
Hà Nội – trái tim của cả nước, đầu não kinh tế chính trị quốc gia, trung tâm lớn
về văn hoá – khoa học – giáo dục –kinh tế và giao dịch quốc tế, một trong
những thành phố có các hoạt động kinh doanh diễn ra sôi động nhất. Thủ đô Hà
Nội là một thị trường giàu tiềm năng và cơ hội để phát triển dịch vụ bảo hiểm.
Hiện, trên địa bàn Hà Nội có 13 trên tổng số 14 công ty bảo hiểm phi nhân thọ
tham gia và chú trọng đầu tư, phát triển. Bảo Việt Hà Nội không những phải
cạnh tranh với những công ty bảo hiểm trên thị trường khác về tỷ lệ phí, chi phí
kinh doanh mà còn phải cạnh tranh cả về những yếu tố phục vụ khác. Việc mở
rộng hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm nước ngoài là cho tính
cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm trước đã gay gắt nay càng thêm khốc liệt
tất yếu dẫn tới việc giảm phí bảo hiểm hay phải chia xẻ phí do đồng bảo hiểm,
đặc biệt là trong các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm. Kết quả
kinh doanh của Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1999-2003 thể hiện bảng số liệu 1
dưới đây:
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của Bảo Việt Hà Nội (1999-2003).
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001 2002 2003
Doanh thu (Trđ ) 74.886 75.711 82.570 95.100 131.21
Tốc độ trưởng doanh thu
(%)
- 1.01 9.1 15 37.97
Tỷ lệ bồi thường (%) 31.5 37.35 39.35 50.41 32.25
Thu nhập bình quân
cán bộ/ tháng (Tr.đ/Tháng)
1.690 1.850 2.150 2.300 2.750

(Nguồn số liệu : Phòng Marketing –Bảo Việt Hà Nội )
Qua bảng số liệu trên ta thấy doanh thu phí bảo hiểm của Bảo Việt Hà Nội
năm 1999 là 74886 triệu đồng, năm 2000 và năm 2001 doanh thu có tăng nhưng
chưa nhiều với doanh thu lần lượt là75.711 và 82570 triệu đồng trong khi như ta
biết thì năm 1998 doanh thu phí của Bảo Việt Hà Nội là 87.650 triệu đồng.
Nguyên nhân dẫn đến điều này là do có sự tham gia và mở rộng của nhiều
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ như VIA (1996), UIC (1997), PTI (1998).
Hơn nữa trong vài năm trở lại đây tốc độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư trên
thị trường Hà Nội còn chậm, gây ảnh hưởng không nhỏ tới kế hoạch khai thác
nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt.
Đứng trước những khó khăn thách thức trên Bảo Việt Hà Nội không
ngừng tìm hiểu, nghiên cứu và luôn nhanh nhạy trong kinh doanh, có sự kết hợp
linh hoạt các chính sách của chính phủ , các quy định của Tổng công ty với các
biện pháp của mình để có thể đứng vững và tăng trưởng cao. Một trong những
biện pháp quan trọng mà Bảo Việt Hà Nội đang áp dụng nhằm nâng cao chất
lượng dịch vụ, đảm bảo khả năng cạnh tranh là thay đổi phương thức hạch toán
kinh doanh. Theo phương thức mới này công ty sẽ giao khoán cụ thể hoạt động
kinh doanh cho từng phòng và các phòng phải có nhiệm vụ hỗ trợ nhau để thực
hiện các chỉ tiêu kinh doanh đó.
Kết quả là sang tới năm 2002 doanh thu phí đã đạt được 95.100 triệu đồng
và 2003 là 131.214 triệu đồng bằng 113,2% mức kế hoạch mà Tổng công ty
giao, tăng trưởng xấp xỉ 38% so với năm 2002. Điều này, chứng tỏ công ty
đang từng bước đi đúng hướng dần đạt được những mục tiêu đã đề ra, thích
nghi với môi trường kinh doanh mới.
Có được kết qủa này một phần là nhờ vào sự quan tâm chỉ đạo và ủng hộ
giúp đỡ của lãnh đạo Tổng công ty, lãnh đạo các cơ quan ban nghành thành phố.
Phần còn lại là kết qủa từ chính nỗ lực của cán bộ công nhân viên Bảo Việt
cũng như kết quả từ chất lượng dịch vụ mà Bảo Việt Hà Nội dành cho khách
hàng của mình. Bảo Việt Hà Nội đang dần tạo cho mình một phong cách riêng
một nét riêng:

“Nền nếp khoa học trong kinh doanh, thân thiện coi trọng quyền lợi của khách
hàng”.
Với phương châm: “Phục vụ khách hàng là phục vụ chính mình” và “Đáp ứng
cái khách hàng cần chứ không phải những gì mình có”. Bảo Việt Hà Nội không
ngừng đổi mới phong cách làm việc để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn.
Vì vậy, Bảo Việt Hà Nội vẫn luôn là người bạn đồng hành tin cậy của khách
hàng.
Công tác giám định bồi thường của Bảo Việt Hà Nội cũng có những bước cải
thiện đáng kể, với sự giúp đỡ của Tổng công ty, Bảo Việt Hà Nội đã giải quyết
tôt các khiếu nại bồi thường thuộc phân cấp nhanh chóng, chính xác góp phần
nâng cao uy tín với khách hàng.
Các mặt hoạt động khác như: công tác tổng hợp, công tác đào tạo, công tác
tuyên truyền quảng cáo, công tác kế toán- tài chính, công tác tin học… cũng
từng bước được cải thiện đáng kể.
II.THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM GIÁN
ĐOẠN KINH DOANH SAU CHÁY TẠi BẢO VIỆT HÀ NỘI (1999-2003)
2.1. Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm gián doạn kinh doanh
sau cháytại Bảo Việt Hà Nội
Bảo hiểm hoả hoạn là nghiệp vụ bảo hiểm xuất hiện từ lâu trong lịch sử
phát triển của nghành bảo hiểm. Hiện nay, trên thế giới, bảo hiểm hoả hoạn đã
phát triển mạnh mẽ và trở thành nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống với số phí bảo
hiểm hàng năm thu được rất cao. Đơn cử như ở Nhật Bản, doanh thu phí bảo
hiểm hoả hoạn thường vào khoảng 10 tỷ USD chiếm khoảng 15,5% doanh thu
phí bảo hiểm phi nhân thọ. Nhưng tại Việt Nam nói chung và tại Bảo Việt Hà
Nội nói riêng thì mãi cho tới ngày 17/1/1989 nghiệp vụ bảo hiểm cháy (hay còn
gọi là bảo hiểm hoả hoạn) mới chính thức được triển khai theo quyết định số
06/TC-QĐ của bộ Tài Chính. Ngay sau khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này
nhanh chóng khẳng định ngay vai trò quan trọng của nó quả doanh thu phí thu
về hàng năm đều tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của toàn công
ty. Như năm 2003 doanh thu phí nghiệp vụ bảo hiểm này đạt 11,039 tỷ đồng

chiếm gần 8,5% tổng doanh thu.
Bảo hiểm gián doạn kinh doanh sau cháy tuy là một nghiệp vụ mở rộng
phạm vi của bảo hiểm cháy nhưng đóng vai trò không kém phần quan trọng
trong việc giúp đỡ người được bảo hiểm nhanh chóng phục hồi hoạt động sản
xuất kinh doanh so với bảo hiểm hoả hoạn.
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy ra đời nhằm khắc phục những mặt còn
thiếu, còn hạn chế của bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt. Tuy nhiên, thực tế
nghiệp vụ bảo hiểm này không ra đời cùng thời điểm với bảo hiểm cháy bắt đầu
triển khai mà phải cho tới năm 1994, bảo hiểm gián doạn kinh doanh sau cháy
mới bắt đầu được đưa vào thử nghiệm… Hiện nay, nghiệp vụ bảo hiểm này
được triển khai trên cơ sở mẫu đơn của Anh. Từ khi đưa vào triển khai doanh
thu phí cũng như số đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy do Bảo Việt
Hà Nội kí với khách hàng chưa nhiều chưa đáp ứng được quy luật số lớn.
Năm 1996 sau 2 năm triển khai số đơn khai thác được mới chỉ là 8 đơn.
Đến năm 2003, sau gần 10 năm triển khai số đơn khai thác được coi là nhiều
nhât cũng mới chỉ dừng lại ở con số 102 đơn, con số còn quá ư khiêm tốn so với
số đơn khai thác được của các nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống khác ví dụ như
nghiệp vụ bảo hiểm vật chất ô tô có số đơn bảo hiểm khai thác được trong năm
2003 là gần 8000 đơn hay nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm chủ xe cơ giới đối
với người thứ 3 là trên 25.000 đơn.
2.2. Thực trạng tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm gián doạn kinh
doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội (1999-2003).
Cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm nói chung, việc triển khai nghiệp vụ bảo
hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy cũng bao gồm các khâu truyền thống:
 Khâu khai thác
 Khâu giám định - bồi thường
 Khâu đề phòng và hạn chế tổn thất
 Khâu đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh
Bốn khâu trên có quan hệ chặt chẽ với nhau và bổ xung cho nhau, chỉ cần
một trong bốn khâu hoạt động kém hiệu quả thì sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới cả

quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Do đó để có thể tìm ra được biện
pháp thích hợp nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh một nghiệp vụ nào đó
chúng ta cần phải phân tích từng khâu của nghiệp vụ đó. Trong phần này, từng
khâu của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy của Bảo Việt Hà
Nội sẽ được xem xét cụ thể.
2.2.1 Khâu khai thác.
Khai thác là khâu đầu tiên của quá trình kinh doanh bảo hiểm, nó có ý
nghĩa quan quyết định tới sự thành bại đối với một công ty bảo hiểm nói chung
hay một nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng.
Nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm là
nguyên tắc số đông bù số ít. Có làm tốt khâu khai thác mới đảm bảo nguyên tắc
này và đảm bảo hình thành được quỹ bảo hiểm đủ lớn. Do vậy, khâu khai thác là
khâu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với công ty. Khai thác được nhiều thì
doanh thu phí bảo hiểm gốc của công ty càng tăng nhanh kéo theo đó là sự tăng
lên của lợi nhuận, cũng như mức trích lập dự phòng lớn hơn đảm bảo cho công
ty phát triển ổn định kinh doanh lâu dài.
Như vậy, ta có thể thẩy khâu khai thác có vai trò rất quan trọng, không thể
thiếu trong việc phân tích hoạt động kinh tế một nghiệp vụ. Quy trình khai thác
bảo hiểm bao gồm việc tuyên truyền quảng cáo, tiếp cận khách hàng, đánh giá
rủi ro được bảo hiểm trên cơ sở đó ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối bảo
hiểm, xác định điều khoản, phạm vi bảo hiểm, tính toán mức phí bảo hiểm thích
hợp, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm …
Nhiệm vụ đầu tiên của khai thác viên bảo hiểm, sau khi nhận được giấy
yêu cầu bảo hiểm của người yêu cầu bảo hiểm là đánh giá các nguy cơ có liên
quan đến rủi ro được yêu cầu bảo hiểm, trong đó cần chú ý tới các nguy cơ vật
chất (các yếu tố có thể làm tăng tần số và mức độ nghiêm trọng của hiểm hoạ
yêu cầu bảo hiểm gắn liền với đặc điểm của đối tượng được yêu cầu bảo hiểm)
và các nguy cơ tinh thần (là các yếu tố có thể làm tăng tần số và mức độ nghiêm
trọng của hiểm hoạ được yêu cầu bảo hiểm gắn liền với thái độ của người yêu
cầu bảo hiểm hay người được bảo hiểm).

Tuy bảo hiểm gián cháy và bảo hiểm đoạn kinh doanh sau cháy có chung
rủi ro được bảo hiểm nhưng cơ sở đánh giá rủi ro trong bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh sau cháy lại có một số điểm khác so với bảo hiểm cháy. Trong bảo hiểm
gián đoạn kinh doanh sau cháy, cần xét tới hai loại rủi ro: Rủi ro vật chất và rủi
ro gián đoạn kinh doanh.
Rủi ro vật chất là những rủi ro xảy ra cháy, rủi ro này được đánh giá căn cứ
vào nguy có thể xảy ra cháy. Bao gồm những nguy hiểm của quá trình sản xuất
như: việc sử dụng các dung môi dễ cháy, sơn và các máy móc chạy ở tốc độ cao,
các nguồn ánh sáng nhân tạo hay việc sử dụng điện …
Nhưng không nhất thiết rằng rủi ro cháy càng cao thì rủi ro gián đoạn kinh
doanh càng cao ví dụ như rủi ro gián đoạn kinh doanh sẽ thấp nếu quy trình sản
xuất kinh doanh đơn giản dễ dàng thực hiện trong những nhà xưởng tạm,
nguyên vật liệt dễ kiếm …
Rủi ro gián đoạn kinh doanh được hiểu là tính nhậy cảm của hoạt động sản
xuất kinh doanh với gián đoạn kinh doanh.
Bảo hiểm cháy và bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy là hai nghiệp
vụ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy
ra đời nhằm khắc phục những mặt còn thiếu, những mặt còn hạn chế của bảo
hiểm cháy. Trên thực tế, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy được coi là
nghiệp vụ bảo hiểm mới tại Bảo Việt Hà Nội. Từ khi triển khai đến nay, số đơn
và số phí thu được của nghiệp vụ bảo hiểm này còn rất khiêm tốn so với các
nghiệp vụ đang triển khai khác. Điều này có thể thấy qua số liệu bảng 2.
Bảng 2: Kết quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy
tại Bảo Việt –Hà Nội (1999-2003).
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001 2002 2003
1. Số đơn bảo hiểm cấp 42 51 70 81 102
Tốc độ tăng (%) -- 121,4 137,25 115,7 125,9
2. Số tiền bảo hiểm

Tỷ lệ tăng (%)
366.70
0
-
433.30
0
118.16
549.87
6
126,9
636276
115,7
801.26
5
125,9
3.Doanh thu phí bảo hiểm
(tr.đ)
Tỷ lệ tăng (%)
505
--
650
128,7
824
126,8
952
115,5
1224
128,8
4. Số tiền bảo hiểm bình
quân / 1 hợp đồng (tr.đ)

8730,9
5
8490,1
69
7855,2
56
7855,25
6
7856,5
19
5. Số phí bảo hiểm bình
quân / 1 hợp đồng (tr.đ)
12,024 12,745 11,776 11,756 11,996
( Nguồn số liệu : Phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp Bảo Việt –Hà Nội )
Qua bảng số liệu trên ta thấy, số hợp đồng bảo hiểm ký được và số phí bảo
hiểm thu được của nghiệp vụ bảo hiểm này còn chưa nhiều, tuy nhiên không thể
phủ nhận rằng kết quả đó cũng đưa ra một dấu hiệu khả quan cho thấy rằng đây
là một nghiệp vụ giàu tiềm năng phát triển trên thị trường Việt Nam nói chung
và thị trường Hà Nội nói riêng.
Trước tiên là về số đơn bảo hiểm khai thác được:
- Năm 1999, Bảo Việt Hà Nội mới chỉ nhận bảo hiểm cho 42 đơn vị thì đến
năm 2001 số đơn vị tham gia bảo hiểm đã tăng lên con số 70.
- Năm 2003 số đơn bảo hiểm khai thác được đã tăng lên gấp hơn 2 lần so
với năm 1999 lên 102 đơn
Thực tế là từ khi triển khai tới nay, hầu như chỉ có các doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài hay một số ít các doanh nghiệp
lớn chuyên kinh doanh khách sạn nhà hàng lớn tham gia nghiệp vụ bảo hiểm
này nhưng còn chưa nhiều. Phần lớn các doanh nghiệp, cơ quan khác chỉ tham
gia bảo hiểm cháy.
Như năm 1999 số đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt khai thác được là

382 đơn trong khi số đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khai thác được chỉ
khiêm tốn với con số 42 đơn.
Hay như năm 2003 được đánh giá là năm có số hợp đồng khai thác được
cao nhất thì cũng chỉ dừng lại ở con số 102 hợp đồng trong khi số hợp đồng bảo
hiểm cháy và rủi ro đặc biệt khai thác được là hợp đồng . Số hợp đồng bảo hiểm
gián đoạn kinh doanh sau cháy chỉ chiếm chưa tới 20% trong tổng số hợp đồng
bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt khai thác được.
Tuy số đơn bảo hiểm năm sau luôn cao hơn năm trước song chưa nhiều, có
thể nói nghiệp vụ này ngày càng phát triển. Song đây là nghiệp vụ bảo hiểm
mới, số đơn khai thác được chưa nhiều nên khó có thể đưa ra một kết luận chính
xác.
Về số tiền bảo hiểm, qua số liệu bảng 2 ta thấy số tiền bảo hiểm của
nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy cũng tăng lên, phản ánh
đúng với số tăng lên của các đơn vị tham gia bảo hiểm. Cụ thể:
- Năm 1999 số tiền bảo hiểm là 336.700 triệu thì năm 2000 số tiền bảo
hiểm là 433.300 triệu đồng tăng lên so với năm 1999 là 96.600 triệu đồng với
tốc độ tăng là 18,16% .
- Năm 2001 số tiền bảo hiểm là 549.867 triệu đồng tăng lên so với năm
2000 là 116.567 triệu đồng với tỷ lệ là 126,9 %.
- Năm 2003 là năm có số tiền bảo hiểm tăng mạnh nhất lên tới 801.265
triệu đồng tăng so với 2002 là 164.989 với tỷ lệ tăng là 125,9%.
Tuy nhiên, chỉ tiêu số tiền bảo hiểm bình quân / một hợp đồng lại có xu
hướng giảm nhẹ, điều này chứng tỏ công ty chưa khai thác được những hợp
đồng bảo hiểm có giá trị lớn. Đây là một hạn chế mà công ty cần khắc phục.
Về doanh thu phí bảo hiểm: Do số đơn vị tham gia bảo hiểm và số tiền bảo
hiểm của nghiệp vụ tăng, tất yếu kéo theo sự tăng lên của doanh thu phí. Doanh
thu phí bảo hiểm ngày càng tăng qua các năm đây là một xu hướng phát triển
tốt.
Năm 1999 doanh thu của nghiệp vụ này mới chỉ là 505 triệu thì tới năm
2000 doanh thu phí tăng lên của nghiệp vụ này tăng lên là 650 triệu tăng so với

năm 1999 là 145 triệu với tốc độ tăng tương ứng là 28,7% .
Năm 2003, doanh thu phí bảo hiểm nghiệp vụ tăng mạnh lên con số 1.224
triệu tăng so với năm 2002 là 272 triệu tương ứng với tốc độ tăng 28,8 % , năm
2003 được đánh giá là năm có doanh thu phí, số hợp đồng là cao nhất. Nguyên
nhân của điều này phần nhiều là do số lượng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
vào Việt Nam ngày càng tăng, họ vốn đã quen với tập quán tham gia bảo hiểm
nên khi vào Việt Nam triển khai hoạt động kinh doanh họ rất mong muốn được
bảo hiểm cho rủi ro gián đoạn kinh doanh. Do đó khi tham gia bảo hiểm cháy,
họ đã yêu cầu Bảo Việt Hà Nội bán kèm cho họ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

×