Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

skkn nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học môn sinh học 8

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (119.91 KB, 19 trang )

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại ngày nay, giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước
chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của
người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến
chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học.
Sinh học là mơn khoa học thực nghiệm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh
tiến hành các thí nghiệm, thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên để phát
hiện nội dung kiến thức giúp hình thành và phát triển năng lực cho học sinh.
Để giúp học sinh làm được điều này trong q trình dạy học nói chung, cụ
thể là dạy sinh học nói riêng khơng chỉ là q trình truyền thụ kiến thức, cung
cấp thơng tin, “rót” kiến thức vào học sinh mà chủ yếu là quá trình giáo viên
thiết kế, tổ chức, điều khiển các hoạt động nhận thức tích cực của học sinh.
Học sinh không chỉ tiếp nhận một cách thụ động những tri thức sinh học có
sẵn mà chủ yếu là quá trình học sinh tự học, tự nhận thức, tự khám phá, tìm
tịi các tri thức sinh học một cách chủ động, tích cực dưới sự hướng dẫn, chỉ
đạo của giáo viên.
Để thực hiện được điều này địi hỏi người giáo viên khơng chỉ có năng lực
tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp, mà còn phải biết lựa chọn và sử
dụng các đồ dùng dạy học một cách hợp lí, khoa học, tạo cơ hội cho học sinh
tiếp cận, gần gũi với đồ dùng, giúp học sinh tích cực tư duy, phát hiện kiến
thức và có khả năng vận dụng kiến thức phù hợp với các tình huống của thực
tiễn của cuộc sống. Chính vì những lí do đó mà tơi đã mạnh dạn nghiên cứu
đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùng dạy học mơn Sinh học”

1.2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục đích của đề tài

1



- Giúp giáo viên hiểu và nắm vững phương pháp sử dụng đồ dạy học một
cách có hiệu quả.
- Coi đề tài là một tài liệu để nghiên cứu và tham khảo cho đồng nghiệp.
- Giúp giáo viên có những kinh nghiệm trong việc sử dụng đồ dùng dạy
học đạt hiệu quả và tiết kiệm được thời gian.
- Hướng dẫn học sinh tính độc lập làm việc với đồ dùng dưới sự hướng
dẫn của giáo viên để phát hiện kiến thức.
1.2.2. Nhiệm vụ của đề tài
- Xây dựng phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học đạt hiệu quả cao nhất.
- Hướng dẫn học sinh cách lĩnh hội kiến thức từ đồ dùng dạy học, từ đó
phát huy và nâng cao khả năng tư duy trừu tượng, khả năng phân tích và năng
lực vận dụng kiến thức của học sinh.
1.3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA
ĐỀ TÀI
1.3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: là những học sinh của trường
THCS Phổ Vinh năm học 2014 – 2015.
1.3.2. Phạm vi áp dụng của sáng kiến: được áp dụng trong học sinh lớp
8B, C của Trường THCS Phổ Vinh
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp: Quan sát, mơ tả, thí nghiệm, thực nghiệm.
Ngồi ra, tơi cịn sử dụng kết hợp các phương pháp như trò chuyện, phỏng
vấn học sinh, giáo viên, điều tra, quan sát thực tiễn.

2


PHẦN 2
GIẢI QUYẾT VẦN ĐỀ
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số

16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học
sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện
từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Quán triệt Nghị quyết 29-NQ/TW và Nghị quyết 44/NQ-CP
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và
học.
- Phát huy vai trị của cơng nghệ thơng tin và các thành tựu khoa họccông nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo.
- Từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công
nghệ thông tin.
2.2. THỰC TRẠNG BAN ĐẦU CỦA VẤN ĐỀ.
2.2.1. Thực trạng của việc dạy học của bộ môn Sinh học
- Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn Sinh học ở cấp THCS tơi có những
nhận thức như sau:
Mặc dù học sinh đã dần phát huy tính sinh động đối với bộ mơn Sinh học,
tuy nhiên tính tích cực chưa được thể hiện đồng bộ đối với học sinh. Chứng tỏ
do việc học bài và chuẩn bị bài ở nhà của học sinh chưa chu đáo, khi trả lời
câu hỏi cịn dựa vào tóm tắt sách giáo khoa. Hoạt động thảo luận nhóm chưa
bảo đảm tính trật tự, nghiêm túc, các thành viên trong nhóm chưa thật sự cùng
3


nhau bàn bạc mà còn dựa dẫm vào học sinh khá, giỏi, nhìn chung chưa phát
huy được tính hoạt động tập thể.
- Những tồn tại trên được lý giải như sau:
Về ý thức: hiện nay còn một số học sinh có động cơ, thái độ học tập chưa
tốt. Địa bàn nơi trường đóng thuộc vùng nơng thơn, mặt bằng dân trí chưa
đồng đều, đời sống người dân cịn nhiều khó khăn, cha mẹ thường đi làm ăn

xa nên ít quan tâm đến việc học của con cái.
Về đội ngũ giáo viên: một số giáo viên còn thiếu kinh nghiệm trong việc
sử dụng đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo dành cho giáo viên còn thiếu,
việc bồi dưỡng, tiếp thu chun đề cịn hạn chế.
Ngồi ra việc kiểm tra đánh giá hoạt động học tập của học sinh, thực hiện
chưa thật đều tay, chưa thật nghiêm túc, cũng ảnh hưởng đến thái độ và động
cơ học tập của học sinh.
Vì vậy, việc áp dụng đề tài này nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học theo hướng tích cực hóa.
2.2.2. Kết quả việc kiểm tra khảo sát
Bảng 2.1. Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm, năm học 2014 - 2015
Lớp
8B
8C

SS
29
27

Giỏi
SL
%
6 20,7
3
11,1

Khá
SL
%
14 48,3

14 51,9

TB
SL
7
8

%
24,1
29,6

Yếu
SL %
2
6,9
2
7,4

Kém
SL
%
/
/

Bảng 2.2. Chỉ tiêu phấn đấu cuối năm học 2014 - 2015
Lớp
8B
8C

SS

29
27

Giỏi
SL %
8 27,6
5 18,5

Khá
SL %
17 58,6
15 55,6

TB
SL
3
6

2.3. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
4

%
10,3
22,2

Yếu
SL %
1
3,5
1

3,7

Kém
SL
%
/
/


2.3.1. Các yêu cầu giáo dục cần đạt khi sử dụng đồ dùng dạy học
Sử dụng đồ dùng dạy học phải đạt các giá trị giáo dục như sau:
+ Thúc đẩy sự giao tiếp, trao đổi thơng tin, do đó giúp học sinh học tập có
hiệu quả.
+ Giúp học sinh tăng cường trí nhớ, làm cho việc học tập lâu bền.
+ Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến thực tiễn
xã hội và môi trường sống.
+ Giúp khắc phục những hạn chế của lớp học bằng cách biến cái khơng thể
tiếp cận được thành cái có thể tiếp cận được. Khi sử dụng phim ảnh mô phỏng
và các phương tiện tương tự.
+ Cung cấp kiến thức chung, qua đó học sinh có thể phát triển các hoạt
động học tập khác.
+ Giúp phát triển mối quan tâm về các lĩnh vực học tập khác và khuyến
khích học sinh tham gia chủ động vào quá trình học tập.
2.3.2. Xây dựng kế hoạch sử dụng đồ dùng dạy học trong giảng dạy
2.3.2.1. Đối với học sinh
- Ở nhà cần chuẩn bị bài ở nhà chu đáo: sau khi học bài cũ và làm bài tập
xong, HS cần chuẩn bị bài mới theo các yêu cầu chung như:
+ Nghiên cứu sách giáo khoa, tài liêu tham khảo có liên quan đến nội
dung kiến thức bài mới
+ Dự kiến trả lời các câu hỏi có ở các lệnh trong bài

+ Với các bài học có đồ dùng dạy học như: trang ảnh, mẫu vật, thí
nghiệm… học sinh cần tự tìm hiểu ở nhà, ghi lại những khó khăn vướng mắc,
để trao đổi với các bạn hay thầy cô giáo trong quá trình học tập
- Ở lớp cần tập trung theo dõi nhiệm vụ của giáo viên giao, tự tìm cách giải
quyết nhiệm vụ hoặc trao đổi với các bạn, giáo viên tìm cách giải quyết nhiệm
vụ được giao…, tham gia trao đổi, thảo luận cùng các bạn để phát hiện và
nắm vững các nội dung kiến thức.
5


2.3.2.2. Đối với bộ phận phụ trách thiết bị
* Cách sắp xếp đồ dùng dạy học
- Đồ dùng dạy học ở trong phòng thiết bị phải được sắp xếp theo từng khối,
từng mơn, từng học kì để thuận lợi cho việc mượn và trả.
- Phải xếp các loại đồ dùng dạy học theo thực tế về khơng gian của phịng
thiết bị:
+ Giá treo bản đồ, bảng phụ và các tranh ảnh nên để ở nơi gần cửa ra vào.
+ Các thiết bị thí nghiệm phải để phía trong để dễ bảo quản.
+ Các loại hóa chất phải bỏ vào tủ và đậy kín lại nhằm tránh sự độc hại
cho con người.
- Phải bố trí nơi cho giáo viên chuẩn bị đồ dùng dạy học trước khi lên lớp:
nơi có khơng gian rộng rãi, thoáng mát.
* Bộ phận phụ trách thiết bị:
- Xây dựng nội quy hoạt động của phòng thiết bị và thiết lập các loại hồ sơ
quản lí thiết bị: sổ danh mục, sổ theo dõi việc sử dụng đồ dùng dạy học của
giáo viên (có kí mượn, kí trả và xem xét tình trạng của đồ dùng dạy học)
- Thường xuyên tham mưu với BGH về việc mua sắm bổ sung những thiết
bị hư hỏng trong quá trình sử dụng.
- Mua sắm kịp thời những đồ dùng cần thiết như: khay nhựa, nẹp, dây treo,
khăn lau,…

- Đầu tư đầy đủ bảng phụ: cho học sinh, cho giáo viên, băng, đĩa …
- Sắp xếp đồ dùng dạy học của mơn trong phịng thiết bị một cách khoa học
hợp lí, dễ lấy, dễ trả.
- Khuyến khích giáo viên tự làm đồ dùng dạy học và đề nghị BGH khen
thưởng kịp thời những cá nhân có thành tích, đồng thời phê bình những cá
nhân ít sử dụng đồ dùng dạy học.
- Cần phải nắm bắt cách sử dụng một số bộ thí nghiệm thực hành khó để
hướng dẫn cho một số giáo viên có kĩ năng thực hành cịn hạn chế.
6


2.3.2.3. Đối với giáo viên
- Phải xây dựng kế hoạch chi tiết cho việc sử dụng các loại đồ dùng dạy
học
cho cả năm học, từng tuần dạy và gửi kế hoạch này đến bộ phận phụ trách
thiết bị. Để thuận lợi cho việc sắp xếp trong phòng thiết bị và thuận lợi cho
việc mượn trả.
- Hàng tháng các tổ phải cử giáo viên sắp xếp lại các đồ dùng dạy học: cất
bớt những đồ dùng dạy học đã sử dụng và trưng bày những đồ dùng sắp sử
dụng.
- Phải có ý thức bảo quản các loại đồ dùng dạy học đồng thời phải tăng
cường việc tự làm đồ dùng dạy học đơn giản như: vẽ tranh, tạo các mơ hình,
những thí nghiệm.
2.3.3. Phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học trong giảng dạy
Đồ dùng dạy học là phương tiện chuyển tải thông tin, điều khiển mọi hoạt
động nhận thức của học sinh từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tiến hành các hoạt động dưới sự hướng
dẫn của giáo viên để phát hiện nội dung kiến thức giúp hình thành và phát
triển năng lực cho học sinh.
Tùy theo nội dung kiến thức, loại đồ dùng và hình thức tổ chức dạy học mà

ta sử dụng các phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, trong q trình dạy học,
các đồ dùng có thể được sử dụng theo các phương pháp sau:
- Có thể dùng phương pháp: quan sát + hoạt động nhóm; quan sát + vấn
đáp; …để phát hiện nội dung kiến thức từ các đồ dùng.
- Hoạt động cá nhân hay nhóm, tiến hành các thí nghiệm để phát hiện ra nội
dung kiến thức…
- Đối với mẫu vật quá nhỏ có kích thước hiển vi, ngồi việc tổ chức cho
học sinh: tự làm tiêu bản để quan sát mẫu vật dưới kính hiển vi; quan sát mẫu
vật dưới kính hiển vi (những tiêu bản có sẵn), nếu có điều kiện dùng máy
7


chiếu hiển vi để tăng độ phóng đại, tạo điều kiện cho cả lớp có thể quan sát
cùng một lúc.
- Khi học sinh tự mình nghiên cứu, tìm hiểu, phát hiện nội dung kiến thức
sẽ giúp các em hiểu bài tốt, ghi nhớ lâu, và vận dụng tốt các kiến thức đã học
vào thực tế cuộc sống
2.3.4. Áp dụng cụ thể việc sử dụng đồ dùng dạy học vào bộ mơn Sinh
học
Để phát huy tính năng động năng lực tự học của học sinh, người giáo viên
đứng trên bục giảng phải có phương pháp và nghệ thuật giảng dạy phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lí và lứa tuổi học sinh đặc biệt là phải thật sự hấp dẫn,
lôi cuốn học sinh bằng nhiều hình thức tổ chức khác nhau, chúng ta không thể
giả thuyết ngay vào đầu học sinh mà phải đưa vấn đề vào tình huống, đi từ
gần đến xa, từ dễ đến khó, từ trực quan sinh động đến từ tư duy trừu tượng.
Đây chính là yếu tố quan trọng nhằm giúp học sinh phát hiện ra các tình
huống có vấn đề và nảy sinh nhu cầu giải quyết các vấn đề mới phát hiện ra.
Để thực hiện được điều này, đồ dùng dạy học không thể thiếu đối với người
thầy trên lớp và đối với học sinh khi nghiên cứu vấn đề. Vì thế đồ dùng dạy
học chính là điều kiện, phương tiện để dạy và học. Khi sử dụng các đồ dùng

dạy học, nhất là các hiện tượng và mẫu vật sống thường có giá trị rất lớn
trong cơng tác giảng dạy, nói chung là rất sinh động làm hứng thú việc học tập
của học sinh, vì ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở nhất là đối với các em đầu
cấp rất thích thú tìm tịi học hỏi, khi nhận biết vấn đề gì đó lúc nào cũng muốn
rằng chính tận mắt mình chứng kiến sự vật, hiện tượng xảy ra.
Đồ dùng dạy học mơn Sinh học là những hình tượng, dụng cụ mà học sinh
có thể nhìn thấy được, rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau, đồ dùng
dạy học có thể được dùng ở nhiều giai đoạn khác nhau trong tiết học, chủ yếu
phải trình bày hợp lí nội dung muốn truyền đạt cho học sinh và đòi hỏi sự thu
hút được đối tượng cần truyền đạt. Vì vậy đồ dùng dạy học có rất nhiều loại
được thể hiện qua từng loại đồ dùng dạy học như sau:
8


2.3.4.1. Mẫu vật tự nhiên
Các mẫu vật tự nhiên dùng trong dạy học thường đảm bảo các yêu cầu sau:
- Mẫu vật được mang đến lớp phải đảm bảo tính khoa học, sự phạm, phù
hợp với nội dung kiến thức cần hình thành cho học sinh
- Mẫu động vật sống có vận động di chuyển, cịn hơ hấp hoặc cịn nguyên
vẹn các bộ phận chi tiết.
- Mẫu thực vật phải tươi, đủ rễ, thân, lá … đủ các yếu tố phục vụ cho nội
dung của bài học.
Loại đồ dùng dạy học này có giá trị sư phạm cao nhất, nó đảm bảo hình
dạng, kích thước, màu sắc tự nhiên. Trong thực tế khơng phải bao giờ cũng có
mẫu vật sống, tươi. Có thể sử dụng các mẫu vật ngâm, ép … tuy các mẫu vật
này khơng có giá trị bằng các mẫu vật tươi sống, không giữ được các màu sắc
tự nhiên, song đây vẫn là mẫu vật thật.
Ví dụ 1: Bài 9 – Sinh học 6: Các loại rễ, các miền của rễ (các loại rễ) GV
yêu cầu HS:
- Gấp hết sách, vở lại, tập trung hết các rễ của các cây được mang đến lớp

lại theo đơn vị nhóm, hoạt động nhóm quan sát các loại rễ trong nhóm và
phân chia chúng theo ý tưởng của mình và giải thích tại sao mình phân chia
như vậy?
- Quan sát hình 9.1 trong SGK, kiểm tra và phân chia lại các loại các loại rễ
theo hình vẽ, giải thích cách phân chia của mình
- Hồn thành bài tập điền từ trang 29SGK
- Qua đó, học sinh có thể vận dụng kiến thức vào thực tế tự xác định được
rễ của các loại cây bất kì thuộc nhóm rễ nào.
Ví dụ 2: Bài 17 – Sinh học 8: Tim và mạch máu (cấu tạo tim), giáo viên
yêu cầu học sinh hoạt động nhóm:
- Quan sát quả tim lợn nêu hình dạng cấu tạo ngoài của tim
- Dùng dao bổ quả tim lợn làm 2, quan sát cấu tạo trong, xác định: tâm thất;
9


tâm nhĩ, van tim, các ngăn tim thông với từng loại mạch nào?... (chú ý độ dày
thành cơ các ngăn tim), thảo luận nhóm giải thích sự khác nhau đó.
- Từ đó HS có thể nêu được cấu tạo tim người và hồn thành bài tập trang
54 SGK
Ví dụ 3: Bài 5 – Sinh 8: Thực hành: Quan sát tế bào và mơ, GV chia lớp
thành 2 nhóm hoạt động như sau:
- Nhóm thứ nhất gồm các tổ 1, 2 tiến hành làm tiêu bản tế bào mô cơ vân
để quan sát dưới kính hiển vi
- Nhóm thứ 2 gồm các tổ 3, 4 tiến hành quan sát dưới kính hiển vi các tế
bào của mơ biểu bì, mơ sụn, mơ xương, mơ cơ trơn, mơ cơ vân.
- Sau đó đổi lại, nhóm thứ 2 làm tiêu bản, nhóm thứ nhất quan sát. Giúp
học sinh quan sát được cấu tạo của tế bào, mô động vật đồng thời làm được
các tiêu bản để quan sát dưới kính hiển vi
2.3.4.2. Mơ hình
Trong dạy học sinh học, mơ hình thường có các tác dụng dùng để thay thế

hay bổ sung các mẫu vật tự nhiên trong các trường hợp như:
- Đôi khi khơng có sẵn hoặc khơng thể mang mẫu vật thật đến lớp được
- Trong một số trường hợp kiến thức là các cơ chế sinh lí xảy ra bên trong
cơ thể sinh vật (kiến thức trừu tượng), học sinh không thể quan sát mẫu vật
được, giáo viên có thể sử dụng mơ hình để giúp các em hình dung, phát hiện
kiến thức.
- Mơ hình có tác dụng phản ảnh được cấu tạo, khái quát và hình dung được
rõ ràng các cấu trúc khơng gian, so với kích thước của mẫu vật thật, sẽ khắc
sâu được kiến thức cho các em.
Ví dụ 4: Bài 7 – Sinh học 8: Bộ xương
Khi dạy các phần chính của bộ xương người giáo viên dùng mơ hình bộ
xương người, hướng dẫn các em quan sát, thao tác với mơ hình để tìm hiểu
các phần chính của bộ xương người, các loại xương trong mỗi phần.
10


Giáo viên yêu cầu một học sinh tổng kết lại nội dung kiến thức bằng cách
xác định trên mơ hình. HS khác nhận xét bổ sung, giáo viên nhận xét, tiểu kết.
Lúc đó học sinh sẽ nắm và xác định được các thành phần chính của bộ xương
trên cơ thể mình và cấu tạo của mỗi phần.
2.3.4.3. Tranh vẽ, hình ảnh, phim chiếu
Trong những trường hợp mơ hình khơng cho phép đi sâu cấu tạo chi tiết
của sinh vật, thì tranh vẽ, hình vẽ, phim chiếu chiếm ưu thế hơn, cho phép đi
sâu vào các chi tiết cần thiết, giúp cho học sinh có thể hiểu sâu sắc hơn về cấu
tạo bên trong của đối tượng đang nghiên cứu, ngoài ra nó cịn thay thế mẫu
vật thật mà khơng thể tìm kiếm.
Ví dụ 5: Đối với cấu tạo và kích thước của tế bào, sự lớn lên và phân chia
của tế bào, cấu tạo miền hút của rễ, các dạng rễ, các dạng thân. Đối với các
loại mô của động vật, các cơ quan, các hệ cơ quan… Muốn học sinh hiểu bài
được tốt thì giáo viên phải sử dụng hình ảnh, tranh vẽ hoặc phim chiếu cho

học sinh quan sát, đồng thời rèn luyện cho học sinh kĩ năng về mẫu vật thật
hoặc tranh vẽ giống thật thì rất tốt, đơi khi cũng có nhiều phức tạp, có những
chi tiết không cần thiết hay bài giảng không đề cập đến, cần được lượt bỏ, chỉ
tập trung vào cấu trúc và dấu hiệu cơ bản thì lúc này ta có thể sử dụng các
dụng cụ khác để kết hợp, đó là sơ đồ.
2.3.4.4. Sơ đồ
Sơ đồ được sử dụng khi trình bày các mối quan hệ giữa các hình tượng
trong q trình Sinh học. Ngồi ra sơ đồ cịn giúp cho học sinh có cái nhìn
khái qt, tư duy trừu tượng của học sinh phát triển hơn.
Ví dụ 6: Khi dạy mục II “Các nhân tố sinh thái” của bài “Môi trường và
các nhân tố sinh thái” (Bài 41)
Để xác định các nhân tố sinh thái, GV dùng một ví dụ thực tế “Môi trường
sống của cây hoa hồng ở trong chậu” để học sinh tìm hiểu và xác định các
nhân tố sinh thái.
11


• Cây hoa hồng sống trong chậu chịu tác dụng của những yếu tố
nào?
• Nhận xét đặc điểm và phân loại các nhân tố đó.

• Vẽ sơ đồ thể hiện sự tác động của các nhân tố sinh thái lên cây
hoa hồng
Học sinh: Trao đổi, thảo luận, liên hệ thực tế xác định các nhân tố sinh thái
tác động lên cây hoa hồng, nhận xét và phân loại các nhân tố, sau khi học
sinh phân loại được các nhân tố sẽ dễ dàng vẽ được sơ đồ.
Giáo viên là người hướng dẫn, cố vấn cho các em giúp các em hồn thành
nhiệm vụ.
Đất trong ch ậu
Nước và MK hịa tan

Nhân tố vô sinh

Lượng O2 trong đất
Ánh sáng, lượng CO2

Các nhân tố sinh thái
(tác động lên hoa hồng)

Giun trong đất
Nhân tố hữu sinh

Vi sinh vật phân giải
Sâu hoa hồng

Sơ đồ 2.3.4 . Các nhân tố sinh thái tác động lên cây hoa hồng
2.3.4.5. Hình vẽ của giáo viên trên bảng
Hình vẽ của giáo viên trên bảng có giá trị rất lớn, nhất là hình ảnh vẽ đẹp
và nhanh, nó giúp cho học sinh theo dõi một cách dễ dàng nội dung của bài
giảng khi giáo viên vừa nói vừa vẽ dần một cấu trúc, một sơ đồ nào đó.
Ví dụ 7: Khi dạy mục I “Tuần hoàn máu”, bài 16 sinh học 8 “Tuần hồn
máu và lưu thơng bạch huyết”
12


Sau khi cho học sinh trao đổi nhóm, tìm hiểu đường đi của máu trong hệ
tuần hoàn. Giáo viên yêu cầu học sinh trình bày đường đi của máu trong hệ
tuần hoàn. Giáo viên nhận xét bằng cách vừa hướng dẫn vừa vẽ lại đường đi
của máu trong hệ tuần hồn, hướng dẫn đến đâu, giáo viên vẽ đến đó, giúp
học sinh theo dõi và so sánh với kết quả các em và sữa chữa sai sót nếu có. Từ
đó giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét, tiểu kết theo hình vẽ của giáo viên

2.3.4.6. Các đồ dùng tự làm của giáo viên
Trong thực tế dạy học, không phải tiết học nào cũng được cung cấp đầy đủ
các đồ dùng dạy học như mang muốn của giáo viên. Trong những trường hợp
này giáo viên cần phải tự làm các đồ dùng dạy học để phục vụ các tiết dạy của
mình sao cho đạt hiệu quả dạy học là cao nhất.
Ví dụ 8: Khi dạy phần II, mục 1 “Hình thành phản xạ có điều kiện” trong
bài 52 “Phản xạ khơng điều kiện và phản xạ có điều kiện”. Giáo viên sử dụng
đồ dùng dạy học tự làm “mơ hình thí nghiệm thành lập phản xạ có điều kiện
tiết nước bọt ở chó khi có ánh đèn”
Giáo viên nêu tình huống giúp học sinh tư duy, trong thực tế ở các trang
trại nuôi cá hoặc nuôi gà khi cho ăn người chủ chỉ cần gõ kẻng để cá (gà) đến
ăn. Người chủ làm như vậy là dựa trên cơ sở nào? Qua thí nghệm này chúng
ta giải thích được hiện tượng đó. Bất kì động vật nào chúng cũng tạo được 1
thói quen như vậy, phần này chúng ta nghiên cứu ở chó.
-

Giáo viên biểu diễn thí nghiệm cho học sinh quan sát
+ Bật đèn chó quay về phía ánh sáng, cho chó ăn chó tiết nước bọt
+ Kết hợp bật đèn và cho chó ăn nhiều lần, sau đó chỉ cần bạt đèn chó

cũng tiết nước bọt.
- GV yêu cầu HS nêu hiện tượng quan sát được. Thảo luận nhóm giải thích
hiện tượng? Giải thích tại sao chỉ cần bật đèn mà khơng cho chó ăn chó cũng
tiết nước bọt?
- GV dùng mơ hình thí nghiệm để giải thích cho học sinh
13


+ Khi bật đèn tế bào thụ cảm thị giác nhận kích thích phát xung thần kinh
hướng tâm (giáo viên bật luồng thần kinh) theo dây thần kinh thị giác về vùng

thị giác ở vỏ đại não làm vùng thị giác hưng phấn, tại vùng thị giác sẽ phát
xung thần kinh đến tiểu não (giáo viên bật luồng thần kinh), tại tiểu não sẽ
phát xung thần kinh đến bắp cơ ở cổ làm chó qy về phía có ánh sáng.
+ Khi cho chó ăn tế bào thụ cảm vị giác ở lưỡi tiếp nhận kích thích sẽ phát
xung thần kinh từ lưỡi về trung khu tiết nước bọt ở trụ não (giáo viên bật
luồng thần kinh). Tại trụ não sẽ phát sinh luồng thần kinh (giáo viên bật luồng
thần kinh) đến tuyến nước bọt tiết ra nước bọt (giáo viên cho chó tiết nước
bọt), đồng thời tại tiểu não sẽ phát sinh luồng thần kinh đến vùng ăn uống ở
đại não làm vùng ăn uống hưng phấn (giáo viên bật luồng thần kinh).
+ Khi bật đèn và cho chó ăn thì vùng ăn uống và vùng thị giác cùng hưng
phấn và có sự khuếch tán hưng phấn đó trong não (giáo viên bật luồng thần
kinh)
+Tiến hành liên tục nhiều lần như vậy sẽ hình thành đường liên hệ tạm
thời (giáo viên bật luồng thần kinh)
+ Khi đường thần kinh liên hệ tạm thời đã được hình thành chỉ cần bật đèn
mà khơng cho chó ăn chó vẫn tiết nước bọt. (Giáo viên làm lại thí nghiệm bật
đèn chó tiết nước bọt và giải thích trên mơ hình)
- Giáo viên u cầu học sinh rút ra kết luận.
- Giáo viên kết luận kết hợp bấm đèn
Khi bật đèn mà không cho chó ăn chó vẫn tiết nước bọt là do: khi mắt tiếp
nhận kích thích sẽ truyền theo dây thần kinh thị giác đến vùng thị giác và
luồng thần kinh này sẽ theo đường liên hệ tạm thời đến vùng ăn uống ở đại
não đến trung khu tiết nước bọt ở trụ não làm xuất hiện luồng thần kinh đến
tuyến nước bọt làm tuyến nước bọt tiết nước bọt.
Qua phần kiến thức đã hình thành giáo viên yêu cầu học sinh giải thích của
hiện tượng ban đầu nêu ra và yêu cầu học sinh thử thành lập 1 phản xạ có điều
14


kiện khác trên giấy

2.3.4.7. Ứng dụng công nghệ thông tin làm đồ dùng dạy học
Trong thời đại ngày nay, công nghệ thơng tin có vai trị quan trọng trong
q trình dạy học nếu như chúng ta biết cách sử dụng hợp lí. Một trong những
vai trị đó là sử dụng công nghệ thông tin làm đồ dùng đồ dùng dạy học.
Đơi khi trong một tiết dạy có nhiều đồ dùng cùng loại hay khác loại, mà
thiết bị dạy học được cấp phát không đáp ứng được, để tiện trong quá trình
dạy học: tiết kiệm thời gian, chi phí làm đồ dùng; dễ vận chuyển, di chuyển
trong quá trình dạy học. Đặc biệt khi sử dụng cơng nghệ thơng tin có thể tạo
ra các thí nghiệm ảo, các q trình sinh lí diễn ra trong cơ thể sinh vật giúp
học sinh hiểu bài tốt hơn.
Ví dụ 9: Khi dạy phần I “Tạo thành nước tiểu” – Bài 39, sinh học 8: “Bài
tiết nước tiểu”
-

GV yêu cầu học sinh nghiên cứu thông tin mục I tạo thành nước tiểu +

quan sát hình vẽ 39.1 trang 126 SGK tìm hiểu sự tạo thành nước tiểu, trả lời
câu hỏi phần bài tập I
-

GV sử dụng giáo án powerpoint cho học sinh quan sát tranh Hình 39.1

SGK yêu cầu học sinh trình bày sự tạo thành nước tiểu trong cơ thể người
-

GV sử dụng giáo án powerpoint cho học sinh quan sát tranh động 3 quá

trình tạo thành nước tiểu ở các đơn vị chức năng thận giúp học sinh đối chiếu
với kết quả tìm hiểu của mình (sửa sai nếu có) giúp học sinh hiểu rõ và khắc
sâu kiến thức.

2.4. HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Bản thân đã áp dụng SKKN này trong quá trình giảng dạy cho học sinh
trong những năm học 2014 – 2015. Trong q trình giảng dạy tơi nhận thấy:
khi sử dụng đồ dùng dạy học vào giảng dạy đã lôi cuốn được nhiều đối tượng
học sinh tham gia, các em dễ hiểu bài, nắm được nội dung kiến thức

15


Đồ dùng dạy học giúp cụ thể hóa những cái quá trừu tượng, giúp trừu
tượng hóa và đơn giản hóa những vấn đề cần nghiên cứu, từ đó giúp học sinh
thu nhận thông tin về các sự vật, hiện tượng một cách sinh động, đầy đủ,
chính xác. Trong tiết học có sử dụng đầy đủ đồ dùng dạy học thì tiết học đó
rất sinh động, nhất là các hoạt động của học sinh, dẫn đến nội dung học tập
phong phú, nâng cao hứng thú học tập môn học, nâng cao lòng tin của học
sinh vào khoa học, giúp học sinh yêu quý thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên,
đặc biệt là đối với giới thực vật.
Sau khi áp dụng đề tài này tôi đã thu được những kết quả khả quan:
- Khi chưa áp dụng: số học sinh nắm bắt kiến thức một cách hời hợt, thụ
động, không hiểu bản chất về vấn đề, khơng giải thích được hiện tượng xảy
ra.
- Khi áp dụng: hầu hết các em được kích thích hứng thú học tập, chủ động
tham gia thảo luận và giải thích một cách sâu sắc các kiến thức
* Kết quả đạt được cuối năm học 2014 – 2015
Giỏi
SL
%

Lớp


Sỉ số

8B

29

9

31,0

8C

27

6

22,2

Khá
SL
%
58,
17
6
59,
16
3

16


T.Bình
SL %
3
5

10,4
18,
5

Yếu
SL
%

Kém
SL %

/

/

/

/


PHẦN 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. KẾT LUẬN
Phương pháp này tơi đã áp dụng trong giảng dạy, qua q trình giảng dạy

nhận thấy học sinh lĩnh hội kiến thức tốt hơn, giúp học sinh hiểu và giải bài
tập một cách thành thạo, rèn cho học sinh tính chủ động, tính tích cực, phát
huy được tính tư duy và óc sáng tạo của học sinh, đặc biệt là kĩ năng quan sát,
kĩ năng tư duy ( phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có
độ tin cậy ), giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trong mỗi tiết dạy, đồng
thời giáo viên chủ động điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh một
cách tích cực, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách thuận
lợi và có hiệu quả.
Với sáng kiến kinh nghiệm này, tơi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc
giúp giáo viên và học sinh trường chúng tơi nói riêng, các đồng nghiệp và học
sinh các trường bạn nói chung khắc phục dần khó khăn, thực hiện việc giảng
dạy đạt hiệu quả tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu suất lao động của thầy và
trò trong sự nghiệp phát triển giáo dục như hiện nay. Về phía bản thân, tôi xin
hứa sẽ tiếp tục thừa kế và phát huy những kết quả đã đạt được của việc thực
hiện đề tài, đồng thời không ngừng học hỏi rút kinh nghiệm, khắc phục những
khó khăn trong giảng dạy để đáp ứng yêu cầu đổi mới ngành.
Trong quá trình nghiên cứu và biên soạn đề tài, tất nhiên tôi không thể
tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong sự góp ý chân thành của q
thầy cơ, đồng nghiệp để đề tài của tơi được hồn thiện hơn.
3.2. KIẾN NGHỊ
GV giảng dạy đóng vai trị rất lớn trong việc hình thành tri thức và phát
triển năng lực cho học sinh để q trình dạy học đạt kết quả cao kính mong
17


các cấp quản lí có thẩm quyền:
- Tăng cường tổ chức các buổi sinh hoạt, hội thảo chuyên đề tạo điều kiện
cho giáo viên trao đổi và học hỏi kinh nghiệm để thực hiện nhiệm vụ tốt hơn.
- Để có được kết quả cao trong việc dạy và học, địa phương, nhà trường
cần có sự quan tâm hơn nữa về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng

dạy để thuận tiện trong việc dạy - học của giáo viên và học sinh.
Các loại đồ dùng dạy học kể trên có tác dụng khác nhau, mong rằng giáo
viên bố trí thời gian và lựa chọn sao cho phù hợp với nội dung của bài để bài
giảng hợp logic và khoa học hơn.
Trên đây là những ý kiến và kinh nghiệm của tơi trong q trình giảng dạy
bộ mơn Sinh học. Tơi rất mong nhận được sự góp ý q báu của Hội đồng xét
duyệt SKKN cùng các đồng nghiệp.
Tuy nhiên, vẫn sẽ cịn nhiều thiếu sót tơi chưa nhận thấy, tôi chân thành
mong nhận đựơc nhiều chia sẻ từ đồng nghiệp để tơi có thể trau dồi thêm vốn
kinh nghiệm và tầm hiểu biết của mình.
Xin trân trọng cám ơn Hội đồng và các bạn đồng nghiệp đã dành thời gian
để đọc bài viết này của tôi!
Người viết

Nguyễn Thị Nhị

18


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nhà xuất bản giáo dục (2003), Sách giáo khoa sinh học 6
2. Nhà xuất bản giáo dục (2003), Sách giáo khoa sinh học 8
3. Nhà xuất bản giáo dục (2003), Sách giáo khoa sinh học 9
4. Nhà xuất bản giáo dục (2007), Sách giáo viên sinh học 6
5. Nhà xuất bản giáo dục (2007), Sách giáo viên sinh học 8
6. Nhà xuất bản giáo dục (2009), Sách giáo viên sinh học 9
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bồi dưỡng giáo dục thường xuyên
THCS chu kì III
8. GS.Nguyễn Văn Lê (1997), Phương pháp luận Nghiên Cứu

Khoa Học, Nhà xuất bản trẻ
9. Trần Quý Thắng – Phan Thanh Hiền(2008), Một số vấn đề đổi
mới phương pháp dạy học môn sinh học, nhà xuất bản giáo dục
10. Nguyễn Quang Vinh, Trần Dỗn Bách, Trần Bá Hồnh(1980),
Sách lí luận dạy học Sinh học (Tập I,II), Nhà xuất bản giáo dục
11. Nguyễn Quang Vinh (1984), Phương pháp dạy học Sinh học ở
trường phổ thông cơ sở ( tập II), Nhà xuất bản giáo dục
12. />
19



×