Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

baøi phaùt bieåu nhaân ngaøy kyû nieäm baøi phaùt bieåu nhaân ngaøy kyû nieäm ngaøy nhaø giaùo vn 20 11 1982 20 11 2007 trong ñeâm sinh hoaït caâu laïc boä kyû nieäm 25 naêm ngaøy ngvn kính thöa q

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (85.98 KB, 11 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span>BAØI PHAÙT BIEÅU NHAÂN NGAØY KYÛ NIEÄM NGAØY NHAØ GIAÙO VN (20- 11- 1982 _20- 11- 2007) (Trong đêm sinh hoạt câu lạc bộ kỷ niệm 25 năm ngày NGVN) Kính thưa quý vị đại biểu! Thưa các thầy cô giáo trong hội đồng sư phạm nhà trường! Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học tôn sư trọng đạo, vì thế nghề dạy học luôn được quý trọng đề cao. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng tôn vinh ngheà daïy hoïc laø moät ngheà cao quyù trong caùc ngheà cao quyù. Daïy hoïc khoâng chæ laø daïy chữ mà là dạy cho học trò đạo lý làm người dạy cái cốt lõi tinh hoa văn hoá của dân tộc để hoà nhập vào cuộc sống, đáp ứng cho nhu cầu mưu sinh đi vào hoạt động xã hội, do vậy nên nghề dạy học luôn gắn liền với bước đi thăng trầm của cuộc sống dân toäc. Trải qua 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, ngành giáo dục, nghề dạy học đã xây dựng nên những truyền thống tốt đẹp của mình. Một yếu tố truyền kỳ làm nên sức mạnh tinh thần, cùng dân tộc đi hết cuộc trường chinh vĩ đại góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, giữ vững độc lập dân tộc củng cố và chấn hưng văn hoá đáp ứng nhu cầu phát triển của từng giai đoạn lịch sử . Với ý nghĩa truyền thống và quý trọng đó, hôm nay trường THCS Nhơn Tân tổ chức kỷ niệm 25 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/ 11/ 1982 _ 20/ 11/ 2007. Xin thay mặt cho BGH tôi xin gởi đến các đồng chí đại biểu, các thầy giáo cô giáo lời chúc mừng sức khoẻ, hạnh phúc. Trong không khí thắm tình yêu thương trong đêm họp mặt có sự hiện diện tham gia đầy đủ các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền các cơ quan ban ngành đoàn thể địa phương thể hiện không những tinh thần trách nhiệm với sự nghiệp giáo dục địa phương mà cả những tình cảm quý mến ân cần của nhân dân địa phương lại nhắc nhở những thầy cô giáo trong ngành giáo dục của chúng tôi sự tận tuỵ, tinh thần trách nhiệm để đáp ứng lại lòng mong mỏi, niềm tin của nhân dân trong sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp trồng người. Kính thưa các đồng chí đại biểu, thưa quý thầy giáo cô giáo! Nền giáo dục của đất nước ta trong thời gian qua đã có nhiều khởi sắc, đạt được những thành tựu to lớn, đã hoà nhập với nền giáo dục tiến bộ của khu vực và thế giới. Đáp ứng được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân.

<span class='text_page_counter'>(2)</span> tài để xây dựng và phát triển đất nứơc. Song bên cạnh đó vẫn còn nhiều băn khoăn trăn trở, vẫn phải còn phấn đấu gian nan hơn nữa trong chặn đường phía trước để đáp phaùt trieån ngaøy caøng cao cuûa khoa hoïc coâng ngheä vaø phaùt trieån hieän nay. Trong những vấn đề xã hội bức xúc được xã hội quan tâm thì chất lượng giáo dục đào tạo vẫn là vấn đề được nhiều người chú ý. Như vậy giáo dục của Việt Nam đang ở đâu và đánh giá như thế nào cho đúng. Qua thông tin đại chúng tôi xin điểm lại những nét thành tựu chủ yếu như sau: Điểm lại lịch sử giáo dục phong kiến Việt Nam qua 9 thế kỷ qua là hệ thống giáo dục khoa cử, tuy đào tạo được những bậc hiền tài cho đất nước chống giặc ngoại xâm, giữ gìn độc lập dân tộc nhưng không gắn với khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc bắt đầu từ 1918 và thực hiện chính sách ngu dân. Năm 1941- 1942 toàn Việt Nam chỉ có 639.615 học sinh. Mà phổ thông chỉ có 3 trường. Số còn lại chủ yếu là sơ học hiếu lược (lớp 3) bán cấp Tiểu học. Cả Đông Dương ( Việt Nam, Lào, Campuchia) chỉ có 3 trường đại học với 582 sinh viên. Số người Việt Nam đi học thời đó chỉ chiếm 3% dân số, trong dân số 22 triệu dân, thật quá ít ỏi còn lại 97% là mù chữ. Năm 1945- 1946 sau cách mạng tháng Tám, nền giáo dục cách mạng ra đời. Tiếp quản và duy trì cải tạo theo tính chất “Dân tộc, khoa học, đại chúng”. Trong bối cảnh tình hình chính trị phức tạp, kinh tế kiệt quệ, tài chính ở con số “không”. Nền giáo dục cách mạng non trẻ đã vượt qua thử thách và đạt được những thành tựu đáng trân trọng đó là: - Hệ thống giáo dục dạy theo chương trình mới bằng Tiếng Việt. - Tổ chức nền bình dân học vụ. Sau 4 tháng đã xoá được mù chữ 1 triệu người. - Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp nền giáo dục phát triển mạnh mẽ ở các vùng tự do liên khu Việt Bắc, Liên khu 4, Liên khu 5. - Đến năm 1950, Việt Nam tiến hành cải cách giáo dục lần thứ nhất. Hệ thống giáo dục lúc bấy giờ như sau: Đối với bậc phổ thông Tiểu học 4 năm, THCS 3 năm, THPT 2 năm, tức là 9 năm. Giáo dục bình dân cho người lớn ở 3 cấp, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục cao đẳng và đại học. Trong lúc này đại học và cao đẳng chỉ có 3 trường là ĐH Y khoa, CĐ SP, CĐ Công chính. - Giải phóng thủ đô ngày 10/ 10/ 1954 mở thêm ĐH khoa học, ĐH Y dược, ĐH SP. - Tháng 5/ 1956 chính phủ thông qua cải cách giáo dục lần thứ 2. Năm 19561957 mở thêm hàng loạt trường ĐH, THCN, trường PT nâng lên hệ 10 năm..

<span class='text_page_counter'>(3)</span> - Công cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 diễn ra từ năm 1981 kéo dài đến năm 1990. Xây dựng hệ thông giáo dục quốc dân thống nhất cả nước tương đối hoàn chænh. Giaùo duïc phoå thoâng naøy leân heä 12 naêm (5+4+3) phaùt trieån giaùo duïc ÑH vaø sau ĐH, giáo dục sơ cấp, trung cấp chuyên nghiệp, giáo dục thường xuyên. Cũng trong giai đoạn này từ năm 1981- 1982 bắt đầu thay SGK cải cách lớp 1 đến năm học 19921993 đến lớp 12. - Năm 1995 giáo dục Việt Nam bắt đầu hoà nhập với cộng đồng quốc tế khi nước ta gia nhập Assian, bình thường hoá quan hệ Trung Quốc, bình thường hoá quan hệ với Mỹ. - Năm 1966 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII với hội nghị TW2 và tháng 5.1996 hoàn thiện quan điểm đổi mới GD phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đưa sự nghiệp đổi mới phát triển toàn diện từ GD mầm non đến sau đại học, chính qui, khoâng chính qui, coâng laäp, baùn coâng, tö thuïc. - Naêm 1998 ban haønh luaät GD . -Năm 2000 nước ta cơ bản thanh toán nạn mù chữ và phổ cập GD Tiểu học . -Năm 2002-2005 đổi mới chương trình thay SGK từ lớp 1 đến lớp 9 . -Năm 2006 thay SGK lớp 10 THPT. Từ năm 2002 trở đi xây dựng trung tâm học tập cộng đồng ở các xã phường , thành lập hội khuyến học từ TW đến địa phương Năm 2005 luật GD được sửa đổi lần thứ nhất . Với nhu cầu phát triển Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, nhưng chúng ta vẫn tham khảo với các nền GD trong khu vực Đông Nam Á, Đông Á để xem xét GDVN đang ở đâu và như thế nào ? - Hàn Quốc 1949 luật GD ra đời , đảmbảo GD bắt buộc, bình đẳng học suốt đời cho mọi người. Kế hoạch từ năm 2000-2010 đạt trình độ GD các nước G7. -Malaysia:1961 ban hành luật GD chuyển từ hệ thống GD Anh sang hệ thống GD Malaysia, năm 1966 sửa đổi luật GD, năm 2004 đạt trình độ quốc tế thu hút 39.577 sinh viên của 157 nước đến học (có cả sinh viên Mỹ, Anh, Nhật, Trung Quốc ) - Việt Nam: người dân từ 15 tuổi trở lên biết chữ đạt 92% sau Thái Lan và Philipin. Treân Singapo, Maaysia, Inñoânesia, Trung Quoác. Chæ soá phaùt trieån GDVN laø G = 0,83 bằng Malaysia trong khi đó GDP/đầu người Malaysia gấp 9 lần Việt Nam. Việt Nam GDP/đầu người 410 USD trong khi đó Malaysia 3.640 USD, Thái Lan GDP/đầu người1970 USD. Trong hơn thập kỷqua giáo dục Việt Nam phát triển về mặt qui mô số lượng, còn chất lượng hiệu quả còn hạn chế. Tính theo HDI(chỉ số phát triển con người ).

<span class='text_page_counter'>(4)</span> năm 2002 thì chỉ số phát triển GD thế giới thì Việt Nam đứng thứ 112/177 nước (Trong Assian đứng 7/10), Trung Quốc 94/177. Về mũi nhọn thành tích Olompic quốc tế: Toán, tin học VN được xếp trong tổng nước có điểm cao như Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga. Chúng ta còn phải nổ lực hơn nữa để chất lượng đại trà mới ngang tầm được thế giới. Theo thống kê cập nhật chưa đầy đủ tính đến thời điểm tháng 8 năm 2006 số lượng trường, giáo vieân,hoïc sinh sinh vieân nhö sau : Cả nước có 37.183 trường học với số học sinh và sinh viên là :21.115.735 Trong đó :GD mầm non có 10.104 trường với3.109.900 cháu Tieåu hoïc 14.346 trường với 7.615.100 HS(20% đang chuẩn QG) THCS 9.837 trường với 6.712.300 HS(có 299 trường đạt chuẩn QG) THPT 2.140 trường với 3.134.400 HS(có 44 trường đạt chuẩn QG) THCN dạy nghề với 506 trường 266.655 HS Cao đẳng ,đại học 214 trường với 225.780 HS sinh viên đạt 140SV/ 1 vạn dân Sau đại học có15.600 Svtrong đó nghiên cứu sinh viên 1.600, Cao hoc 14.000 Viêt Nam chúng ta từ một nên GD cho 5% dân cư sang 1 nền GD cho 100% dân cư . Kính thưa các đồng chí đại biểu Thöa quí thaày coâ giaùo . Nói đến Nhơn Tân ai cũng thừa nhận rằng đây là một xã khó khăn vào bậc nhất của huyện An Nhơn. Đất đai bạc màu hoang hoá bao gồm 1 vùng rừng núi rộng lớn, kinh tế chưa phát triển kịp với tiềm năng. Đời sông nhân dân vẫn còn nhiều chật vật thưa thớt với sự nghèo đói.Vì vậy nền GD vẫn ở trong hoàn cảnh đó Trước đây chưa có hồ núi I thì ruộng chỉ làm 1 vụ /năm nên đời sống lại càng cơ cực hơn, vẫn sự đói nghèo lận đận suốt quanh năm . Nhìn lại những ngày đầu sau giải phóng năm 1975, lúc này chưa tách xã nên vẫn còn là Nhơn Lộc trên địa bàn xã chỉ vỏn vẹn có 3 phòng ở khu vực Gò Sơn, Nam Tượng I chỉ có 3 lớp với khoảng 120 HS từ lớp 1 đến lớp 3; lên lớp 4 Hs phải về trường xã ở An Thành mà học mà học. Toàn xã không có trường cấp II. Số HS cấp I cũng chỉ tính trên đầu ngón tay, hầu hết con em không được đi học . Sau năm 1975 với sự lãnh đạo của Đảng,niềm tin của nhân dân vào cách mạng và sự nghiệp thắng lợi vẻ vang của dân tộc trong công cuộc giải phóng đất nước xây dựng CNXH thì xã Nhơn Tân cùng với các xã trong huyện ngày càng có bước phát.

<span class='text_page_counter'>(5)</span> triển mới, đời sống nhân ngày càng được cải thiện và nâng cao, kinh tế hạ tầng cũng được đầu tư và xây dựng ,văn hoá giáo dục ngày càng được xây dựng và đi lên đáp ứng nhu cầu học tập trước mắt của của con em nhân dân bao năm không được đi học. Ñeẫn naím 1986 xaõ Nhôn Tađn chính thöùc ñöôïc thaønh laôp.Vôùi söï quan tađm cụa ñạng vaø chính quyền địa phương thì các thôn trong xã được xây dựng trường để cho con em nhân dân được đi học. Thọ Tân Nam là thôn nằm sâu trong vùng rừng núi An Tường nhưng vẫn có trường để đáp ứng với sự học của con em không những bậc mẫu giáo mà còn cả cấp tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5. Vì nhu cầu học tập quá lớn mà khả năng xây dựng trường lại có hạn chế nên phòng học chỉ là tranh tre tạm thơì,ø bàn ghế học chỉ là những tấm ván gòn kê trên những cây tre đứng trên nền đất làm tre. Thế nhưng vẫn không đủ, phải mướn cả các khu đội của HTXNN để học. Những năm 1980 chưa bao giờ giáo dục lại phát triển như thế. Đội ngũ thầy cô giáo lúc bấy giờ không đủ, nhiều thầy cô giáo phải dạy 2 lớp, cả những năm khó khăn phải dạy cả 3 ca. Khó là vậy nhưng GD của chúng ta vẫn không ngừng phát triển không chỉ GD ở phổ thông mà cả phong trào bổ túc văn hoá những người lớn tuổi, những người không có đủ điều kiện đến trường, không phải chỉ học ban ngày mà học cả ban đêm.Vất vả gian lao nhưng chưa bao giờ lại vui và phấn khởi như thế. Vui như sự trào dâng của phong trào cách mạng. Đến năm 1992 theo chủ trương của ngành GD để nâng cao chất lượng cho từng cấphọc phải tách trường cấp 1 và 2 trong trường PTCSthành trường cấp Ivà II riêng. Với số lượng học sinh cấp II bậc THCS ở xã Nhơn Tân không đủ điều kiện để thành lập trường nên học sinh cấp II ở Nhơn Tân phải đi học ở Nhơn Lộc, Nhơn Tân chỉ có caáp Tieåu hoïc maø thoâi. Với cấp II học sinh ở Nhơn Tân phải đi hộc ở Nhơn Lộc, điều kiện đi lai khó khăn nên hằng năm số học sinh nghỉ học quá lớn. Bức xúc trước tình hình này nên Đảng bộï và nhân dân kiến nghị với ngành được mở cấp II để giải quyết việc học tập của con em.Năm 2000, 6 phòng học được xây dựng và trở thành một phân hiệu cuả trườngTHCS Nhơn Lộc. Năm 2002 trường được chính thức thành lập. Nói đến trường nhưng thực ra chỉ có 6 phòng học được xây dựng trên nhữnh mảnh ruộng sũng nước, lối đi vào trường chỉ là một bờ ruộng và chỉ đi được bằng xe 2 baùnh, saân chôi baõi taäp cuûa hoïc sinh, ñieàu kieän laøm vieäc vaø phuïc vuï chöa coù gì, haàu như khởi điểm là như thế..

<span class='text_page_counter'>(6)</span> Về nhận trường mới, 29 thầy cô giáo của trường lo âu băn khoăn suy nghỉ và tự đặc cho mình câu hỏi phải làm như thế nào đây là nhiệm vụ với đầy khó khăn gian khoå. Kính thưa các đồng chí đại biểu. Thöa quí thaày coâ giaùo. Gọi là trường nhưng chỉ vài phòng học trên ruộng sũng nước sau lưng là mô gò tràm xen lẫn sim mua cỏ dại chênh vênh đầy nắng và gió, không một bóng cây, sân trường là những mảnh ruộng cỏ lúc đầy dấu chân trâu. Aâý thế chỉ trong vòng hơn 4 năm qua.Với sự quan tâm của ngành, Đảng bộ, và chính quyền địa phương, sự hổ trợ chặt chẽ của các cơ quan ban ngành các đoàn thể xã hội. Sự tận tuỵ với tinh thần trách nhiệm của thầy cô giáo, sự cộng tác của quí bậc phụ huynh trong việc xây dựng và phát triển nhà trường từ 1 trường loại 3 có 15 lớp 602 HS có 29 giáo viên với CSVC là 6 phòng học thì đến nay đã lên đến 18 lớp, 744 học sinh và 34 thầy cô giáo với 21 phòng học. Cơ sở vật chất phục vụ cho viêïc học tập và giảng dạyï ngày càng hoàn thiện hơn, hiện nay nhà trường đã cố phòng thực hành môn vật lý, hoá sinh, thiết bị và truyền thống. Đã xây dựng được thư viện đạt chuẩn theo qui định 01 của bộ GD với 3.731 bản sách để phục vụ cho việc học tập và nâng cao kiến thức. Phòng làm viêïc của hội đồng, BGH và các phòng học được trang bị đầy đủ điện quạt và thiết bị cần thiết. Để phục vụ cho hoạt động ngoại khoá, các phương tiện âm thanh nghe nhìn cũng được mua sắm. Tường rào cổng ngõ được xây dựng, sân chơi bãi tập được củng cố và nâng cấp. Hiện nay đã có sân bóng chuyền, bóng đa ùđể thầy cô giáo và học sinh rèn luyện sức khoẻ TDTT. Sân trường đã trồng đủ bóng cây, cảnh quan môi trường Sư phạm xanh, sạch, đẹp ngày càng được đáp ứng. Điều kiện vệ sinh môi trường ngày được chú trọng và tăng cường, hệ thống nước sạch được xây dựng để phục vụ cho học sinh đáp ứng nhu cầu sức khoẻ học tập và sinh hoạt. Về chất lượng giảng dạy và học tập : Đây là nhiệm vụ trọng tâm, nên học 4 năm qua nhà trường luôn chú trọng và xây dựng.Qua 4 năm học đã xây dựng được 23(71%) giáo viên dạy giỏi cấp trường16(50%)giáo viên dạy giỏi cấp huyện…………..và có 1 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh để làm nòng cốt và đẩy mạnh nâng cao hoạt động chuyên môn đi vào chiều sâu chất lượng đáp ứng nhu cầu thực tiễn lâu dài của ngaønh. Về học sinh: Chất lượng học tập hằng năm được nâng dần, tỷ lệ HS yếu kém được khắc phục, tỷ lệ lên lớp có sự chuyển biến rõ rệt từ 95% đến 98%. Tỷ lệ học.

<span class='text_page_counter'>(7)</span> sinh tốt nghiệp đảm bảo theo yêu cầu của ngành giatrong, hằng năm đều đạt từ 91 đến 97%. Chất lượng mũi nhọn học sinh giỏi, đây là khâu khó khăn nhất nhưng với sự phấn đấu và trách nhiệm thì trong các năm qua từ năm học :2002 – 2003 năm nào nhà trường vẫn có HS giỏi cấp huyện. Trong 4 năm qua đã có 23 HS giỏi cấp huyện và chuyển biến rõ rệt hơn là có 04 HS giỏi cấp tỉnh. Đây là khâu đột phá về chất lượng của nhà trường. Ngoài chất dạy và học là trung tâm, trong các hoạt đôïng ngoại khoá và phong trào được nhà trường chú trọng và tăng cường để góp phần tạo động lực thúc đẩy cho việc dạy và học như TDTT, văn hoá nghệ thuật, báo chí, cắm trại, tham gia du lịch, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, tìm hiểu tham gia các hội thi do báo đài tổ chức, đoàn thể cấp trên phát động cũng như tổ chức những sân chơi lành mạnh như toạ đàm, câu lạc bộ……… Với những thành tích mới trong 5 năm qua trường đã và đang giữ vững cờ thi đua bóng đá, bóng chuyền, với cấp tỉnh đạt được 5 huy chương bạc trong phong trào hội khoẻ. Về tiếng hát hoa phượng đỏ, phong trào phát thanh măng non cũng được giaûi nhaát vaø giaûi nhì caáp huyeän. Trong thực tế tỷ lệ HS bỏ học nhiều trước năm 2002. Từ khi thành lập trường tỷ lệ HS bỏ học đã giảm, tỷ lệ HS tốt nghiệpTHCS gia tăng nên năm 2006 tỷ lệ dân số trong độ tuổi đạt trình độ cấp II la ø82% nên xã Nhơn Tân đã được công nhận là xã phoå caäp THCS. Tuy nhà trường mới được thành lập, rất nhiều khó khăn trong các hoạt động để tự khẳng định mình đáp ứng nhu cầu phát triển đi lên, nhưng với ý thức trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp thì tập thể giáo viên nhà trường cunõg đã xác định nhiệm vụ, mà không ngừng học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ, hiện nay đã chuẩn hoá100%, vượt chuẩn 71,8% đáp ứng nhu cầu lâu dài trong việc giảng dạy nghề nghiệp của mình đã chọn.Trong công việc luôn nhiệt tình, cải tiến phương pháp, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ được phân công. Toàn bộ giáo viên trong hội đồng sư phạm đã đoàn kết, tận tâm, tận lực quyết xây dựng nhà trường ngày càng vững mạnh. Kết quả trong 5 năm qua nhà trường đều đạt đựơc là trường tiên tiến xuất sắc. Mặt dù là một xã nghèo, nhà trường còn nhiều khó khăn, nhưng chúng ta vẫn tự hào rằng sự nghiệp giáo dục của xã nhà nói chung và nhà trường nói riêng có bước.

<span class='text_page_counter'>(8)</span> phát triển đáng kể, đạt được những thành quả rất khả quan. Chúng ta đã vượt qua được những khó khăn gian khổ của những ngày đầu thành lập trường, đã tự khẳng định được mình tạo thế đi lên vững chắc đáp ứng vào lòng tin của Đảng bộ và nhân dân toàn xã trong chiến lược nâng cao dân trí, tạo tiền đề thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Cuối cùng xin kính chúc các thầy cô giáo, các đồng chí đại biểu sức khoẻ, hạnh phúc cùng nhau hợp lực tạo cho giáo dục xã nhà ngày càng vững tiến lên. Xin caûm ôn..

<span class='text_page_counter'>(9)</span> PHOØNG GD-ÑT AN NHÔN TRƯỜNG THCS NHƠN TÂN Soá: ….. QÑ-HÑT-HKI. COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ----------------------Nhôn Taân, ngaøy …… thaùng…….naêm 2007. QUYEÁT ÑÒNH THAØNH LẬP HỘI ĐỒNG COI THI , CHẤM THI HỌC KỲ I NĂM HỌC 2007 – 2008 ------------------------------------------------------- Căn cứ công văn số: ……./…….. Ngaøy …….thaùng…… naêm…… cuûa Phoøng GD-ÑT huyeän An Nhơn V/v tổ chức coi thi và chấm thi học kỳ I. - Căn cứ chức năng quyền hạn của Hiệu trưởng quy định ở điều lệ Trường THCS, Trường THPTvà Trường PT có nhiều cấp học ban hành kèm theo quyết định số 07/QĐ-BGD-ĐT ngày 02 tháng 04 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. - Theo đề nghị của Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn. HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NHƠN TÂN. QUYEÁT ÑÒNH: Điều 1:Thành lập hội đồng coi thi, chấm thi học kỳ I năm học:2007 – 2008. Trường THCS Nhôn Taân goàm coù caùc thaønh vieân sau: - Chủ tịch: Ông Phạm Dũng Tiến, Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn. - Thư ký : Ông Nguyễn Hữu Phương, Ông Bùi Văn An, Ông Phan Việt Dũng:Tổ trưởng chuyeân moân. - Giám thị, giám khảo:Là giáo viên trực tiếp giảng dạy và cán bộ chuyên trách của trường do Phó Hiệu trưởng trực tiếp điều động (có danh sách kèm theo). Điều 2: Nhiệm vụ các thành viên trong hội đồng coi thi, chấm thi được quy định theo quy chế và nghiệp vụ thi của Bộ Giáo dục – Đào tạo do Chủ tịch hội đồng coi thi, chấm thi phân công. Lịch làm việc của hội đồng coi thi, chấm thi bắt đầu làm việc từ ngày:………………………….đến khi keát thuùc kyø thi. Điều 3: Các ông: Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn,Tổ trưởng văn phòng, Tổ trưởng chuyên môn và các ông bà có tên ở điều 1 chịu trách nhiệm thi hành quyết định này. Nôi nhaän: - Nhö ñieàu 1 - Löu hoà sô chuyeân moân. HIỆU TRƯỞNG.

<span class='text_page_counter'>(10)</span> Huyønh Vieät Loäc. PHOØNG GD-ÑT AN NHÔN TRƯỜNG THCS NHƠN TÂN Soá:…………..QÑ-HTBT. COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------------Nhôn Taân, ngaøy….. thaùng 12 naêm 2007. QUYEÁT ÑÒNH. Thành lập Ban tổ chức và Ban giám khảo Hội thi báo tường năm học:2007 – 2008.. …………………………………………………………………………………………. - Căn cứ công văn số 494/ TB. PGDĐT ngày29/11/2007 của Phòng giáo dục và đào tạo An Nhơn V/v tổ chức hội thi Báo ảnh – Báo tường chào mừng ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2007). - Căn cứ chức năng quyền hạn của Hiệu trưởng quy định ở điều lệ Trường THCS, Trường Trung học phổ thông và Trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo quyết định số 07/ QĐBGD-ĐT ngày 02 tháng 04 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục va øĐào tạo. - Theo đề nghị của Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn và Tổng phụ trách Đội. HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NHƠN TÂN. QUYEÁT ÑÒNH Điều 1: Thành lập Ban tổ chức và Ban giám khảo Hội thi Báo tường năm học:2007 – 2008 gồm coù caùc thaønh vieân sau: 1/ Trưởng Ban tổ chức và Ban giám khảo. Ông: Phạm Dũng Tiến Phó hiệu trưởng. 2/ Phoù ban: OÂng:Huyønh Vaên Roã Giaùo vieân Baø: Traàn Thò Voïng Toång phuï traùch 3/ Caùc thaønh vieân: OÂng:Nguyeàn Ñình Baûo Giaùo vieân OÂng: Buøi Vaên An Giaùo vieân OÂng : Phan Vieät Duõng Giaùo vieân Ông: Nguyễn Hữu Phương Giaùo vieân Ông : Nguyễn Đức Anh Khoa Giáo viên OÂng: Löông Phieân Kế toán văn thư. Điều 2:Ban tổ chức và ban giám khảo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và triển khaiviệc tổ chức hội thi báo tường trong toàn thể 18 chi đội trong toàn trường, chấm chọn những tờ báo có hình thức và nội dung xuất sắc đề nghị khen thưởng và triển khai làm một tờ báo tường của Liên đội để dự thi thi báo ảnh, báo tường cấp Huyện do Phòng GD – ĐT An Nhơn tổ chức..

<span class='text_page_counter'>(11)</span> Điều 3: Các ông: Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tổ trưởng văn phòng, tổ trưởng chuyên môn, GVCN lớp và các ông bà có tên ở điều 1 chịu trách nhiệm thi hành quyết định này. Nôi nhaän: - Nhö ñieàu 1 - Löu vaên thö. HIỆU TRƯỞNG.

<span class='text_page_counter'>(12)</span>

×