Tải bản đầy đủ (.pdf) (95 trang)

Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh viêm phổi ở lợn do mycoplasma tại một số vùng phụ cận hà nội và biện pháp phòng trị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.47 MB, 95 trang )

1. Mở Đầu

1.1. Đặt vấn đề

Để đa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu
thịt, sữa, trứng, nhất là thịt lợn xuất khẩu. Trong những năm gần đây Nhà nớc,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho nhập các giống gia súc, gia cầm
có năng suất và chất lợng cao từ các nớc có nền chăn nuôi phát triển nhằm
mục đích nâng cao sản lợng và chất lợng sản phẩm.
Trong các vật nuôi thì nuôi lợn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao,
chính vì vậy trong những năm qua, ngành chăn nuôi lợn nớc ta nói riêng đã
đạt nhiều thành tựu mới, xu thế chuyên môn hoá sản xuất, chăn nuôi trong
trang trại tập trung ngày càng phổ biến.
Tuy nhiên trong chăn nuôi muốn thu đợc lợi nhuận cao thì ngoài các
vẫn đề về con giống, công tác dinh dỡng thì công tác thú y là vấn đề cấp
bách, quyết định đến thành công trong chăn nuôi
Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất đã giúp
chúng ta xử lý và khống chế bệnh dịch. Mặt khác khi mức sống của ngời dân
tăng lên thì nhu cầu về sử dụng thực phẩm sạch đang là vấn đề mà xã hội quan
tâm, do đó mà ngành chăn nuôi nói chung và nhất là chăn nuôi lợn nói riêng làm
sao phải tạo ra nhiều số lợng nhng phải có chất lợng sản phẩm tốt, việc đó đòi
hỏi phải có những biện pháp hợp lý để đáp ứng với nhu cầu của xã hội.
Trong những bệnh truyền nhiễm ở lợn thì bệnh viêm phổi ở lợn do
Mycoplasma là bệnh gây thiệt hại kinh tế rất lớn cho ngành chăn nuôi lợn.
Bởi vì bệnh lây lan nhanh tác động kéo dài đối với cơ thể lợn. Mầm bệnh tồn
tại rất lâu trong cơ thể lợn cũng nh ngoài môi trờng bên ngoài làm việc
phòng trị rất khó khăn, khi lợn bị nhiễm bệnh, chi phí điều trị lớn, thời gian và
liệu trình điều trị kéo dài.

1
Cho tới nay ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh viêm


phổi ở lợn do Mycoplasma, tuy nhiên những nghiên cứu này mới chỉ tập
chung vào tình hình dịch tễ, và phác đồ phòng trị bệnh còn việc làm rõ các đặc
điểm bệnh lý của lợn mắc bệnh còn rất ít tác giả đề cập đến
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, nhằm mục đích làm rõ đặc điểm bệnh lý từ
đó có cơ sở xây dựng biện pháp phòng và trị bệnh một cách có hiệu quả,
chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài : Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh
lý của bệnh viêm phổi ở lợn do Mycoplasma tại một số vùng phụ cận Hà
nội và biện pháp phòng trị".
1.2. Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh viêm phổi ở lợn do Mycoplasma đã và đang tồn tại trên khắp các
tỉnh thành trong cả nớc, đặc biệt là những nơi chăn nuôi tập trung và điều
kiện chăn nuôi còn thấp kém
Lợn bị mắc bệnh, tuy tỷ lệ chết không cao nhng thiệt hại thì vô cùng lớn,
lợn tiêu tốn thức ăn nhiều, chậm lớn, chi phí điều trị cao, thời gian nuôi kéo
dài. Do vậy, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn.
Chính vì thế việc nghiên cứu đặc điểm bệnh lý bệnh viêm phổi ở lợn do
Mycoplasma để từ đó làm căn cứ giúp các cơ sở chăn nuôi sớm phát hiện
bệnh
1.3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu tơng đối đầy đủ về:
Đặc điểm bệnh lý, các biến đổi lâm sàng, một số biến đổi về sinh lý,
sinh hoá máu, cũng nh giải phẫu bệnh lý của phổi lợn mắc bệnh và thử
nghiệm phác đồ điều trị.

2
1.4. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định rõ biểu hiện lâm sàng của lợn mắc bệnh.
- Xác định rõ đặc điểm bệnh lý, sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá
máu của máu lợn bệnh.
- Xác định mức độ tổn thơng của phổi lợn mắc bệnh (cả vi thể và đại thể).

- Điều trị thử nghiệm, từ đó lựa chọn phác đồ điều trị có hiệu quả đối với
bệnh



3
2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1. Vài nét về giải phẫu đại thể, vi thể của phổi lợn
2.1.1. Cấu trúc đại thể
Phổi lợn có một nhánh phế quản tách ở đoạn khí quản để phân vào cho
thùy đỉnh ở phía trên bên phải trớc khi phân hai phế quản gốc. Lá phổi trái
phân làm ba thùy: thùy đỉnh, thùy tim và thùy hoành. Lá phổi phải phân làm
bốn thùy: thùy đỉnh, thùy tim, thùy hoành và một thùy phụ.
* Vị trí: có hai lá phổi phải và trái nằm trong xoang ngực ngăn cách
nhau ở giữa bởi tung cách mạc (màng trung thất - mediastinum). Trong tung
cách mạc có tim, các mạch máu lớn và thực quản.
* Màu sắc: phổi nhẵn, bóng vì có màng phổi (pleura) bọc. Màu sắc
thay đổi tùy theo tuổi. Phổi bào thai có màu đỏ nâu, phổi súc vật non màu
hồng, phổi súc vật già có màu hơi xanh và trên mặt phổi có nhiều chấm đen
do sắc tố đọng lại làm cho phổi xạm lại và ranh giới của các tiểu thùy phổi
hình đa giác hiện lên rõ rệt hơn.
* Hình thái ngoài: mỗi lá phổi có ba mặt (mặt ngoài, mặt trong và mặt
sau hay đáy) và đỉnh ở trên.
- Mặt ngoài hay mặt sờn (facies costalis). Mặt ngoài của phổi lỗi áp sát
vào thành trong của lồng ngực. Giữa các lớp xơng cơ của lồng ngực và mặt
ngoài phổi chỉ có màng phổi. Mặt ngoài có các vết ấn lõm của các xơng sờn.
- Mặt trung hay mặt trung thất (facies mediastinalis). Có rốn phổi nằm
ở gần phía trên hơn phía dới, có các thành phần của phế quản gốc đi vào
phổi. Trong rốn phổi có phế quản gốc, động mạch phổi và tĩnh mạch phổi.

- Đỉnh (apex pulmonis) là phần phổi thò lên trên lỗ trớc của cửa vào
lồng ngực, giới hạn bởi xơng sờn I và mỏm khí quản xơng ức. (Phạm Thị
Xuân Vân( 1982)[26]).

4
2.1.2. Cấu trúc vi thể
Phổi đợc cấu tạo bởi cây phế quản, các mạch quản (động mạch và tĩnh
mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản, các bạch mạch) các sợi thần kinh
của đám rốn phổi và các tổ chức liên kết ở xung quanh các thành phần trên.
Cây phế quản: mỗi phế quản gốc sau khi vào phổi sẽ phân chia nhỏ
dần. Toàn bộ các nhánh phân chia phế quản gốc gọi là cây phế quản.
Mỗi phế quản gốc sau khi vào rốn phổi sẽ tiếp tục đi trong phổi theo
hớng một trục (gọi là thân chính). Từ thân chính sẽ tách ra các phế quản thùy
theo kiểu phân nhánh bên. Các phế quản thùy dẫn khí vào một đơn vị phổi
nhất định gọi là thùy phổi. Từ các phế quản thùy chia ra các phế quản phân
thùy. Các phế quản phân thùy lại chia thành các phế quản dới phân thùy. Các
phế quản này lại chia nhiều lần nữa và sau cùng chia thành các phế quản trên
tiểu thùy.
Mỗi phế quản trên tiểu thùy dẫn khí cho một đơn vị phổi, thể tích
khoảng 1cm
3
gọi là tiểu thùy. Xung quanh các tiểu thùy là một lớp tổ chức
liên kết có các tĩnh mạch. Các tiểu thùy hiện lên bề mặt của phổi thành các
hình đa giác. Mỗi phế quản trên tiểu thùy khi đi vào tiểu thùy thì gọi là phế
quản trong tiểu thùy. Các phế quản trong tiểu thùy lại chia nhiều nhánh gọi là
tiểu phế quản. Các nhánh tiểu phế quản lại chia thành tiểu phế quản tận. Mỗi
tiểu phế quản tận phình ra thành một ống phế nang. ống phế nang lại chia
thành chùm phế nang.
Thành phế nang chỉ là một lớp nội mạc giáp ngay với lớp nội mạc của
mao mạch. Do đó chính ở nội mạc xảy ra sự trao đổi giữa CO

2
của máu và O
2

của không khí. (Trần Cừ, Cù Xuân Dần (1976) [4]).

5

2.1.3. Hô hấp ở phổi
Phổi không có cấu tạo cơ nên tự nó không thể co giãn, mà co dãn một
cách thụ động nhờ các cơ hô hấp gồm cơ hoành và các cơ gian sờn. Các cơ
này đóng vai trò động lực chính cho quá trình hô hấp, làm cho lồng ngực mở
rộng hay thu hẹp, dẫn đến làm biến đổi áp lực xoang màng ngực, kéo theo vận
động của phổi. Khi lồng ngực mở rộng phổi nở ra theo, áp lực trong phổi giảm
do đó không khí đi vào phổi gây động tác hít vào; khi lồng ngực thu hẹp, phổi
xẹp xuống đẩy không khí thoát ra ngoài, gây động tác thở ra.
+ Động tác hít vào: hít vào là kết quả mở rộng dung tích của xoang
ngực theo chiều dài và chiều ngang, do tác dụng của cơ hoành và cơ ngang
sờn ngoài.
+ Động tác thở ra: làm cho lồng ngực bị thu hẹp theo cả ba chiều không
gian, phổi bị ép xẹp, áp lực trong phổi tăng, đẩy không khí thoát ra
ngoài gây động tác thở ra. (Tạ Thị Vịnh (1990) [27]).
* .Trao đổi khí trong hô hấp
Quá trình trao đổi khí trong hô hấp gồm 3 bớc.
- Trao đổi khí giữa phế bào và máu mao mạch xung quanh nó. Chất khí
khuyếch tán từ nơi có áp suất riêng phần cao đến nơi có áp suất riêng phần
thấp. Do sự chênh lệch về phân áp O
2
trong phế bào sẽ khuếch tán qua màng
phế bào và thành mao mạch và máu, còn CO

2
thì ngợc lại. Khuếch tán từ
máu sang phế bào. Quá trình khuếch tán này tiến hành tơng đối chậm.
- Vận chuyển O
2
từ phế bào đến tổ chức và CO
2
từ tổ chức đến phế bào.
O
2
từ máu có phân áp cao sẽ khuếch tán vào tổ chức nơi có phân áp O
2
thấp.
Ngợc lại, CO
2
từ tổ chức có phân áp cao sẽ khuyếch tán sang máu.
- Trao đổi khí giữa máu động mạch và tổ chức. Sự kết hợp và vận chuyển
khí O
2
, CO
2
do sự chênh lệch phân áp giữa máu và các mô bào, tổ chức.

6
* Rối loạn hô hấp
Bộ máy hô hấp là cơ quan chủ yếu làm nhiệm vụ trao đổi khí giữa cơ
thể với môi trờng bên ngoài. Nhờ sự trao đổi đó mà cơ thể có thể hấp thu
đợc oxy từ môi trờng bên ngoài và đào thải khí cacbonic ra khỏi cơ thể.
Vai trò của hệ hô hấp vô cùng quan trọng với sự sống, hệ thống hô hấp
ngừng hoạt động quá 5 phút là cơ thể đã có thể bị hủy diệt.

- Rối loạn quá trình thông khí do các bệnh ở bộ máy hô hấp
Do tổn thơng lồng ngực, bệnh liệt cơ hô hấp
Trở ngại đờng hô hấp trên do đờng hô hấp bị viêm phù, u sẹo, dị vật
bị chèn ép ở đờng hô hấp trên. Khí quản, phế quản bị viêm, gây sng phù
niêm mạc lòng khí quản phế quản, làm cho tiết diện lòng khí quản, phế quản
bị hẹp lại. Hoặc trong trờng hợp hen suyễn viêm mãn tính khí quản dày xuất
tiết dịch rỉ viêm làm hẹp, đặc bít các khí quản, các nguyên nhân cản trở không
khí gây khó thở.
Trở ngại đờng hô hấp dới: chủ yếu là viêm phổi, phế nang và các vi
phế quản bị tổn thơng dịch rỉ viêm và dịch phù xuất làm đông đặc các phế
nang và vi phế quản, không khí không lọt vào dợc phế nang, không tiếp xúc
đợc với mao mạch. Trong bệnh suyễn lợn, rối loạn hô hấp gây khó thở chủ
yếu là do các cơ trơn ở phế quản và vi phế quản bị co thắt, kết hợp với xuất tiết
dịch làm cản trở thông khí gây thiếu O
2
trờng diễn. Mặt khác rối loạn đờng
hô hấp dới còn ảnh hởng đến quá trình khuếch tán O
2
và CO
2
. (Tạ Thị Vịnh
(1990) [30]).
2.2. Lịch sử nghiên cứu về bệnh viêm phổi ở lợn do
mycoplasma.
Có rất nhiều nghiên cứu về sinh lý, sinh hóa máu của lợn bình thờng, và
các quy trình phòng trị bệnh viêm phổi ở lợn do Mycoplasma cũng đã đợc đề
cập, nhng việc nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và sự biến đổi các chỉ tiêu sinh

7
lý, sinh hóa máu lợn bệnh, những tổn thơng bệnh lý của phổi bệnh còn rất ít

tác giả đề cập đến.
2.2.1. Một số nghiên cứu ngoài nớc
Mycoplasma đựơc phát hiện đầu tiên vào năm 1898 ở bò bị viêm phổi
và đợc đặt tên là M.nyeoides.
Sau 25 năm ngời ta phát hiện ra nhiều vi khuẩn giống Mycoplasma
nên đặt tên là PPLO (Pleuropneumonia -Like Orgasnisms ).
Bệnh lần đầu tiên đợc phát hiện thấy ở nớc Đức, sau đó thấy ở Anh,
Thụy Điển và gọi tên bệnh là dịch viêm phổi địa phơng. Trớc khi tìm ra
nguyên nhân gây bệnh, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau của các tác giả
về nguyên nhân gây bệnh. Ngày đầu bệnh xuất hiện, một số tác giả cho rằng:
Bệnh suyễn lợn là do một loài virus nào đó không qua màng lọc gây ra và tất
cả các hớng nghiên cứu khi đó tập trung vào nguyên nhân do virus.
Những năm 50 của thế kỷ XX các nhà khoa học ở các nớc Anh,
Canada, Mỹ, Thụy Điển đã đi sâu vào nghiên cứu đồng loạt nhng theo hớng
là do virus gây nên bệnh, kết quả thu đợc không đồng nhất, trong quá trình
nghiên cứu họ đã tìm thấy Mycoplasma trong bệnh phẩm nhng lại cho rằng
vi khuẩn này chỉ là vi khuẩn thứ phát, thờng nhiễm vào các bệnh tích của
phổi khi lợn mắc bệnh và che lấp căn bệnh trong môi trờng tế bào và không
có tế bào dùng để phân lập mầm bệnh. Cho tới lúc này ngời ta vẫn cho rằng
có một loại virus nào đấy gây nên bệnh mà cha tìm ra đợc.
Cũng trong những năm 50 một số tác giả đã nghiên cứu đợc một số
đặc trng của mầm bệnh là :
- Mầm bệnh cũng mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh.
- Tính kháng nguyên của nó không phù hợp với bản chất của virus.
Tới năm 1963 một số tác giả đã nghiên cứu ở Anh và cho kết quả đầu

8
tiên về căn bệnh. Họ đã định bệnh phẩm phổi lợn bị viêm không chứa căn
bệnh thứ phát đem tiến hành nuôi cấy và cho kết quả là một vi sinh vật đa hình
thái, trong môi trờng tế bào phổi lợn, khi gây bệnh thí nghiệm thấy lợn

không mắc bệnh viêm phổi. Đối với môi trờng không có tế bào gồm: 10%
dung dich đệm Hanks, 20% huyết thanh lợn vô hoạt (lấy từ lợn không mắc
Dịch viêm phổi địa phơng) và 0,5% latbunin thuỷ phân, 0,01% chiết xuất
Mendifco, 200 đơn vị Penicillin trong 1ml môi trờng, kết quả là vẫn có thể
nuôi cấy đợc, từ đó họ cho rằng: Vi khuẩn mà họ phân lập đợc có hớng
thuộc nhóm Mycoplasma là nguyên nhân gây nên viêm phổi, nhng họ cha
chứng minh đợc vi khuẩn Mycoplasma này có phát triển đợc trong môi
trờng đặc hay không nên họ cha có kết quả chính xác.
Năm 1965, đã phân lập đợc vi khuẩn gây bệnh tơng tự ở Mĩ trong
môi trờng không có tế bào, năm 1964 đã quan sát đợc sự hình thành khuẩn
lạc Mycoplasma trên môi trờng đặc mà họ nuôi cấy.Trong môi trờng dịch
thể không có tế bào đã đợc kiểm tra là tinh khiết họ thấy trên môi trờng
hình thành những khuẩn lạc hình cầu nh Mycoplasma. Khi tiêm canh khuẩn
trong môi trờng dịch thể ở lần cấy lần thứ 7 cho lợn, họ đã tìm thấy bệnh tích
điển hình ở phổi, giống nh bệnh tích theo quan điểm virus.
Cũng thời gian này, họ đã quan sát đợc sự hình thành khuẩn lạc
Mycoplasma trong môi trờng đặc cấy Mycoplasma mà họ đã phân lập đợc.
Mặt khác họ còn lấy khuẩn lạc Mycoplasma tiêm cho lợn thấy lợn mắc bệnh
và họ kết luận rằng: Vi khuẩn đã hình thành khuẩn lạc là nguyên nhân gây
ra bệnh Dịch viêm phổi địa phơng và đặt tên la M. suipneumoniae
Năm 1986, Papageogia đã tiến hành nghiên cứu về mặt vi sinh vật học
của mầm bệnh, tác giả đã chứng minh đợc vai trò chủ yếu của Mycoplasma.
Canh khuẩn trên môi trờng dịch thể đem tiêm cho lợn con từ 10 -21 ngày
tuổi đã gây đợc bệnh, khi mổ khám thấy đợc bệnh tích viêm khí quản phổi

9
hoặc viêm phổi thuỳ ở các thuỳ tim, thuỳ đỉnh, viêm ngoại tâm mạc cấp tính,
với sự hình thành u hạt ở màng cơ tim và bệnh tích viêm ngoại tâm mạc. Từ đó
về sau đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo nhằm sáng tỏ thêm về
bệnh này.

Nh vậy sau rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên
thế giới, cuối cùng đã xác định đợc chính xác nguyên nhân gây bệnh Dịch
viêm phổi địa phơng (thờng gọi là suyễn) của lợn là Mycoplasma
hyopneumoniae.(M. hyopneumoniae)
2.2.2. Một số nghiên cứu trong nớc
Bệnh đờng hô hấp mãn tính của lợn ở Việt Nam đợc quen gọi với tên
bệnh suyễn lợn đã xảy ra từ năm 1958 tại các cơ sở giống lợn của Nhà nớc.
Theo tác giả Trờng Giang (1965), bệnh viêm phổi ở lợn do Mycoplasma đã
xảy ra tại nông trờng An Khánh năm 1958 và giết hại hàng trăm lợn mỗi
năm, tập trung nhất vào đàn lợn 2-7 tháng tuổi. Ngoài các trại Nhà nớc, tại
các trại tập thể của hợp tác xã cũng đã xảy ra bệnh viêm phổi do Mycoplasma
phơng. Hoàng Hải (1963) đã theo dõi một ổ dịch tại Thuận Châu (Sơn La)
cho thấy: giống đợc chuyển từ Thái Bình lên vào năm 1961, sau 8-9 tháng
nuôi trọng lợng cơ thể chỉ tăng 5-6 kg. Một số lợn có trọng lợng khoảng 17-
18 kg, khi đợc mổ khám thấy có triệu chứng điển hình của bệnh viêm phổi ở
lợn do Mycoplasma . Tác giả cũng đã mô tả lại các triệu chứng điển hình của
bệnh nh : gầy sút, ho từng cơn vào sáng sớm nhất là những ngày giá lạnh, lợn
ho nhiều, đứng riêng trong góc chuồng thở hổn hển...bệnh tích chủ yếu khi mổ
khám thấy là hiện tợng viêm phế quản - phổi, hiện tợng gan hoá...
Khác với các nớc phát triển, ở Việt Nam, do điều kiện chăm sóc và vệ
sinh kém, vai trò của các vi khuẩn cộng phát lại rất lợn. Theo M. Kobisch
(1999), khi lợn bị bệnh và chết chủ yếu là do sự kết hợp của M.
hyopneumoniae và các loại vi khuẩn khác, đặc biệt là P.multocida,
Streptococcus Sp., Staphyclococus sp., Klebsiella. Tr
ơng Văn Dung và cộng

10
sự (2002)[6] đã mô tả triệu chứng của bệnh viêm phổi ở lợn do Mycoplasma
là : khó thở, thở bụng, nhịp thở nhanh, ho khan nhất là vào buổi sáng, triệu
chứng trên trầm trọng và rõ ràng hơn khi lợn đợc vận động nhiều, thậm chí

có thể chết. Bệnh tích của hội chứng ho thở truyền nhiễm nhiều khi không
biểu hiện ra ngoài, lúc này tăng trọng kém và tiêu tốn thức ăn cao là biểu hiện
duy nhất của trạng thái nhiễm M. hyopneumoniae.
ở Việt Nam, bệnh đợc phát hiện đầu tiên năm 1953 ở một vài trại
giống (Phan Đình Đỗ, Trịnh Văn Thịnh, 1958 [7]), đến năm 1962, bệnh đã lan
khắp các tỉnh, cho đến nay bệnh phát triển rất rộng. Tỷ lệ ốm cao, có trại lợn
chiếm 80% lợn mắc bệnh (trại Máy Trai - Hải Phòng). Có trại do nhập lợn đã
bị suyễn nên cả đàn bị lây đã phải diệt hết (trại Cầu Nguyễn,Thái Bình). Nhiều
trại chăn nuôi quốc doanh đàn lợn cũng bị nhiễm nặng: trại Thành Tô - Hải
Phòng, trại An Khánh - Hà Đông.
Hiện nay Viện thú y quốc gia đang nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu chế tạo
vaccin phòng bệnh suyễn lợn do Mycoplasma gây ra và xây dựng một số mô
hình trại giống an toàn.
2.2.3 Mycoplasma
2.2.3.1 Hình thái
Mycoplasma là những thực thể hữu cơ nhỏ, không di động, không sinh
nha bào là vì cơ thể sống không có thành tế bào mà chỉ có màng nguyên sinh
chất. Nó là cơ thể sống có kích thớc nhỏ hơn vi khuẩn.
Hai đặc điểm khác biệt giữa Mycoplasma và các loại vi khuẩn khác là
kích thớc genome và thành phần các bazơ nitơ của AND. Mycoplasma có cả
AND và ARN, trong tất cả cơ thể sống tự do Mycoplasma mang bộ gen nhỏ
nhất (khoảng 600 Kb) và có ít nhất hơn 300 gen. Tổng thành phần Guanine và
Cytosine trong AND thấp, ở một số loài tỷ lệ G+C thấp hơn 25 mol % và tỷ lệ
đó phân bố không đều trên bộ gene, có vùng rất cao lại có vùng rất thấp.

11
Hình thái của Mycoplasma rất đa dạng (hình thoi, hình gậy ngắn hoặc
hình cầu), nó thay đổi tuỳ thuộc vào tuổi canh trùng và lệ thuộc rất nhiều vào
các yếu tố môi trờng.
Mycoplasma không bắt mầu Gram, rất khó nhuộm vì dễ biến dạng qua

các bớc nhuộm, có thể quan sát Mycoplasma bằng kính hiển vi tụ quang nền
đen hoặc kính hiển vi phản pha nhng cho kết quả không chắc chắn và do đó
rất ít có ý nghĩa trong công tác chẩn đoán phòng thí nghiệm.
Phần lớn Mycoplasma sống tự do, nó chỉ sống và phát triển mạnh ở một
số vật chủ cụ thể (giải thích nghi hẹp).
2.2.3.2. Phân loại
Theo Bergey (1985) [32], có 9 loài Mycoplasma gây bệnh cho động vật
Trong phân loại học Mycoplasma thuộc lớp Molli cutes (molli nghĩa là
mềm, cutes nghĩa là da, vỏ bọc).
Số loài Mycoplasma thì nhiều nhng vì chúng không có thành tế bào
nên chúng không phát triển phong phú đợc. Cho đến nay đã phân lập đợc
hơn 100 loài gây bệnh cho ngời và động vật.
Hệ thống phân loại của Mollicutes nh sau
Lớp
Mollicutes
Bộ Mycoplasma tales
Acholepkesmaceae
Họ Mycoplasma taceas
Spiropkesuatereac Acholepkesmaceae
Giống Mycoplasma ureaphasma
Spirophasma Acholephosma

12
Một số loại gây bệnh cho ngời.
M.hoministyp1: gây bệnh cho ngời.
M.hoministyp2: phân lập ở đờng sinh dục tiết niệu ở đàn ông.
M.salivarium: phân lập đợc ở đờng hô hấp trên.
M.fermentoins: phân lập đợc ở bộ phận sinh dục ở đàn ông.
M.pneumonioe: pác nhân gây viêm phổi không điển hình.
M.oralne hoặc M.pharyngis phân lập đợc ở khí quản.

Các loài gây bệnh cho động vật nh:
M. mycoides, M. agalactia, M. bovigienitalium, M. canis, M. caculosum, M.
hyorhinis. M.arthritidis.
- M.hysoynouniae: gây viêm khớp cấp ở lợn 10 tuần tuổi và ở lợn lớn.
- M.hyorhinis: gây viêm màng seraus, viêm khớp mãn tính ở lợn 3 đến 10
tuần tuổi.
M.hyopneumoniae: gây bệnh viêm phổi ở lợn .
Khả năng gây bệnh của M.hyopneumoniae : gây bệnh viêm phổi tiên phát
điển hình ở lợn (suyễn lợn). Các triệu chứng của bệnh là sốt nhẹ, ho khan, khó
thở và đau ngực. Xét nghiệm thấy số lợng bạch cầu tăng, tốc độ lắng máu
nhanh. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi của lợn nhng chủ yếu ở lợn con.
2.2.3.3. Nuôi cấy
Nuôi cấy Mycoplasma rất khó vì nó đòi hỏi chất lợng môi trờng khá cao
, khuẩn lạc của nó có hình trứng ốp nếp. Mycoplasma có thể nuôi cấy đợc trên
những môi trờng có hoặc không có tế bào sống, trên phôi gà.
- ở môi trờng không có tế bào : Mycoplasma đòi hỏi những chất dinh

13
dỡng đặc biệt nh huyết thanh ngựa chửa, chiết xuất menNhiều loại
Mycoplasma kỵ khí hoặc hiếu khí tuyệt đối nhng vẫn có loại kỵ khí tuỳ tiện.
Nhiệt độ tốt nhất để Mycoplasma phát triển từ 35-37
0
C với pH từ 7,0-7,8.
- Trên môi trờng thạch: chúng có thể tạo nên những khuẩn lạc tròn,
nhỏ bé nuôi lâu khuẩn lạc sẽ lớn dần bề mặt có cấu tạo hạt, giữa có màu vàng
xung quanh trong (giống hình trứng ốp nếp).
- Trên môi trờng thạch máu: Mycoplasma gây bệnh cho ngời có thể
làm dung huyết thạch máu.
- Trong môi trờng dịch thể : Mycoplasma làm vẩn đục môi trờng và
tạo thành kết tủa.

Hình dạng của khuẩn lạc tơng đối giống nhau do đó không thể dựa vào
nó mà phân biệt các Mycoplasma khác.
2.2.3.4. Đặc điểm sinh hoá
- Hai đặc điểm khác bịêt giữa Mycoplasma và các loại vi khuẩn khác là
kích thớc genome và thành phần các bazơ nitơ của AND. Mycoplasma có cả
AND và ARN. Tổng thành phần Guanine và Cytosine trong AND thấp, ở một
số loài tỷ lệ G+C thấp hơn 25 mol % và tỷ lệ đó phân bố không đều trên bộ
gen, có vùng rất cao lại có vùng rất thấp.
- Thành tế bào của Mycoplasma cha hoàn chỉnh do đó hình dạng thay
đổi. Mycoplasma có lớp vỏ mỏng rất mềm dẻo có thể ví nh màng nguyên
tơng của các vi khuẩn khác. Dới kính hiển vi điện tử có thể quan sát thấy
màng nguyên tơng là dạng hạt hoặc dạng lới với các Ribosom.
- Quá trình lên men của Mycoplasma rất phức tạp và lệ thuộc vào môi
trờng.
- Ngời ta quan sát thấy hiện tợng nảy chồi. Trong các tế bào
nuôi hầu hết các Mycoplasma phát triển trên bề mặt của tế bào.

14
2.2.3.5. Khả năng đề kháng
- Mycoplasma tơng đối bền vững khi dùng phơng pháp đông băng.
Trong huyết thanh Mycoplasma có thể tồn tại ở 56
0
C sau giờ.
- Mycoplasma dễ bị phá huỷ khi bị siêu âm và dễ bị tiêu diệt bởi dung
dịch có pH acid hoặc kiềm cao. Tất cả các loài Mycoplasma đề kháng với
penicillin. Mycoplasma bị tiêu diệt ở nhiệt độ 45-55
0
C trong 15 phút. Chúng
mẫn cảm với sự khô cạn, với tia tử ngoại và những chất sát trùng.
2.2.3.6. Các loại kháng nguyên

Bằng phơng pháp hoá học và sắc ký, ngời ta tách đợc ở Mycoplasma
những thành phần hoá học mang tính chất khác nhau. Mỗi thành phần hoá học
có khả năng tham gia vào một phản ứng huyết thanh nhất định. Do đó để chẩn
đoán chính xác bệnh bằng các huyết thanh học, ngời ta thờng dùng các yếu
tố chiết xuất đặc biệt, ví dụ: phản ứng kết hợp bổ thể ngời ta dùng các yếu tố
triết xuất là lipid; ở phản ứng kết tủa trong thạch dùng các yếu tố chiết xuất là
polysaccarid. (Vũ Thị Bình (2003)[3] Bộ môn vi sinh vật trờng Đại học y
Hà Nội).
2.2.4. Bệnh viêm phổi ở lợn do Mycoplasma
2.2.4.1 Nguyên nhân gây bệnh
+ Mycoplasma hyopneumoniae
Bình thờng M. hyopneumoniae c trú ở phổi lợn, khi thời tiết thay đổi
hoặc khi điều kiện vệ sinh kém, mật độ nuôi quá chật khi sức đề kháng giảm
thì M. hyopneumoniae tăng độc lực gây bệnh. Bệnh sẽ trầm trọng hơn khi có
mặt các vi khuẩn gây bệnh khác nh: Pasteurella, Streptococcus,
Staphylococcus, E.coli, Salmonella. (Trơng Văn Dung và cộng sự (2002)
[6]).

15
Ngày nay, ngời ta cho rằng bệnh do M. hyopneumoniae sẽ trầm trọng
hơn khi kết hợp với một Adenovius .M.hyopneumoniae đợc tìm thấy chủ yếu
ở trong ống khí quản, phế quản phổi của lợn. Chúng xâm nhập vào đờng hô
hấp trên, dính chặt vào hệ thống lông rung đờng hô hấp làm vi khuẩn kế
phát dễ xâm nhập.
Khi nhiễm M. hyopneumoniae sẽ làm thúc đẩy quá trình nhiễm
Pasteurella, PRRS và ngợc lại. Một số nghiên cứu các nhà khoa học Mỹ cho
rằng: ở lợn nhiễm Mycoplasma trớc thì cũng làm tăng độ mẫn cảm với PRRS.
Theo Ross C.W(1986) [48], nếu chỉ có Mycoplasma thì triệu chứng lâm sàng
không xuất hiện. Chỉ khi có sự tham gia của Pasteurella và Bordetella
bronchiseptica thì triệu chứng mới biểu hiện rõ ràng.

2.2.4.2 Vai trò của một số vi khuẩn công phát trong bệnh suyễn lợn.
Pasteurella multocida
Theo Pijoan (1986) [46], việc nhiễm P.multocida ở phổi lợn thờng ở
vào giai đoạn cuối của dịch viêm phổi địa phơng do Mycoplasma khởi phát
(Mycoplasma induced Respiratory disease syndrome). P.multocida bắt mầu
Gram âm, hình cầu trực trùng có kích thớc 0,5-1à x 1-2à, khuẩn không di
động, Indol dơng tính, Oxydase dơng, Urease âm, không mọc trên môi
trờng Mac.Conkey, không làm dung huyết.
M.hyopneumoniae có mặt ở phổi lợn làm cho P.multocida xâm nhập
vào dẫn tới bệnh nặng hơn. Viêm phổi do P.multocida thờng là bệnh kế phát
của các nguyên nhân gây viêm phổi khác, mà chủ yếu ho khan, thở thể bụng ở
cơ sở chăn nuôi, việc gây bệnh do P.multocida bao giờ cũng kế phát sau
nguyên nhân khác. Khi gây bệnh bằng M. hyopneumoniae và P.multocida thì
bệnh tích trong phổi lại nặng hơn rất nhiều so với bệnh tích gây ra do
Mycoplasma đơn lẻ.

16
Staphylococcus.
Staphylococcus có hình tròn, đờng kính 0,7-1à bắt màu Gram dơng,
không di động, không sinh nha bào, là vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí không
bắt buộc.
Khi nuôi cấy trên thạch máu Staphylococcus gây dung huyết, có loại
dung huyết hoàn toàn (alpha-) hoặc dung huyết không hoàn toàn (beta--
Hemolysis).
Staphylococcus gây lên men đờng glucose, maltose, lactose, manose,
sacharose, không lên men dulcitol, glycerine, inuline, arabinose, và loại gây
bệnh lên men manitol.
Staphylococcus tạo ra một số độc tố nh: độc tố dung huyết, độc tố diệt bạch
cầu, độc tố gây hoại tử, độc tố làm chết, độc tố đờng ruột. Ngoài các độc tố
trên còn có các nhân tố gây bệnh khác nh men đông huyết tơng, chất làm

tan tơ huyết, nhân tố khuyếch tán. Thỏ là động vật thí nghiệm mẫn cảm nhất
với Staphylococcus. Staphylococcus aureus thờng phân lập đợc từ các bệnh
phẩm của lợn và trong phổi lợn bệnh cũng thờng gặp các áp se do chúng gây
ra. (Phạm Kim Anh (1991) [2]).
Klebsielle pneumoniae:
Nguyễn Vĩnh Phớc (1974)[20], Klebsielle do Friedlanda phân lập lần đầu
tiên vào năm 1882 từ phổi của gia súc mắc bệnh viêm phổi.
Vi khuẩn là một trực khuẩn hoặc cầu trực khuẩn có kích thớc 0,5-3x0,3-
0,5à, hai đầu tròn, có khi có hình gậy đứng riêng rẽ hoặc tập hợp thành đôi, có
giáp mô, không di động, không có lông, hình thành nha bào và vi khuẩn bắt
màu Gram âm. (Nguyễn Vĩnh Phớc (1976) [22]).
Trên môi trờng thạch hình thành những khuẩn lạc dạng niêm dịch
(mucoid) lầy nhầy có mầu trắng. Trong nớc thịt chúng phát triển thành canh

17
trùng có màng lầy nhầy. Trong môi trờng gelatin có khuẩn lạc dạng hình
đinh, không làm tan gelatin, sinh axit và làm đông vón sữa. Không sinh indol
và H
2
S, biến đổi nitrate thành nitrite, methyl red âm tính và Vogesproskauer
dơng tính. Urease âm tính và Ornithine dơng tính, decacgoxylase âm tính.
Trong bệnh viêm phổi do Mycoplasma hyopneumoniae thì Mycoplasma
hyopneumoniae chỉ là thứ phát, Klebsielle và các vi khuẩn cộng phát khác
nh: Streptococcus Staphylococcus, Pasteurella, Bordetella bronchiseptica có
ảnh hởng lớn đến việc phát bệnh ở từng cá thể lợn. Theo Blood , D C. Et. Al,
(1979) [34] phổi bị bệnh có màu đỏ thẫm, tụ huyết và cứng khi cắt có dịch
xuất hiện ở mặt cắt. Theo Buddle (1985)[35] thì bệnh tích xuất hiện ở bất kỳ
thùy nào của phổi nhng ở thùy tim thờng gặp nhiều nhất.
Salmonella:
Salmonella gây bệnh cho lợn, ngoài các bệnh tích thấy ở hệ tiêu hóa ngời

ta còn gặp bệnh tích ở phổi, phổi trở nên cứng, có tụ huyết lan rộng, phù huyết
ở giữa các thùy phổi và kèm theo hiện tợng xuất huyết. Ngoài ra còn thấy
hiện tợng tăng sinh ở phổi có thể gọi là viêm phổi (Diffuse interticial
pneumonia), (Buddle, 1985)[35], ngoài hiện tợng tụ huyết, các tác giả còn
thấy hiện tợng nhục hóa ở phổi.
Salmonella là vi khuẩn có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, kích thớc 0,4-
0,6x1-3àm, không hình thành nha bào, phần lớn di động (trừ Salmonella
gallinarum và Salmonella pullorum). Trên thân có lông (8-12 lông).
Salmonella phần lớn lên men và sinh hơi đờng glucose, manose, maltose,
galactose, levulose, arabinose. Phần lớn các loài Salmonella không lên men
lactose và sacharose. Không làm tan chảy gelatin, không thủy hóa urea,
không sinh hơi indol nhng sinh H
2
S. VP âm tính và MR dơng tính.


18
Haemophilus pleuropneumoniae.
Vi khuẩn thuộc giống Haemophilus bắt màu Gram âm, có hình của trực
khuẩn hoặc cầu trực khuẩn hoặc hình sợi, phát triển tốt trên môi trờng
chocolate hoặc thạch máu. Để phát triển, vi khuẩn cần yếu tố V
(Diphotphopyridine lucieotide). Đa số các chủng gây dung huyết dạng bêta,
urease dơng tính, lên men các loại đờng nh xylose, ribose, glucose,
fructose, manose, sucrose, maltose và manitol.
2.2.4.3. Cơ chế sinh bệnh
- M. hyopneumoniae xâm nhiễm vào đờng hô hấp trên của lợn
- M. hyopneumoniae tấn công vào hệ thống lông rung đờng hô hấp
- M. hyopnemoniae làm giảm chức năng của hệ thống lông rung
- Hệ thống phòng vệ bị suy yếu, các vi sinh vật gây bệnh và tấn công
làm bệnh thêm trầm trọng.

2.2.4.4. Sự lây lan và dịch tễ học
- Mycoplasma lây qua tiếp xúc trực tiếp: nhốt chung lợn khoẻ với lợn bị
nhiễm bệnh, từ lợn mẹ sang lợn con.
- Trong thiên nhiên chỉ có loài lợn mắc bệnh suyễn do
M.hyopneumonia.
- Mọi lứa tuổi lợn đều mắc, nhất là lợn con từ 2-5 tháng tuổi.
- Khi thời tiết thay đổi lợn dễ mắc bệnh hơn, chuồng trại ẩm thấp, vệ
sinh kém bệnh dễ phát sinh.
- Mùa xuân và mùa đông tỷ lệ mắc bệnh cao hơn các mùa khác.
- Bệnh lây chủ yếu từ lợn sang lợn, ở những trại chăn nuôi không có
bệnh, cách ly tốt vẫn có thể nhiễm. ( Nguyễn Vĩnh Phớc (1986) [21] ).

19
M. Kobosch,1999 đã kiểm tra trên 4000 phổi lợn thấy 67% phổi lợn bị
viêm, 80% mắc bệnh do M. hyopneumoniae.
- Việc lây truyền M. hyopneumoniae chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp lợn
ốm ho, thở, hắt hơi truyền mầm bệnh sang lợn khoẻ, lợn mang trùng cũng làm
gây bệnh. Bệnh thờng kéo dài khó dập tắt và tiêu diệt, do lợn ốm khỏi nhng
vẫn mang trùng.
- Bệnh lây lan mạnh ở các đàn nhập nội, những lợn cha bị nhiễm thì tỷ
lệ chết cao hơn.
2.2.4.5. Triệu chứng
Sau khi nhiễm M.hyopneumoniae từ 7 đến 20 ngày thì triệu chứng đầu
tiên là hắt hơi, ho, khó thở. Ho và khó thở là triệu chứng điển hình và kéo dài.
Bệnh biểu hiện dới 3 thể
* Thể cấp tính
Lợn ăn kém chậm chạp, da xanh hoặc nhợt nhạt, thân nhiệt bình thờng
hoặc hơi cao một chút (39-39.5
0
C).

Hắt hơi, ho từng hồi lâu do cố đẩy dịch bài tiết ở sâu đờng hô hấp
thờng ho lúc thời tiết lạnh, lúc vận động. Khi ho con vật mệt mỏi, hiện tợng
ho chỉ kéo dài vài tuần sau đó giảm.
- Lợn thở khó, thở nhanh và nhiều, thở khò khè, thở từ 60-150 lần /phút,
há hốc mồm để thở, thở nh chó ngồi, thở dốc bụng thóp lại để thở.
-Tần số hô hấp tăng lên, bí tiểu tiện, khi nghe vùng phổi có nhiều vùng
hô hấp im lặng.
-Kiểm tra máu : Hồng cầu tăng, bạch cầu tăng mạnh, sự tăng bạch cầu
để làm nhiệm vụ tiêu diệt mầm bệnh - Đại thực bào.
Khi mắc bệnh ở thể này lợn hay chết, nhất là lợn có độ tuổi từ sơ sinh đến

20
2 tháng tuổi. Thể cấp tính ít thấy chỉ thấy ở những đàn lợn dễ mắc bệnh.
* Thể á cấp tính
Thờng gặp ở lợn lai, lợn con theo mẹ, lợn mẹ.
Triệu chứng giống nh ở thể cấp tính nhng nhẹ hơn, ho và khó thở vẫn là
triệu chứng điển hình của lợn khi mắc bệnh ở thể này.
* Thể mãn tính :Thờng nối tiếp từ thể ẩn tính hay hai thể trên sang. Lợn
thịt hay mắc thể này.
Ho, ho từng tiếng một hay từng hồi, tiếng ho nh không có cảm giác bật
khỏi cổ họng.
Khó thở, tần số hô hấp tăng, nhiệt độ tăng. Bệnh ở thể này kéo dài, lợn gầy
rõ rệt, ăn kém, dễ kế phát các vi sinh vật gây bệnh khác, tỷ lệ chết thấp,
thờng chết do cộng phát, trong điều kiện nuôi dỡng kém bệnh dễ chuyển
sang thể cấp tính.
* Thể ẩn tính.
Thờng thấy ở lợn đực giống, lợn vỗ béo. Các triệu chứng ở thể này không
xuất hiện rõ, thỉnh thoảng ho, thời gian nuôi lợn kéo dài, lợn mắc ở thể này ít
bị chết. (Nguyễn Ngọc Nhiên (1999) [17]).
2.2.4.6. Bệnh tích

- Bệnh tích tập trung ở bộ máy hô hấp và hạch phổi.
Sau khi nhiễm vài ngày, bệnh tích đầu tiên là viêm phổi thuỳ, từ thuỳ
tim sang thuỳ nhọn, thờng viêm ở phần rìa thấp của phổi. Phổi xuất hiện
những chấm đỏ hoặc xám bằng hạt đậu xanh, to dần rồi tập trung thành từng
vùng rộng lớn.
- Khi chụp X Quang thấy bệnh lan từ trớc ra sau, theo một quy luật
nhất định: Bệnh tích đối xứng giữa hai bên lá phổi, ranh giới rõ giữa các vùng

21
viêm hoặc không viêm.
- Khi mổ khám thấy: Chỗ phổi viêm cứng lại, màu xám nhạt hay đỏ nh
màu mận chín, mặt phổi bóng láng, bên trong có chứa chất keo nên gọi là
viêm phổi kính.
Khi bị viêm nặng phổi cứng, đặc lại nh bị gan hoá lúc này khi cắt phổi chỉ
còn một ít dịch lẫn bọt. Phổi bị nhục hoá, đục màu tro, phổi chắc lại, biểu
hiện gan hoá, lúc này cắt miếng phổi thả xuống nớc thấy phổi chìm.
- Về vi thể: Khi bị nhục hoá, thấy phế quản có nhiều bạch cầu đơn nhân
trung tính. Nếu viêm màng phổi thì màng phổi dày nên.
- Hạch lâm ba sng to gấp 2-5 lần, chứa nhiều nớc màu tro, tụ máu.
- Khi ghép với tụ huyết trùng thì phổi bị tụ máu, có nhiều vùng gan hoá
phía sau phổi, hoại tử bã đậu.
- Khi ghép với Streptococcus thì phổi viêm có lẫn mủ.
- Nếu ghép với Bacterium thì cuống phổi viêm có mủ, mủ từng cục hôi và
tanh, màu tro. (Trơng Văn Dung và cộng sự (2002) [6]).
2.2.4.. Phòng và trị bệnh
a. Phòng bệnh: Để phòng bệnh hiện nay ngời ta đã thực hiện quy
trình vệ sinh thú y và phòng bệnh bằng vaccine
- Vệ sinh thú y
* Đối với những vùng và trại cha có lợn bệnh
+ Thực hiện phơng châm không nhập lợn từ ngoài vào. Nếu cần thiết

phải nhập thì chọn những vùng, trại từ trớc cha bị nhiễm bệnh; kiểm tra kỹ
tình trạng sức khỏe khi mua lợn; khi đem lợn về phải cách ly 2 tháng và theo
dõi, khi không phát hiện triệu chứng bệnh mới cho nhập đàn.
+ Phòng bệnh định kỳ, nếu phát hiện lợn có triệu chứng ho, thở thì có

22
thể nghi là bệnh viêm phổi do Mycoplasma; cách ly ngay, báo cho cơ quan
thú y. Chăm sóc và quản lý tốt đàn lợn mới nhập (vệ sinh chuồng, nuôi
dỡng).
* Đối với các trại đã có lợn mắc bệnh
+ Tuyệt đối không bán lợn, xuất lợn khỏi trại, trờng hợp đi mổ ở
lò sát sinh thì vận chuyển thẳng từ trại đến lò, đề phòng gieo rắc bệnh dọc
đờng.
+ Lợn đực giống tốt bị bệnh, tuyệt đối không cho nhảy trực tiếp lấy tinh
nhân tạo. Những lợn đực giống kém chất lợng đem nuôi vỗ béo để thịt.
+ Lợn nái đã mắc bệnh thì nên đem vỗ béo để thịt, không dùng sinh
sản. Trờng hợp lợn nái giống tốt, phải thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng
hợp; nếu sau 5 tháng thấy khỏi về triệu chứng thì có thể cho sinh sản bằng
biện pháp thụ tinh nhân tạo, nhng không đợc phát giống ra khỏi trại.
+ Lợn con do mẹ mắc bệnh phải theo dõi nghiêm ngặt và nuôi lớn để
lấy thịt, thịt bán tại địa phơng không dùng để làm giống.
+ Thịt lợn bị suyễn có thể dùng ăn đợc.
+ Trong thời gian trại đang bị bệnh, không nhập lợn mới. Nếu cần thiết
phải nhập, thì phải để riêng ở một khu vực cách xa đàn lợn cũ tối thiểu 10 mét,
có hàng rào kín cao 1 mét.
+ Đối với một số lợn còn lại, áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp.
+ Khu vực lợn ốm: chăn nuôi riêng, dụng cụ riêng, bếp riêng, công
nhân phục vụ riêng. Tuyệt đối không đợc đem những dụng cụ, thức ăn từ khu
vực lợn bị ốm sang khu lợn khỏe, không đợc đem lợn nái khỏe để lấy giống ở
khu lợn đực ốm hoặc ngợc lại. Trong những trại nhỏ nuôi dới 50 lợn, ít

công nhân không đủ điều kiện để chăn nuôi riêng, thì ngời chăm sóc lợn phải
cho lợn khỏe ăn trớc, lợn bệnh ăn sau, mỗi lần ra trại phải tẩy trùng thay

23
quần áo, giày dép.
+ Khu vực lợn khả nghi: cũng tiến hành nh khu vực ốm. Khi phát hiện
lợn có triệu chứng thì đa ngay sang khu vực lợn ốm. Những lợn còn lại, tích
cực điều dỡng và chữa trị.
+ Khu vực lợn khỏe: Điều kiện nuôi dỡng và quản lý nh trên. Thờng
xuyên quan sát để phát hiện con ốm và đa sang khu vực lợn ốm; lợn nghi thì
đa sang khu vực nghi bệnh. Lợn nái mỗi con để một chuồng riêng, không để
lợn con chạy lung tung và tiếp xúc với đàn lợn khác. Cần theo dõi đàn lợn con
có một hai con phát hiện bệnh thì tìm nguyên nhân lây bệnh. Nếu tiếp xúc
phát hiện nhiều con khác trong đàn bị bệnh thì phải đa cả mẹ lẫn con đi cách
ly vào khu vực ốm. (Nguyễn Thị Nội và cộng sự (1993) [15]).
* Kinh nghiệm giải quyết bệnh suyễn lợn ở một số cơ sở chăn nuôi
Kinh nghiệm phòng trừ tổng hợp tại trại chăn nuôi Lạc Vệ (Hà Bắc).
Tiến hành từ năm 1967 đến năm 1972 với những biện pháp đã sử dụng sau:
+ Thải loại những lợn giống xấu, già, những lợn nhiễm bệnh nặng, xử lý
toàn bộ lợn choai, lợn thịt.
+ Những lợn đực giống tốt thì theo dõi, cách ly, tăng cờng bồi dỡng,
không cho nhảy trực tiếp mà chỉ lấy tinh.
+ Những lợn nái cơ bản thì phân loại, cách ly theo từng loại, từng khu vực:
loại A là tơng đối an toàn, loại B là nghi ngờ, loại C đã nhiễm bệnh. Cách ly
từng con, mỗi con một ô chuồng, có dụng cụ chăm sóc riêng. Thờng xuyên theo
dõi, phát hiện những lợn có triệu chứng ho, thở để kịp thời thải loại.
+ Kiểm tra lợn con bằng cách mổ khám bệnh tích qua ba lứa: những lợn
có triệu chứng lâm sàng, còi cọc, mổ trớc; thời gian lợn còn theo mẹ mổ 1/3
số con trong mỗi ổ; số còn lại đến tháng thứ t và tháng thứ sáu mổ hết. Nếu
thấy lợn có bệnh tích điển hình và thấy lợn có triệu chứng lâm sàng ở lợn mẹ

thì thải loại lợn mẹ.

24
+ Qua ba lứa kiểm tra, nếu hai lứa liền lợn con không có bệnh tích và
lợn mẹ không có triệu chứng lâm sàng thì có thể công nhận lợn mẹ không có
bệnh. Lợn con của những lợn mẹ này đợc nuôi chung đến 8-10 tháng tuổi thì
mổ kiểm tra phổi hạch, nếu thấy không có bệnh tích thì có thể kết luận là lợn
mẹ đã lành bệnh.
+ Sau thời gian thực hiện, các tác giả nhận thấy có kết quả bớc đầu;
triệu chứng lâm sàng ở đàn lợn nái giảm rõ rệt, bệnh tích trên phổi có biến
chuyển tốt. Kiểm tra vi thể thấy lợn con bệnh giảm dần qua từng lứa, kiểm tra
những lợn đợc coi là lành bệnh thấy đều an toàn, những lợn lành bệnh đa ra
nuôi thịt đều phát triển tốt.
Từ kết quả thực hiện trên việc phòng trừ bệnh suyễn lợn cần áp dụng
một số kinh nghiệm về kỹ thuật sau:
+ Xây dựng đàn lợn an toàn: quy mô nhỏ quản lý đợc chặt: 50 đến
100 lợn nái, 6 đến 5 lợn đực giống, tất cả đều là hậu bị 4 tháng tuổi. Đực và
cái (thí dụ Móng Cái) mua ở hai vùng khác nhau để tránh đồng huyết. Số lợn
con cuối cùng giữ lại khoảng 1/2 (qua chọn lọc giống ). Vùng mua lợn giống
phải an toàn bệnh (do cơ quan thú y địa phơng chứng nhận). Cách ly, kiểm
tra bệnh viêm phổi do Mycoplasma (chiếu X.quang, theo dõi lâm sàng).
+ Dùng phơng pháp thụ tinh nhân tạo phối giống cùng một ngày cho
lợn nái an toàn và những lợn nái suyễn thuộc giống tốt.
+ Tiêu độc khử trùng: thuốc sát trùng là NaOH 2% có độ nóng 60
0
C,
pha xong dùng ngay. Trình tự tiêu độc: Đầu tiên quét dọn hết rác bên trong và
ngoài chuồng, nạo vét khai thông cống rãnh; sau đó, dùng nớc sạch xối mạnh
cọ rửa nền chuồng, tờng (từ mặt đất lên đến độ cao 0,60 - 1,2 mét); nền
chuồng đất thì trải rơm khô đốt; sau cùng, dải thuốc sát trùng ba ngày liền, sân

chơi phải dọn sạch cỏ, rác. phân, cuốc trên mặt và rắc vôi bột theo định mức 0,2
kg/m
2
. Dụng cụ chăn nuôi, sau khi cọ rửa bằng nớc sạch, phơi nắng 2-3 giờ.

25

×