Tải bản đầy đủ (.doc) (4 trang)

Bài giảng Lịch sử nhà Ngô

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (107.37 KB, 4 trang )

Nhà Ngô
Nhà Ngô (chữ Hán:吳吳 (Ngô Triều)) là một triều đại trong lịch sử Việt Nam, truyền được hai đời
nhưng có tới ba vị vua, kéo dài từ năm 939 đến năm 965. Khoảng thời gian xen giữa từ 944 đến
950 còn có Dương Bình Vương tức Dương Tam Kha.
Mục lục
[ẩn]
• 1 Chống ngoại xâm
• 2 Tranh chấp trong cung đình
• 3 Loạn lạc
• 4 Hành chính
• 5 Ngoại giao
• 6 Xem thêm
• 7 Tham khảo
• 8 Chú thích
Chống ngoại xâm
Vua Ngô Quyền (898-944) người Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội), là người sáng lập ra nhà Ngô.
Năm 930, vua Nam Hán đánh chiếm Tĩnh Hải quân bắt Khúc Thừa Mỹ. 931, tướng của họ Khúc là
Dương Đình Nghệ mưu đồ khôi phục, đem quân đánh chiếm quyền Lý Khắc Chính là tiết độ sứ
Giao Châu. Quân Hán do Trần Bảo sang cứu bị đánh bại, Bảo thua chết.
Năm 937, Nha tướng của Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để thay
chức.
Năm 938, con rể của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền tập hợp lực lượng ra đánh Kiều Công Tiễn.
Công Tiễn sai sứ sang nước Nam Hán xin quân cứu viện. Vua Nam Hán là Lưu Nghiễm cho con là
Vạn vương Hoằng Tháo đem quân sang cứu, tự mình đóng quân làm thanh viện. Ngô Quyền hạ
thành Đại La, giết Công Tiễn rồi bày trận trên sông Bạch Đằng đón quân Nam Hán.
Tháng 11 năm 938, quân Hoằng Tháo bị Ngô Quyền đánh tan trong trận Bạch Đằng. Hoằng Tháo
bị giết chết.
Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi, tức là Tiền Ngô Vương, đóng đô ở Cổ Loa.
Tranh chấp trong cung đình
Năm 944, Tiền Ngô Vương mất, sai Dương Tam Kha giúp lập thái tử. Dương Tam Kha là anh (có
sách nói là em) Dương Thái hậu cướp ngôi, tự xưng Dương Bình Vương.


Con trưởng Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập chạy về Nam Sách (Hải Dương). Dương Tam Kha lấy
Ngô Xương Văn, con thứ của Ngô Quyền, làm con nuôi. Dương Tam Kha ba lần sai quân đi bắt
Ngô Xương Ngập mà không thực hiện được mệnh lệnh vì hào trưởng Nam Sách là Phạm Lệnh
Công che chở cho Xương Ngập.
Năm 950, Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn đi đánh Thái Bình. Ngô Xương Văn thuyết phục
được 2 tướng Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi dẫn quân quay lại lật đổ Dương Tam Kha giành lại
ngôi vua. Xương Văn không giết Dương Tam Kha, giáng làm Chương Dương công.
Năm 950, Ngô Xương Văn tự xưng làm Nam Tấn Vương, đóng đô ở Cổ Loa. Ngô Xương Văn cho
người đón anh trai Ngô Xương Ngập đang trốn ở Nam Sách trở về.
Ngô Xương Ngập cũng làm vua, tự xưng là Thiên Sách Vương (951-954). Lúc đó cùng tồn tại hai
vua Nam Tấn Vương và Thiên Sách Vương. Lên ngôi vương, Ngô Xương Ngập lấn át quyền hành
của Ngô Xương Văn khiến Xương Văn bất bình rút lui việc chính sự
[1]
.
Nhưng chỉ được 3 năm, đến năm 954, Ngô Xương Ngập bị bệnh chết, chỉ còn một vua Nam Tấn
vương Ngô Xương Văn làm vua.
Loạn lạc
Lúc nhà Ngô suy yếu, một số thủ lĩnh địa phương nổi dậy cát cứ không thần phục triều đình.
Năm 951, Đinh Bộ Lĩnh ở động Hoa Lư - con thứ sử châu Hoan đã mất là Đinh Công Trứ - dựa
vào vùng núi khe hiểm yếu, không chịu tuân lệnh triều đình. Hai vua Ngô muốn cất quân đi đánh;
Bộ Lĩnh sợ, sai con là Đinh Liễn vào triều làm con tin để ngăn chặn việc xuất quân. Hai vua Ngô
vương trách Bộ Lĩnh không tự mình đến chầu, rồi bắt giữ Đinh Liễn đem theo quân đi đánh Hoa
Lư.
Quân Ngô tấn công hơn một tháng, không đánh nổi. Hai vua Ngô bèn treo Đinh Liễn lên ngọn sào,
sai người bảo Bộ Lĩnh, nếu không chịu hàng thì giết Liễn. Nhưng Bộ Lĩnh không vẫn thần phục,
lại sai hơn mười tay nỏ nhắm con mình mà bắn
[2]
. Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn kinh sợ
nói rằng:
"Ta treo con nó lên là muốn để nó đoái tiếc con mà ra hàng cho chóng. Nó tàn nhẫn như

thế, còn treo con nó làm gì".
Vì vậy hai anh em vua Ngô không giết Đinh Liễn mà đem quân về.
Sau khi Thiên Sách vương mất, thủ lĩnh ở quận Thao Giang là Chu Thái quật cường không thần
phục nhà Ngô. Nam Tấn vương thân chinh đi đánh, chém được Chu Thái. Từ trận thắng ấy, Nam
Tấn vương sinh kiêu
[1]
. Năm 965, ông đi đánh thôn Đường và Nguyễn ở Thái Bình, bị phục binh
bắn nỏ chết.
Ngô Xương Văn chết, con của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí nối nghiệp, nhưng thế lực ngày
càng yếu kém. Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, trong triều đình Cổ Loa, các đại
thần họ Kiều, họ Dương làm loạn (có sách lại nói các đại thần làm loạn là Lã Xử Bình và Kiều Tri
Hựu)
[1]
. Xương Xí phải lui về giữ đất Bình Kiều (có sách nói Bình Kiều ở Hưng Yên, lại có thuyết
cho rằng ở Thanh Hoá
[3]
).
Từ 966 hình thành 12 sứ quân cát cứ, sử sách gọi là loạn 12 sứ quân, trong đó có người trong
hoàng tộc nhà Ngô (Ngô Xương Văn, Ngô Nhật Khánh), các tướng nhà Ngô (Phạm Bạch Hổ, Đỗ
Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn) và số lớn là các thủ lĩnh địa phương tự nổi dậy (Kiều Thuận, Trần
Lãm, Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu, Lý Khuê, Lã Đường). Thời kỳ này kéo dài
đến năm 968 thì bị Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong và lập ra nhà Đinh.
Hành chính
Thời Tự chủ, lãnh thổ Tĩnh Hải quân do họ Khúc, họ Dương cai quản chính là vùng đất từ thời
thuộc Đường, gồm có 12 châu
[4]
.
• Giao
• Lục
• Phúc Lộc

• Phong
• Thang
• Trường
• Chi
• Võ Nga
• Võ An
• Ái
• Hoan
• Diễn
Tuy nhiên sang thời Ngô, lãnh thổ chỉ còn 8 châu là
[5]
:
• Giao
• Lục
• Phúc Lộc
• Phong
• Trường
• Ái
• Hoan
• Diễn
Bốn châu: Thang, Chi, Vũ Nga và Vũ An thuộc về Nam Hán. Việc thu hẹp lãnh thổ phía bắc này
không được sử sách ghi chép rõ. Theo ý kiến của Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các
đời: 4 châu này bị Nam Hán chiếm
[6]
, nhưng không rõ vào thời điểm nào: Khi Kiều Công Tiễn cầu
viện đã để quân Hán tiến vào (937) và Ngô Quyền chưa kịp tập hợp lực lượng tiến ra Đại La (938)
hay sau thời điểm trận Đại La, trước trận Bạch Đằng... (cuối năm 938). Theo Nguyễn Khắc Thuần
trong Thế thứ các triều vua Việt Nam, Ngô Quyền bàn giao 4 châu này cho Nam Hán "để tiện việc
phòng thủ"
[5]

, thì việc này có thể xảy ra sau trận Bạch Đằng hoặc Nam Hán đã chiếm được trước đó
mà Ngô Quyền chỉ làm việc công nhận vùng bị mất này thuộc về Nam Hán.
Ngoại giao
Ngô Quyền tự xưng là Ngô vương, sử sách không xác nhận việc ông quan hệ ngoại giao với các
vương triều nào trong số các nước ở phương bắc thời kỳ Ngũ đại Thập quốc.
Năm 942, Lưu Nghiễm chết. Sau cuộc biến loạn năm 943, Lưu Thịnh lên nối ngôi, tức là Nam Hán
Trung Tông.
Năm 954, Xương Ngập chết. Cùng năm, Ngô Xương Văn sai sứ sang giao hảo với Nam Hán và xin
tiết việt. Vua Nam Hán là Lưu Thịnh nhận giao hảo của Xương Văn. Sau đó Lưu Thịnh cho Lý Dư
làm sứ cầm cờ “tinh” sang chiêu dụ nhận Tĩnh Hải quân là phiên thần, lại phong chức Tiết độ sứ,
kiêm Đô hộ cho Ngô Xương Văn
[1]
.
Được tin Lý Dư sắp vào, Ngô Xương Văn cho ngay người đi sang biên giới ngăn lại. Hai bên gặp
nhau ở Bạch châu. Sứ của Xương Văn nói với Lý Dư rằng:
Giặc biển đương làm loạn, đường xá đi lại rất khó.
Lý Dư bèn quay về nước.
Đó là lần ngoại giao duy nhất giữa nhà Ngô và Nam Hán trong 21 năm tồn tại.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×