Tải bản đầy đủ (.doc) (5 trang)

Tài liệu Nuôi trẻ dưới 6 tuổi pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (87.7 KB, 5 trang )

Nuôi trẻ dưới 6 tuổi
Nhu cầu về dinh dưỡng
NUÔI TRẺ DƯỚI 1 TUỔI
I. Nhu cầu về dinh dưỡng
Nhu cầu về dinh dưỡng ở trẻ rất lớn. Trẻ càng nhỏ, càng có nhu cầu cao. Trong những năm đầu của cuộc
sống, đặc biệt là năm đầu tiên, trẻ phát triển rất nhanh . Trẻ được 6 tháng, cân nặng tăng gấp 2 lần so với
khi mới sinh và sẽ tăng gấp 3 lần khi được 12 tháng tuổi. Sau đó tốc độ chậm dần cho tới khi trưởng thành.
1.Protein
Nhu cầu protein sau khi sinh trong 6 tháng đầu trung bình là 21g/trẻ/ngày, 6 tháng sau là 23g/trẻ/ngày, 1-3
tuổi nhu cầu là 28g và từ 4-6 tuổi là 36g và từ 7-9 tuổi là 40g/trẻ/ngày (tính theo protein từ trứng và sữa).
2.Glucid, lipid
Ngoài protein, trẻ còn cần các chất dinh dưỡng khác như glucid, lipid. Nhu vậy muốn đảm bảo cho trẻ phát
triển tốt, cần cung cấp cho trẻ một lượng thức ăn khá lớn và đủ chất. Nhưng cũng ở lứa tuổi này, bộ máy tiêu
hóa của trẻ chưa hoàn chỉnh, nên thức ăn sử dụng cho trẻ phải dễ tiêu hoá, dễ hấp thu.Trẻ phải được ăn
tuần tự từ các loại thức ăn lỏng như sữa, chuyển sang bột loãng, bột đặc rồi cháo và cơm. Nếu không biết
cách cho trẻ ăn, trẻ sẽ bị thiếu về số lượng (trẻ đói) cũng như thiếu về chất lượng (thiếu chất cấu trúc cơ
thể), làm cho trẻ dẽ mắc các bệnh suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, thiếu máu, còi xương và các bệnh dinh
dưỡng khác.
Dưới đây là nhu cầu của trẻ về các chất dinh dưỡng chính ở các lứa tuổi (theo đề nghị của Tổ chức Y tế thế
giới WHO).
Nhu cầu về năng lượng:
Dưới 3 tháng 120Kcal/kg/ngày
Từ 3-6 tháng 115Kcal/kg/ngày
Từ 6-9 tháng 110Kcal/kg/ngày
Từ 9-12 tháng 105Kcal/kg/ngày
3.Vitamin và chất khoáng
Vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể trẻ. Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc ăn thức ăn bổ sung quá
nghèo nàn, không đủ vitamin, trẻ dễ bị mắc bệnh. Ví dụ như thiếu vitamin B1 sẽ bị mắc bệnh Beriberi mà ở
trẻ thì rất nguy hiểm, có thể gây chết đột ngột (thể tim). Vì thế các loại bột xát trắng dễ bị mất vitamin này.
Các loại bột như đậu xanh, đậu đen, các thức ăn như thịt lợn nạc có chứa nhiều vitamin B1. Cần lưu ý nhiều
trường hợp bệnh xảy ra do chế độ ăn của người mẹ sau đẻ quá kiêng khem, làm cho nguồn sữa nghèo


vitamin B1.
Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A là một bệnh thiếu dinh dưỡng rất nguy hiểm mà hậu quả của nó có thể đưa
đến mù loà, đồng thời làm tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong.Bệnh thường gặp ở những trẻ nhỏ, nhất là những
trẻ bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, viêm đường hô hấp và sau khi bị sởi. Muốn phòng bệnh, cần cho trẻ
được bú sữa mẹ, ăn các thức ăn bổ sung da dạng và sử dụng các thực phẩm như lòng đỏ trứng, thịt, cá, sữa,
các loại rau có lá màu xanh sẫm như rau ngót, rau muống, rau dền, các củ, quả có màu da cam, như cà rốt,
đu đủ, xoài, gấc...Đó là nguồn cung cấp viatmin A (caroten), và vitamin C cho trẻ.
Các chất khoáng có nhiều trong sữa mẹ như calci, sắt, với hàm lượng thích hợp và dễ hấp thu. Các thức ăn
bổ sung như thịt, trứng, sữa và các loại đậu đỗ có nhiều sắt, các loại như tôm, cua, rau xanh có nhiều calci.
Vì thế để dảm bảo cho trẻ đủ các chất khoáng, chúng ta cần cho trẻ ăn đầy đủ các loại thức ăn đa dạng từ
nhiều nguồn thực phẩm khác nhau.
Nuôi con bằng sữa mẹ
NUÔI TRẺ DƯỚI 1 TUỔI
I. Nhu cầu về dinh dưỡng
Nhu cầu về dinh dưỡng ở trẻ rất lớn. Trẻ càng nhỏ, càng có nhu cầu cao. Trong những năm đầu của cuộc
sống, đặc biệt là năm đầu tiên, trẻ phát triển rất nhanh . Trẻ được 6 tháng, cân nặng tăng gấp 2 lần so với
khi mới sinh và sẽ tăng gấp 3 lần khi được 12 tháng tuổi. Sau đó tốc độ chậm dần cho tới khi trưởng thành.
1.Protein
Nhu cầu protein sau khi sinh trong 6 tháng đầu trung bình là 21g/trẻ/ngày, 6 tháng sau là 23g/trẻ/ngày, 1-3
tuổi nhu cầu là 28g và từ 4-6 tuổi là 36g và từ 7-9 tuổi là 40g/trẻ/ngày (tính theo protein từ trứng và sữa).
2.Glucid, lipid
Ngoài protein, trẻ còn cần các chất dinh dưỡng khác như glucid, lipid. Nhu vậy muốn đảm bảo cho trẻ phát
triển tốt, cần cung cấp cho trẻ một lượng thức ăn khá lớn và đủ chất. Nhưng cũng ở lứa tuổi này, bộ máy tiêu
hóa của trẻ chưa hoàn chỉnh, nên thức ăn sử dụng cho trẻ phải dễ tiêu hoá, dễ hấp thu.Trẻ phải được ăn
tuần tự từ các loại thức ăn lỏng như sữa, chuyển sang bột loãng, bột đặc rồi cháo và cơm. Nếu không biết
cách cho trẻ ăn, trẻ sẽ bị thiếu về số lượng (trẻ đói) cũng như thiếu về chất lượng (thiếu chất cấu trúc cơ
thể), làm cho trẻ dẽ mắc các bệnh suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, thiếu máu, còi xương và các bệnh dinh
dưỡng khác.
Dưới đây là nhu cầu của trẻ về các chất dinh dưỡng chính ở các lứa tuổi (theo đề nghị của Tổ chức Y tế thế
giới WHO).

Nhu cầu về năng lượng:
Dưới 3 tháng 120Kcal/kg/ngày
Từ 3-6 tháng 115Kcal/kg/ngày
Từ 6-9 tháng 110Kcal/kg/ngày
Từ 9-12 tháng 105Kcal/kg/ngày
3.Vitamin và chất khoáng
Vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể trẻ. Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc ăn thức ăn bổ sung quá
nghèo nàn, không đủ vitamin, trẻ dễ bị mắc bệnh. Ví dụ như thiếu vitamin B1 sẽ bị mắc bệnh Beriberi mà ở
trẻ thì rất nguy hiểm, có thể gây chết đột ngột (thể tim). Vì thế các loại bột xát trắng dễ bị mất vitamin này.
Các loại bột như đậu xanh, đậu đen, các thức ăn như thịt lợn nạc có chứa nhiều vitamin B1. Cần lưu ý nhiều
trường hợp bệnh xảy ra do chế độ ăn của người mẹ sau đẻ quá kiêng khem, làm cho nguồn sữa nghèo
vitamin B1.
Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A là một bệnh thiếu dinh dưỡng rất nguy hiểm mà hậu quả của nó có thể đưa
đến mù loà, đồng thời làm tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong.Bệnh thường gặp ở những trẻ nhỏ, nhất là những
trẻ bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, viêm đường hô hấp và sau khi bị sởi. Muốn phòng bệnh, cần cho trẻ
được bú sữa mẹ, ăn các thức ăn bổ sung da dạng và sử dụng các thực phẩm như lòng đỏ trứng, thịt, cá, sữa,
các loại rau có lá màu xanh sẫm như rau ngót, rau muống, rau dền, các củ, quả có màu da cam, như cà rốt,
đu đủ, xoài, gấc...Đó là nguồn cung cấp viatmin A (caroten), và vitamin C cho trẻ.
Các chất khoáng có nhiều trong sữa mẹ như calci, sắt, với hàm lượng thích hợp và dễ hấp thu. Các thức ăn
bổ sung như thịt, trứng, sữa và các loại đậu đỗ có nhiều sắt, các loại như tôm, cua, rau xanh có nhiều calci.
Vì thế để dảm bảo cho trẻ đủ các chất khoáng, chúng ta cần cho trẻ ăn đầy đủ các loại thức ăn đa dạng từ
nhiều nguồn thực phẩm khác nhau.
Cho ăn bổ sung hợp lý
NUÔI TRẺ DƯỚI 1 TUỔI
I. Nhu cầu về dinh dưỡng
Nhu cầu về dinh dưỡng ở trẻ rất lớn. Trẻ càng nhỏ, càng có nhu cầu cao. Trong những năm đầu của cuộc
sống, đặc biệt là năm đầu tiên, trẻ phát triển rất nhanh . Trẻ được 6 tháng, cân nặng tăng gấp 2 lần so với
khi mới sinh và sẽ tăng gấp 3 lần khi được 12 tháng tuổi. Sau đó tốc độ chậm dần cho tới khi trưởng thành.
1.Protein
Nhu cầu protein sau khi sinh trong 6 tháng đầu trung bình là 21g/trẻ/ngày, 6 tháng sau là 23g/trẻ/ngày, 1-3

tuổi nhu cầu là 28g và từ 4-6 tuổi là 36g và từ 7-9 tuổi là 40g/trẻ/ngày (tính theo protein từ trứng và sữa).
2.Glucid, lipid
Ngoài protein, trẻ còn cần các chất dinh dưỡng khác như glucid, lipid. Nhu vậy muốn đảm bảo cho trẻ phát
triển tốt, cần cung cấp cho trẻ một lượng thức ăn khá lớn và đủ chất. Nhưng cũng ở lứa tuổi này, bộ máy tiêu
hóa của trẻ chưa hoàn chỉnh, nên thức ăn sử dụng cho trẻ phải dễ tiêu hoá, dễ hấp thu.Trẻ phải được ăn
tuần tự từ các loại thức ăn lỏng như sữa, chuyển sang bột loãng, bột đặc rồi cháo và cơm. Nếu không biết
cách cho trẻ ăn, trẻ sẽ bị thiếu về số lượng (trẻ đói) cũng như thiếu về chất lượng (thiếu chất cấu trúc cơ
thể), làm cho trẻ dẽ mắc các bệnh suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, thiếu máu, còi xương và các bệnh dinh
dưỡng khác.
Dưới đây là nhu cầu của trẻ về các chất dinh dưỡng chính ở các lứa tuổi (theo đề nghị của Tổ chức Y tế thế
giới WHO).
Nhu cầu về năng lượng:
Dưới 3 tháng 120Kcal/kg/ngày
Từ 3-6 tháng 115Kcal/kg/ngày
Từ 6-9 tháng 110Kcal/kg/ngày
Từ 9-12 tháng 105Kcal/kg/ngày
3.Vitamin và chất khoáng
Vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể trẻ. Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc ăn thức ăn bổ sung quá
nghèo nàn, không đủ vitamin, trẻ dễ bị mắc bệnh. Ví dụ như thiếu vitamin B1 sẽ bị mắc bệnh Beriberi mà ở
trẻ thì rất nguy hiểm, có thể gây chết đột ngột (thể tim). Vì thế các loại bột xát trắng dễ bị mất vitamin này.
Các loại bột như đậu xanh, đậu đen, các thức ăn như thịt lợn nạc có chứa nhiều vitamin B1. Cần lưu ý nhiều
trường hợp bệnh xảy ra do chế độ ăn của người mẹ sau đẻ quá kiêng khem, làm cho nguồn sữa nghèo
vitamin B1.
Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A là một bệnh thiếu dinh dưỡng rất nguy hiểm mà hậu quả của nó có thể đưa
đến mù loà, đồng thời làm tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong.Bệnh thường gặp ở những trẻ nhỏ, nhất là những
trẻ bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, viêm đường hô hấp và sau khi bị sởi. Muốn phòng bệnh, cần cho trẻ
được bú sữa mẹ, ăn các thức ăn bổ sung da dạng và sử dụng các thực phẩm như lòng đỏ trứng, thịt, cá, sữa,
các loại rau có lá màu xanh sẫm như rau ngót, rau muống, rau dền, các củ, quả có màu da cam, như cà rốt,
đu đủ, xoài, gấc...Đó là nguồn cung cấp viatmin A (caroten), và vitamin C cho trẻ.
Các chất khoáng có nhiều trong sữa mẹ như calci, sắt, với hàm lượng thích hợp và dễ hấp thu. Các thức ăn

bổ sung như thịt, trứng, sữa và các loại đậu đỗ có nhiều sắt, các loại như tôm, cua, rau xanh có nhiều calci.
Vì thế để dảm bảo cho trẻ đủ các chất khoáng, chúng ta cần cho trẻ ăn đầy đủ các loại thức ăn đa dạng từ
nhiều nguồn thực phẩm khác nhau.
Đặc điểm dinh dưỡng
NUÔI TRẺ DƯỚI 1 TUỔI
I. Nhu cầu về dinh dưỡng
Nhu cầu về dinh dưỡng ở trẻ rất lớn. Trẻ càng nhỏ, càng có nhu cầu cao. Trong những năm đầu của cuộc
sống, đặc biệt là năm đầu tiên, trẻ phát triển rất nhanh . Trẻ được 6 tháng, cân nặng tăng gấp 2 lần so với
khi mới sinh và sẽ tăng gấp 3 lần khi được 12 tháng tuổi. Sau đó tốc độ chậm dần cho tới khi trưởng thành.
1.Protein
Nhu cầu protein sau khi sinh trong 6 tháng đầu trung bình là 21g/trẻ/ngày, 6 tháng sau là 23g/trẻ/ngày, 1-3
tuổi nhu cầu là 28g và từ 4-6 tuổi là 36g và từ 7-9 tuổi là 40g/trẻ/ngày (tính theo protein từ trứng và sữa).
2.Glucid, lipid
Ngoài protein, trẻ còn cần các chất dinh dưỡng khác như glucid, lipid. Nhu vậy muốn đảm bảo cho trẻ phát
triển tốt, cần cung cấp cho trẻ một lượng thức ăn khá lớn và đủ chất. Nhưng cũng ở lứa tuổi này, bộ máy tiêu
hóa của trẻ chưa hoàn chỉnh, nên thức ăn sử dụng cho trẻ phải dễ tiêu hoá, dễ hấp thu.Trẻ phải được ăn
tuần tự từ các loại thức ăn lỏng như sữa, chuyển sang bột loãng, bột đặc rồi cháo và cơm. Nếu không biết
cách cho trẻ ăn, trẻ sẽ bị thiếu về số lượng (trẻ đói) cũng như thiếu về chất lượng (thiếu chất cấu trúc cơ
thể), làm cho trẻ dẽ mắc các bệnh suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, thiếu máu, còi xương và các bệnh dinh
dưỡng khác.
Dưới đây là nhu cầu của trẻ về các chất dinh dưỡng chính ở các lứa tuổi (theo đề nghị của Tổ chức Y tế thế
giới WHO).
Nhu cầu về năng lượng:
Dưới 3 tháng 120Kcal/kg/ngày
Từ 3-6 tháng 115Kcal/kg/ngày
Từ 6-9 tháng 110Kcal/kg/ngày
Từ 9-12 tháng 105Kcal/kg/ngày
3.Vitamin và chất khoáng
Vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể trẻ. Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc ăn thức ăn bổ sung quá
nghèo nàn, không đủ vitamin, trẻ dễ bị mắc bệnh. Ví dụ như thiếu vitamin B1 sẽ bị mắc bệnh Beriberi mà ở

trẻ thì rất nguy hiểm, có thể gây chết đột ngột (thể tim). Vì thế các loại bột xát trắng dễ bị mất vitamin này.
Các loại bột như đậu xanh, đậu đen, các thức ăn như thịt lợn nạc có chứa nhiều vitamin B1. Cần lưu ý nhiều
trường hợp bệnh xảy ra do chế độ ăn của người mẹ sau đẻ quá kiêng khem, làm cho nguồn sữa nghèo
vitamin B1.
Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A là một bệnh thiếu dinh dưỡng rất nguy hiểm mà hậu quả của nó có thể đưa
đến mù loà, đồng thời làm tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong.Bệnh thường gặp ở những trẻ nhỏ, nhất là những
trẻ bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, viêm đường hô hấp và sau khi bị sởi. Muốn phòng bệnh, cần cho trẻ
được bú sữa mẹ, ăn các thức ăn bổ sung da dạng và sử dụng các thực phẩm như lòng đỏ trứng, thịt, cá, sữa,
các loại rau có lá màu xanh sẫm như rau ngót, rau muống, rau dền, các củ, quả có màu da cam, như cà rốt,
đu đủ, xoài, gấc...Đó là nguồn cung cấp viatmin A (caroten), và vitamin C cho trẻ.
Các chất khoáng có nhiều trong sữa mẹ như calci, sắt, với hàm lượng thích hợp và dễ hấp thu. Các thức ăn
bổ sung như thịt, trứng, sữa và các loại đậu đỗ có nhiều sắt, các loại như tôm, cua, rau xanh có nhiều calci.
Vì thế để dảm bảo cho trẻ đủ các chất khoáng, chúng ta cần cho trẻ ăn đầy đủ các loại thức ăn đa dạng từ
nhiều nguồn thực phẩm khác nhau.
Cách nuôi trẻ
NUÔI TRẺ TỪ 1 ĐẾN 6 TUỔI
II.Cách nuôi trẻ
Muốn trẻ hay ăn chóng lớn, khoẻ mạnh, với các bữa ăn hàng ngày của trẻ, người mẹ cần tuân thủ một số
nguyên tắc chung dưới đây:
1. Trước hết cần pahỉ chú ý tới vệ sinh thực phẩm và vệ sinh trong ăn uống để phòng tránh nhiễm
khuẩn và bệnh đường ruột ở trẻ
Thức ăn phải đảm bảo chất lượng (tươi tốt). Thức ăn nấu xong chưa ăn ngay, cần chú ý bảo quản (trong tủ
lạnh càng tốt), che đậy cẩn thận chống ruồi nhặng... Đồ dùng đựng thức ăn cho trẻ cần phải sạch sẽ. Người
lớn cho trẻ ăn và trẻ trước khi ăn cần phải rửa tay.
Cần cho trẻ ăn ngay khi thức ăn vừa ấm, nhất là mùa đông. Không cho trẻ ăn khi thức ăn nguội lạnh.
Tuyệt đối không cho trẻ ăn các thức ăn có dấu hiệu hoặc có khả năng nhiễm độc, nhiễm khuẩn, đó là: các
ươn, thịt có mùi, dầu, mỡ có vị chua, khét, trứng để lâu ngày bị ung, quả chín đã có chỗ mủn (nẫu), thức ăn
chín (nhất là thức ăn có thịt, sữa) sau khi nấu xong để lâu quá 3 giờ.
Trong các món ăn của trẻ không dùng gia vị gắt, mặn và những thực phẩm có tính kích thích.
2. Trong khẩu phần của trẻ cần phải đảm bảo đủ, và với một tỷ lệ cân đối

giữa năng lượng và các chất
dinh dưỡng (4 nhóm thức ăn chính), giữa các chấ dinh dưỡng với nhau, trong đó cần chú ý đến tỷ lệ hợp lý
protein động vật và protein thực vật, các loại vitamin (A, B, C,D...), các muối khoáng chính (calci, phospho...).
Căn cứ theo nhu cầu dinh dưỡng dúng độ tuổi với thực phẩm theo mùa, vụ...
Đây là một nguyên tắc người mẹ cần lưu ý, bởi sau khi cai sữa là thời gian trẻ rất dễ bị đau yếu nhất. Hiện
tượng thiếu máu và suy dinh dưỡng cũng thường xuất hiện ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi. Vì thế chế độ ăn trong thời
kỳ này của tr

×