Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

Tài liệu Vinh pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (142.75 KB, 9 trang )

Vinh
Thành phố Vinh là tỉnh lị của tỉnh Nghệ An và đã được Chính phủ quy hoạch để trở thành
trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam
[1]
. Thành phố Vinh hiện là
một trong 4 đô thị loại I của Việt Nam
[2]
.
Điều kiện tự nhiên
Diện tích & Dân số
• Diện tích 105 km².
• Dân số: 438.796 người (2008).
Vinh
Địa lý
Trụ sở Ủy
ban Nhân
dân:
25 - 27 Lê Mao - TP Vinh
Vị trí:
Diện tích: 105 km²
Số
phường/xã:
16 phường, 9 xã
Dân số
Số dân: 438.796 người (2008)
- Nông
thôn
18,84%
- Thành
thị
81,16%


Mật độ: 2.695 người/km²
Thành
phần dân
tộc:
Việt
Hành chính
Chủ tịch
Hội đồng
nhân dân:
Nguyễn Xuân Sinh
Chủ tịch
Ủy ban
nhân dân:
Hoàng Đăng Hảo
Thông tin khác
Điện thoại
trụ sở:
(038)3.840039
Số fax trụ
sở:
(038)3.840039
Địa chỉ
mạng:
/>Hiện quy mô dân số của thành phố Vinh là 438.796 người, trong đó nội thị là 356.159
người. Dự kiến đến năm 2010 là 450.000 người, trong đó nội thị là 375.000 người và đến
năm 2025 quy mô là 800.000 người và nội thị là 685.000 người.
Hiện nay, đất xây dựng đô thị đạt khoảng 2.074 ha, dự kiến nhu cầu sử dụng đất đô thị của
thành phố là 7.307 ha, và đến năm 2025 dự kiến nhu cầu sử dụng đất đô thị mở rộng
khoảng 15.009 ha, trong đó đất tại thành phố Vinh là 8.633 ha và khu mở rộng là 6.376 ha.
Nhằm thực hiện đề án “Phát triển thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá

vùng Bắc Trung bộ” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, từ nay đến năm 2025, thành
phố Vinh sẽ mở rộng địa giới hành chính để có diện tích 250 km². Sau khi mở rộng, diện
tích của thành phố Vinh sẽ bao gồm thành phố Vinh hiện nay và toàn bộ diện tích thị xã
Cửa Lò, phần phía Nam huyện Nghi Lộc, phía Bắc huyện Hưng Nguyên. Ranh giới thành
phố mới sẽ là phía Bắc là đường Nam Cấm, phía Tây là đường tránh Vinh, phía Nam là
sông Lam và phía Đông là biển Đông.
Vị trí địa lý
Thành phố Vinh có tọa độ địa lý từ 18°38'50” đến 18°43’38” vĩ độ Bắc, từ 105°56’30” đến
105°49’50” kinh độ Đông. Vinh là thành phố nằm bên bờ sông Lam, phía Bắc giáp huyện
Nghi Lộc, phía Nam và đông nam giáp huyện Nghi Xuân, phía Tây và Tây nam giáp huyện
Hưng Nguyên. Thành phố cách thủ đô Hà Nội 295 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ
Chí Minh 964 km và cách trung tâm kinh tế miền Trung là thành phố Đà Nẵng 472 km về
phía Nam.
Địa hình
Địa hình Thành phố Vinh được kiến tạo bởi hai nguồn phù sa, đó là phù sa sông Lam và
phù sa của biển. Sau này Sông Lam đổi dòng chảy về mạn Rú Rum, thì miền đất này còn
nhiều chỗ trũng và được phù sa bồi lấp dần. Địa hình bằng phằng và cao ráo nhưng không
đơn điệu.
Khí hậu
Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt và có sự biến động lớn từ
mùa này sang mùa khác.
Nhiệt độ trung bình 24°C, nhiệt độ cao tuyệt đối 42.1°C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 4°C. Độ
ẩm trung bình 85-90%. Số giờ nắng trung bình 1.696 giờ. Năng lượng bức xạ dồi dào,
trung bình 12 tỷ Keal/ha năm, lượng mưa trung bình hàng năm 2.000mm thích hợp cho các
loại cây trồng phát triển.
Có hai mùa gió đặc trưng: Gió tây nam - gió khô xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9 và gió
đông bắc - mang theo mưa phùn lạnh ẩm ướt kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
Hành chính
Các đơn vị hành chính bao gồm:
• 16 phường: Lê Mao, Hà Huy Tập, Đội Cung, Lê Lợi, Hưng Bình, Cửa Nam, Quang

Trung, Trường Thi, Hồng Sơn, Trung Đô, Bến Thuỷ, Đông Vĩnh, Hưng Phúc,
Quán Bàu, Hưng Dũng, Vinh Tân.
• 9 xã: Nghi Phú, Hưng Đông, Hưng Lộc, Hưng Hòa, Nghi Ân, Nghi Kim, Nghi
Liên, Nghi Đức, Hưng Chính.
Xuất xứ tên gọi
Vinh, tên ban đầu có tên là Kẻ Ván. Sau đó, lần lượt đổi thành Kẻ Vinh, Vinh Giang, Vinh
Doanh, Vinh Thi. Cuối cùng, tên chính thức của thành phố được rút gọn lại thành một
tiếng là Vinh và tồn tại mãi cho đến tận bây giờ.
Vinh Doanh là tên trấn thời nhà Lê, có thôn Vĩnh Yên và thôn Yên Vinh, nay là địa bàn
thành phố Vinh. Thôn này sau là làng Vĩnh Yên, thuộc xã Yên Trường, tổng Yên Trường,
huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An. Đến thời nhà Nguyễn, thuộc huyện
Nghi Lộc. Nơi đây có chợ Vĩnh và làng Yên Vinh, còn gọi là làng Vang, là nơi có Tòa
Công sứ Pháp được xây dựng năm 1897 ở ngoài thành Nghệ An, phía tây thành, cạnh sông
Vĩnh Giang và chợ Vĩnh. Theo Đinh Xuân Vịnh, trong Sổ tay địa danh Việt Nam, thì vì
Tòa Công sứ Pháp đóng ở thôn Yên Vinh, nên về sau tên gọi Vinh dần dần thay thế cho tên
gọi cũ là Vĩnh (tiếng địa phương gọi là Vịnh)
[3]
.
Lịch sử
Ngày 1 tháng 10 năm 1788 Hoàng đế Quang Trung đã quyết định cho xây dựng đế đô tại
vùng đất Yên Trường, nay thuộc phường Trung Đô - Thành phố Vinh - Nghệ An và đặt tên
là thành Phượng Hoàng Trung Đô. Và bằng việc xây dựng đơn vị hành chính: Phượng
Hoàng - Trung Đô đã khẳng định vị thế của đất Yên Trường trong sự cân đối hài hòa với
Đông Đô ở miền Bắc, Tây Đô ở miền Nam và trong chiến lược lâu dài của Hoàng đế
Quang Trung là sẽ xây dựng Yên Trường thành kinh đô của đất Việt.
Từ đời vua Gia Long đến các đời vua Tự Đức, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định vùng đất
Yên Trường tiếp tục được coi trọng xây dựng. Dấu tích các cổng Thành cổ Nghệ An đã là
một minh chứng cho công cuộc xây dựng và phát triển vùng đất này.
Ngày 20 tháng 10 năm 1898, vua Thành Thái ra đạo dụ thành lập thị xã Vinh cùng với các
thị xã Thanh Hóa, Huế, Fai-Fo (Hội An ngày nay), Quy Nhơn và Phan Thiết. Ngày 30

tháng 8 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương chuẩn y đạo dụ này. Thị xã lúc đầu bao
quanh thành Nghệ An, sau dần dần phát triển về phía Nam.
Ngày 10 tháng 12 năm 1927, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định hợp nhất thị xã Vinh,
thị xã Bến Thủy (thành lập ngày 11 tháng 3 năm 1914) và thị xã Trường Thi (thành lập
ngày 27 tháng 8 năm 1917) thành Thành phố Vinh - Bến Thủy, do Công sứ Nghệ An kiêm
chức đốc lý (tức thị trưởng).
Khi Việt Nam độc lập năm 1945, Vinh trở thành thị xã tỉnh lị tỉnh Nghệ An. Ngày 10 tháng
10 năm 1963, Vinh trở thành thành phố trực thuộc tỉnh, là đô thị loại III. Trong những năm
chiến tranh chống Mỹ, Vinh là một trong những thành phố miền Bắc bị không quân Mỹ
ném bom tàn phá nặng nề nhất.
Từ năm 1975, Vinh là tỉnh lị tỉnh Nghệ Tĩnh. Sau chiến tranh, thành phố được xây dựng lại
theo kiểu thiết kế đô thị của Đông Đức và Liên Xô như các đại lộ lớn, rộng và các dãy nhà
chung cư. Và từ năm 1991, trở lại tỉnh lị tỉnh Nghệ An và năm 1993 được công nhận là đô
thị loại II.
Ngày 30-9-2005, Chính phủ ban hành Quyết định 239QĐ-CP phê duyệt Đề án xây dựng và
phát triển Vinh trở thành đô thị trung tâm Bắc Trung bộ.
Ngày 5 tháng 9 năm 2008, tại Quyết định số 1210/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã công
nhận TP Vinh là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Nghệ An
[4]
. Hiện nay thành phố đang hướng
tới đô thị trung tâm vùng Bắc Trung Bộ.
Kinh tế
Về cơ cấu kinh tế, dịch vụ chiếm khoảng 55% lao động của toàn thành phố. Tiếp đó là
công nghiệp - xây dựngchiếm 40% và nông lâm nghiệp chiếm phần còn lại (5%).
Thành phố Vinh nằm trên trục giao thông huyết mạch Bắc - Nam về cả đường bộ, đường
sắt, đường biển và đường hàng không, nắm giữ vị trí trọng yếu trên con đường vận chuyển
từ Nam ra Bắc và ngược lại.
Địa danh, văn hóa
Phượng Hoàng Trung Đô
Phượng Hoàng Trung Đô là kinh thành do vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ, 1752-1792)

xây dựng bên dòng sông Lam và núi Dũng Quyết, nay thuộc thành phố Vinh - tỉnh Nghệ
An. Thành được xây vào năm 1788. Tại đây vua Quang Trung đã tập trung 10 vạn quân
trước khi tiến ra Bắc để giành lại thành Thăng Long lúc bấy giờ đang bị quân Thanh xâm
chiếm. Ngôi thành này dự định được xây dựng để thay thế kinh đô Phú Xuân, được đặt tên
theo ý nghĩa chim Phượng Hoàng, một loài chim có trong truyền thuyết. Trung Đô còn có
ý nghĩa là kinh đô nằm giữa vùng lãnh thổ do Quang Trung kiểm soát.
Xem bài chính về Phượng Hoàng Trung Đô.
Thành cổ Nghệ An
Năm 1803, Gia Long ra Bắc, chọn làng Vĩnh Yên nằm phía Tây bắc Dũng Quyết (khu vực
thành cổ bây giờ) xây trấn sở. Năm 1884 chính thức dời trấn từ Dũng Quyết về Vĩnh Yên,
cho xây thành Nghệ An bằng đất. Mãi đến năm 1831 vua Minh Mạng mới cho xây lại
thành bằng đá ong theo kiểu Vô-băng (Vô-băng là tên một tướng Pháp có sáng kiến thiết
kế kiểu thành này). Thành có 6 cạnh, chu vi dài 603 trượng (2.412 m), cao 1 trượng, 1 tấc,
5 thước (4,42 m), diện tích: 420.000 m², bao xung quanh có hào rộng 7 trượng (28 m), sâu
8 thước ta (3,20 m). Lúc khởi công, triều đình nhà Nguyễn đã huy động 1000 lính Thanh
Hoá, 4000 lính Nghệ An. Đến thời Tự Đức, khi nâng cấp phải lấy 8599 phiến đá sò từ
Diễn Châu và đá ong từ Nam Đàn, 4.848 cân vôi, 155 cân mật mía, với tổng kinh phí là
3.688 quan tiền.
Thành cổ có 3 cửa ra vào. Cửa tiền là cửa chính hướng về phía Nam, cửa để vua ngự giá,
các quan trong lục bộ triều đình và tổng đốc ra vào. Cửa Tả hướng về phía đông, Cửa hữu
hướng về phía Tây. Muốn đi qua các cửa đều phải qua một cái cầu. Bên trong, công trình
lớn nhất là hành cung, phía đông hành cung có dinh thống đốc, phía nam có dinh bố chánh
và án sát, dinh lãnh binh, dinh đốc học, phía bắc có trại lính và nhà ngục. Sau này phía tây
có nhà giám binh người Pháp. Toàn bộ được trang bị 65 khẩu thần công, 47 khẩu đặt ở các
vọng gác, số còn lại tập trung ở hành cung và dinh thống đốc.
Trải qua nhiều biến cố của lịch sử và sự phá hoại của chiến tranh, di tích thành cổ hầu như
không còn lại gì, chỉ còn lại 3 cổng thành và khu hồ bao quanh. Tỉnh Nghệ An và Thành
phố Vinh đã có quy hoạch khôi phục lại di tích và cải tạo thành một công viên văn hoá lớn
của thành phố.
Cồn Mô - Ngã ba Bến Thủy

Cồn Mô được xây dựng thành tượng đài kỷ niệm cuộc đấu tranh của nhân dân Nghệ An
trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh năm 1930 - 1931, với chiều cao 10m, rộng 16.2m.
Trên tượng đài khắc biểu tượng búa liềm, mặt trước gắn biểu tượng trống Xô Viết. Trên
nền bia còn khắc ghi lại những sự kiện lịch sử diễn ra ở Cồn Mô.
Khu di tích ngã ba Bến Thủy có diện tích 6.400 m². Qua thời gian và chiến tranh tàn phá,
cảnh vật thay đổi, cột điện lịch sử đã không còn nữa. Nhưng tại đây, để ghi lại sự kiện lịch
sử anh hùng của nhân dân, tỉnh Nghệ An và chính quyền thành phố Vinh đã xây dựng
tượng đài công nông binh để giáo dục truyền thống đấu tranh anh dũng của cha anh.
Đền thờ Vua Quang Trung
Đền thờ Vua Quang Trung được xây dựng với ý nghĩa muôn đời ghi nhớ công lao to lớn
và tôn vinh sự nghiệp vĩ đại của Hoàng Đế Quang Trung, góp phần nêu cao truyền thống
yêu nước cho các thế hệ mai sau. Đền toạ lạc trên đỉnh thứ 2 núi Dũng Quyết, cao 92m so
với mực nước biển, nơi cách đây 220 năm, ngày 1/10/1788 Vua Quang Trung hạ chiếu cho
xây dựng Phượng Hoàng - Trung Đô. Đó được xem là đất tứ linh có 4 chi: Chi hướng về
Tây gọi là Long thủ (đầu Rồng), chi hướng phía Đông Nam gọi là Phượng dự (cánh
Phượng Hoàng), chi hướng về Đông Bắc gọi là Quy bối (lưng Rùa), chi hướng về phía Tây
Nam gọi là Kỳ Lân (con Mèo).
Công trình bao gồm các hạng mục chính: Khu Tiền đường diện tích 180 m², khu Trung
đường diện tích 160 m² và khu Hậu cung 60 m², nhà Tả vu, Hữu vu, diện tích mỗi nhà 80
m².
Chùa Cần Linh
Chùa được xây dựng từ thời nhà Lê, trên một vùng đất, trước đây thuộc Làng Vang, tổng
Yên tường, huyện Hưng Nguyên. Nay thuộc phường Cửa Nam thành phố Vinh. Chùa thờ
Phật Thích Ca - vị tổ của đạo Phật - và các vị sư tăng đã từng trụ trì trong chùa, trong
vùng. Tổng diện tích: 5.208 m², gồm có các kiến trúc sau: Tam quan, bái đường, chính
điện, tăng đường, nhà tả vu, hữu vu. Hàng năm, chùa có tổ chức rất nhiều các ngày lễ.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×