Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

Hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai tự nộp thuế ở Phú Yên.pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (803.58 KB, 89 trang )

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thanh tra, kiểm tra là một trong những hoạt động hết sức quan trọng nhằm đảm
bảo an toàn, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trong nền sản xuất hàng hoá, vận
hành theo cơ chế thị trường. Trong đó, thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những hoạt
động mang tính chất đặc thù. Thanh tra, kiểm tra thuế trong thời gian qua không chỉ có
những đóng góp đáng kể vào chống thất thu thuế mà còn nhằm đảm bảo công bằng,
động viên đối với các chủ thể kinh tế phát huy nguồn lực của mình đẩy mạnh sản xuất,
nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, thanh tra, kiểm tra thuế vẫn còn có những hạn
chế đòi hỏi phải được nghiên cứu nhằm cải tiến, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa để đáp
ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra. Với sự đòi hỏi cấp thiết đó, chúng tôi chọn đề tài:
“ HOÀN THIỆN THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI -
TỰ NỘP THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ YÊN ” làm luận văn thạc sỹ kinh tế.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
- Góp phần làm rõ lý luận về thanh tra, kiểm tra nói chung và trong ngành thuế
nói riêng.
- Khẳng định sự cần thiết khách quan của việc tăng cường đổi mới, hoàn thiện
thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
- Nghiên cứu thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế trên địa bàn tỉnh Phú Yên giai
đoạn 2003-2007, trên cơ sở đó rút ra những thành tựu và những nguyên nhân hạn chế
của thanh tra, kiểm tra thuế tại tỉnh Phú Yên.
- Trên cơ sở định hướng đổi mới, hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế
tự khai, tự nộp và những nguyên nhân hạn chế, luận văn đề xuất giải pháp đẩy nhanh
vững chắc thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế trên địa bàn tỉnh
Phú Yên.
3.

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế.
- 2 -
- Phạm vi nghiên cứu là thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế tại tỉnh Phú Yên thời


gian qua. Trên cơ sở đó tìm kiếm, đề xuất giải pháp đẩy nhanh vững chắc thanh tra,
kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp góp phần phát triển sản xuất, kinh doanh trên
địa bàn tỉnh Phú Yên.
Các vấn đề khác được đề cập trong luận văn chỉ nhằm phục vụ cho việc làm rõ
mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài có nhiều giải pháp thiết thực phù hợp với thực tiễn công tác thanh tra,
kiểm tra thuế ở Phú Yên hiện tại và trong thời gian tới. Tạo cơ sở khoa học cho Cục
thuế tỉnh Phú Yên có những định hướng và quyết định trong quản lý thuế mang lại
hiệu quả cao. Mặt khác đề tài cũng là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người
quan tâm đến lĩnh vực thuế, chống thất thu thuế nhằm đảm bảo công bằng, động viên
đối với các chủ thể kinh tế phát huy nguồn lực của mình đẩy mạnh sản xuất, nâng cao
năng suất lao động.
5. KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có 3 Chương:
Chương I: Lý luận tổng quan về cơ chế tự khai tự nộp thuế.
Chương II: Thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế
trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự
nộp trên địa bàn tỉnh Phú yên.
Nội dung cụ thể từng chương của luận văn như sau:







- 3 -
Chương I

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP THUẾ
1.1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP THUẾ
1.1.1. Khái niệm cơ chế TKTN:
- Tự khai - tự nộp (Self assessment): tự xác định (lượng giá) căn bản thuế nhằm
mục đích tính thuế.
- Tự khai - tự nộp: nghĩa hẹp, đối tượng nộp thuế tự xác định căn bản thuế, tự
tính thuế, tự xác định số thuế phải nộp và tự nộp thuế theo đúng thời hạn qui định.
- Tự khai - tự nộp: nghĩa rộng, đang được sử dụng: là một phương thức quản lý
thuế được xây dựng trên nền tảng sự tuân thủ của ĐTNT được cụ thể bằng việc ĐTNT
tự thực hiện các nghĩa vụ mà Luật qui định và cơ quan thuế được tổ chức và thực hiện
các biện pháp quản lý thuế phù hợp với nguyên tắc đó.
Từ đó ta có khái niệm về cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế:
Tự kê khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó người nộp thuế tự giác
tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế: người nộp thuế căn cứ các qui định tại các Luật
thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế và nộp
thuế đúng thời hạn. Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của
người nộp thuế nếu người nộp thuế tự giác tuân thủ nghĩa vụ. Cơ quan thuế có trách
nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện
nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp
thuế và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn
những hành vi gian lận, trốn thuế của người nộp thuế. Việc giám sát, kiểm tra của cơ
quan thuế được thực hiện trên cơ sở có đầy đủ thông tin về người nộp thuế và thực
hiện phân tích thông tin, đánh giá những rủi ro để lựa chọn chính xác những trường
hợp có vi phạm cần thanh tra, kiểm tra. Điều này sẽ giúp khắc phục được việc thanh
tra, kiểm tra tràn lan, gây lãng phí nguồn lực cho cơ quan thuế và phiền hà cho người
nộp thuế.
[20]


- 4 -

1.1.2. Các điều kiện để thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế:
Để thực hiện tốt cơ chế tự khai, tự nộp thuế đòi hỏi phải có đầy đủ và đồng bộ
nhiều yếu tố như: trình độ và sự nhận thức của người dân về nghĩa vụ thuế, chính sách
thuế, tổ chức quản lý thuế, nghiệp vụ quản lý thuế, trình độ của công chức thuế và các
thẩm quyền cần thiết của cơ quan thuế trong quản lý thuế:
- Người dân phải có được hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ thuế, ĐTNT có ý thức
tuân thủ nghĩa vụ thuế, cộng đồng lên án những hành vi gian lận trốn thuế.
- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan
thuế những thông tin về ĐTNT có liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của
ĐTNT.
- Chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hiện như : thuế GTGT chỉ có
1 mức thuế suất, ít miễn giảm trong thuế thu nhập doanh nghiệp…, các qui định về kê
khai, nộp thuế thuận lợi, phù hợp với điều kiện kinh doanh của đối tượng nộp thuế.
- Bộ máy quản lý thuế ở cơ quan thuế các cấp phải tổ chức tập trung theo các
chức năng: tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT; theo dõi, xử lý việc kê khai thuế; đôn đốc thu
nợ và cưỡng chế thuế; thanh tra, kiểm tra thuế để nhằm chuyên môn hóa, nâng cao
năng lực quản lý thuế ở từng chức năng. Trên cơ sở đó có:
+ Hệ thống dịch vụ hỗ trợ ĐTNT toàn diện, có chất lượng.
+ Hệ thống cưỡng chế thuế, thu nợ có hiệu quả.
+ Hệ thống thanh tra, kiểm tra có mục tiêu rõ ràng.
- Hệ thống xử phạt nghiêm khắc. Cơ quan thuế có đủ thẩm quyền về điều tra, đủ
điều kiện về cưỡng chế thuế để phát hiện và xử lý nghiêm, kịp thời những trường hợp
gian lận, trốn thuế, chây ỳ nợ thuế, thu hồi đủ tiền thuế cho NSNN và đảm bảo sự công
bằng trong quản lý thuế.
- Hệ thống giải quyết khiếu nại hoạt động có hiệu quả.
- Quản lý thuế phải dựa trên kỹ thuật quản lý hiện đại- kỹ thuật quản lý rủi ro,
trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả quản lý thông qua việc tập trung phân bổ nguồn lực


- 5 -

quản lý đối với các đối tượng nộp thuế không tuân thủ nghĩa vụ thuế gây rủi ro cao,
ảnh hưởng lớn đến nguồn thu NSNN.
Để thực hiện được quản lý thuế theo kỹ thuật quản lý rủi ro, cơ quan thuế cần
phải có:
+ Thông tin đầy đủ và liên tục về ĐTNT trong một khoảng thời gian nhất định
(ít nhất là 5 năm). Trên cở các thông tin đó cơ quan thuế phân tích, phân loại ĐTNT để
xác định biện pháp quản lý phù hợp với từng đối tượng.
+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tập hợp, khai thác, sử dụng thông tin
về ĐTNT và ở tất cả các hoạt động quản lý của cơ quan thuế.
- Quy trình quản lý của cơ quan thuế tốt và được hỗ trợ tin học hoá
- Công chức thuế được đào tạo có đủ kiến thức, năng lực để thực hiện quản lý
thuế chuyên sâu, chuyên nghiệp theo từng chức năng quản lý. [20]
1.1.3. Các đặc trưng về quản lý:
- Trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn, nhất là trách nhiệm về hành vi, được qui
định rõ ràng cho từng phía: chủ thể quản lý - cơ quan thuế và đối tượng quản lý -
ĐTNT.
- Dân chủ trong quan hệ giữa cơ quan quyền lực Nhà nước và ĐTNT.
- Nhà nước (cơ quan thuế) không can thiệp và không làm thay trách nhiệm của
ĐTNT.
- Nhà nước (cơ quan thuế) chuyển đổi từ việc chủ yếu dùng quyền lực để quản
lý chuyển sang lấy hỗ trợ là chính. Đây là nền tảng cho một cuộc cải cách toàn diện hệ
thống quản lý thuế (cải cách thể chế, cải cách bộ máy, cải cách phương pháp quản lý,
cải cách các thủ tục hành chính…) .
- Chế độ kiểm tra thuế của cơ quan thuế được chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu
kiểm”.
[20]
1.1.4. Sự cần thiết phải chuyển đổi theo cơ chế tự kê khai, tự tính thuế và
nộp thuế:



- 6 -
Thứ nhất: Đối với tổ chức, cá nhân nộp thuế
- Được quyền tự thực hiện các nghĩa vụ của mình.
- Ngoài các trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn được qui định một cách rõ ràng,
các quyền của người nộp thuế được xác lập và có xu hướng tăng (đối lại đối với cơ
quan thuế là giảm).
- Tăng cơ hội bảo vệ các lợi ích cho chính doanh nghiệp ( tự mình hoặc có sự
trợ giúp từ bên ngoài, nhất là đối với các quyết định đưa ra từ phía cơ quan thuế mà
doanh nghiệp cho rằng quyết định đó xâm phạm đến quyền lợi của doanh nghiệp).
- Được cơ quan thuế, các công chức thừa hành trong hệ thống ngành thuế tôn
trọng.
- Được hưởng các dịch vụ thuế ngày càng có chất lượng hơn do thành quả thu
được từ công cuộc cải cách hành chính từ phía cơ quan thuế, tiết kiệm được chi phí,
các phiền hà trong hành chính được giảm thiểu.
- Được hưởng sự hỗ trợ tối đa của cơ quan thuế trong việc cung cấp các thông
tin, phương tiện, các trợ giúp để kê khai thuế, nộp thuế vì đây là nhiệm vụ chính của cơ
quan thuế.
[20]
Thứ hai: Đối với cơ quan thuế
- Cơ quan thuế có điều kiện để cải tiến cơ cấu tổ chức nhằm sử dụng hiệu quả
nhất các nguồn lực hiện có, công tác quản lý thuế được tổ chức theo hướng ngày càng
hiện đại và chuyên môn hóa.
- Cơ quan thuế có điều kiện tập trung nguồn lực vào công tác phục vụ, hỗ trợ
các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh hiểu và
tự giác thực hiện các nghĩa vụ thuế của mình đối với NSNN.
- Cơ quan thuế có điều kiện để tăng cường thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế thuế
có hiệu quả hơn đối với người nộp thuế có khả năng rủi ro cao trong việc không tuân
thủ thực hiện nghĩa vụ thuế.



- 7 -
- Triển khai thực hiện cơ chế này sẽ tạo điều kiện cho ngành thuế đẩy mạnh hiện
đại hoá quản lý thuế mà cụ thể là đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin trong
quản lý thuế. [20]
1.2.SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN NÂNG CAO VAI TRÒ THANH
TRA, KIỂM TRA THUẾ THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI, TỰ NỘP THUẾ
1.2.1. Mục đích, yêu cầu của thanh tra, kiểm tra thuế:
1.2.1.1. Khái niệm về thanh tra, kiểm tra thuế:
a. Khái niệm về thanh tra thuế:
Thanh tra ( tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có
nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt
động của một số đối tượng nhất định. Theo Từ điển pháp luật Anh-Việt, thanh tra “là
sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”.Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải
thích thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm
quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định -sự tác động có tính trực thuộc”.
Theo Từ điển tiếng Việt “ thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa
phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm:
“ xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”. Thanh tra thường đi kèm
với một chủ thể nhất định: “ người làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra của Bộ”
và “đặt trong phạm vi quyền hạn của chủ thể nhất định.
Như vậy Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt
động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường
được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích
cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp
của cơ quan, tổ chức và cá nhân”.
[23]



- 8 -
Từ phân tích trên ta có khái niệm thanh tra thuế: là một chức năng thiết yếu
trong quản lý thuế, kiểm tra, xem xét việc tuân thủ pháp luật thuế của người nộp
thuế được cơ quan thuế thực hiện theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định
nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực,
phòng ngừa, xử lý các vi phạm pháp luật về thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế
quản lý thuế, chính sách thuế, pháp luật thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp
thuế.
b. Khái niệm về kiểm tra thuế:
Theo Từ điển tiếng Việt thì “ kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá,
nhận xét”. Xét về chủ thể thì phạm vi chủ thể tiến hành hoạt động kiểm tra đa dạng hơn
thanh tra rất nhiều. Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc cũng có thể là
một chủ thể phi nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm tra của một tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội (Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…), hoạt
động kiểm tra trong nội bộ một doanh nghiệp: kiểm tra của Giám đốc đối với các
phòng, ban, kiểm tra của Quản đốc đối với nguời lao động. Trên một bình diện rộng
hơn nữa, kiểm tra có thể là sự xem xét thực tế để đánh giá, nhận xét của bất kỳ một cá
nhân nào trong xã hội trong bất cứ hoạt động nào.Theo nghĩa hẹp kiểm tra là hoạt động
của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác minh việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem
có phù hợp hay không phù hợp trạng thái đã quy định trước. Chủ thể kiểm tra có thể áp
dụng một chế tài pháp lý nhất định như áp dụng xử phạt vi phạm hành chính hoặc buộc
phải thực hiện một số biện pháp ngăn chặn hành chính. Khái niệm kiểm tra nằm trong
khái niệm thanh tra “ tổ chức thanh tra là công cụ đắc lực của Đảng, của chính quyền
trong việc kiểm tra sự chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật, kế hoạch
của Nhà nước, Pháp lệnh thanh tra năm 1990 cũng quy định: “Thanh tra Bộ, Ủy ban
Nhà nước hướng dẫn, kiểm tra thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý
(Điều 14).
[23]



- 9 -
Từ sự phân tích trên, ta có khái niệm kiểm tra thuế là hoạt động xem xét
tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra để đánh giá, nhận xét và xử lý của
cơ quan thuế đối với việc thực hiện pháp luật thuế của người nộp thuế và công tác
quản lý, hành thu, kiểm tra của cán bộ thuế.
c. Sự đồng nhất và khác biệt giữa thanh tra và kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra là chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động
mang tính chức năng của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính phản hồi (rà soát,
nhiều khi là phản ứng lại) đối với chu trình quản lý nhằm phân tích, đánh giá, theo dõi
mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế có sự đồng nhất là về bản chất và đều có mục
đích, yêu cầu chung là xem xét, đánh giá việc tuân thủ, chấp hành chính sách, pháp luật
thuế (là đối tượng của kiểm tra, thanh tra) từ đó rút ra kết luận đúng, sai để có biện
pháp phát huy hoặc chấn chỉnh.
Tuy nhiên hoạt động thanh tra và kiểm tra thuế có sự khác biệt:
- Khác nhau về nội dung: Nội dung kiểm tra thuế thường dễ dàng nhận thấy,
ngược lại nội dung thanh tra thuế thường đa dạng, phức tạp hơn (phân biệt này có tính
tương đối).
- Khác nhau về trình độ nghiệp vụ: hoạt động thanh tra thuế đòi hỏi thanh tra
viên thuế phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu rộng về kinh tế xã hội, có khả năng chuyên
sâu vào một lĩnh vực. Hoạt động kiểm tra thuế ít phức tạp và chủ thể lại gồm đối tượng
rộng, có tính quần chúng, phổ biến nên trình độ công chức kiểm tra thuế không nhất
thiết phải đòi hỏi có nghiệp vụ cao.
- Khác nhau về phạm vi hoạt động: phạm vi hoạt động kiểm tra thuế thường
theo bề rộng, mang tính thường xuyên với nhiều hình thức phong phú. Phạm vi hoạt
động của thanh tra thuế thường có sự chọn lọc, đôi khi thông qua kiểm tra thuế thấy
dấu hiệu phức tạp cần chọn ra những vấn đề để thanh tra.



- 10 -
- Khác nhau về thời gian tiến hành: hoạt động thanh tra thuế thường phải sử
dụng dài hơn.
- Thanh tra thuế mang tính pháp lý cao hơn, thể hiện quyền lực của Nhà nước
mạnh hơn được quy định trong các văn bản pháp lý, việc thanh tra phải tiến hành theo
thẩm định, trình tự, thủ tục chặt chẽ theo pháp luật (luật thanh tra).
[23]
1.2.1.2. Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế TKTN:
- Trong chính sách thuế, mỗi ĐTNT phải tự xác định số thuế mà họ phải nộp.
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là nhằm chắc chắn rằng tiền thuế được tính toán
đúng, phát hiện và ngăn ngừa những hành vi gian lận, trốn thuế.
- Thanh tra, kiểm tra thuế đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục
tiêu của cơ quan thuế là thu đủ các loại thuế qui định trong luật trên cơ sở khuyến
khích sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế và duy trì sự tin tưởng của công chúng
vào tính thống nhất của chính sách thuế.
- Thanh tra, kiểm tra thuế là việc kiểm tra sổ sách và các chứng từ của người
nộp thuế để xác định một cách chính xác số tiền thuế, tiền phạt phải nộp theo quy định
của pháp luật, bên cạnh đó cơ quan thuế phải cung cấp thông tin, tài liệu hướng dẫn và
tuyên truyền hướng dẫn người nộp thuế.
- Tự kê khai, tự nộp thuế chỉ có thể được duy trì thông qua việc kiểm tra hồ sơ
khai thuế của người nộp thuế một cách thận trọng và thường xuyên. Mục đích của
thanh tra, kiểm tra thuế là giám sát và duy trì sự vận hành chính sách tự khai, tự nộp
thuế.
- Thanh tra, kiểm tra thuế là một yếu tố tác động mạnh đến ý thức tuân thủ tự
nguyện của người nộp thuế, sự liên hệ giữa người nộp thuế và công chức thuế trong
quá trình thanh tra thúc đẩy môi trường mà người nộp thuế nhận thấy cả người nộp
thuế và công chức thuế phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo pháp luật thuế.
[20]





- 11 -
1.2.1.3. Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế:
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là nhằm phát huy nhân tố tích cực, ngăn
ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của
các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa.
Để đạt được mục đích trên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân thủ
những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật:
Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.
Thanh tra, kiểm tra thuế là việc thực hiện pháp luật nên thanh tra, kiểm tra thuế cũng
phải tuân theo pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của
chủ thể thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra thuế;
ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động thanh tra, kiểm tra.
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan và công chức thanh tra, kiểm tra
thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật qui định;
xem xét đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào qui định của pháp luật mà
không tuân theo ý kiến tác động của bất cứ một cơ quan hoặc một cá nhân nào.
Thứ hai, nguyên tắc chính xác, khách quan:
Đảm bảo chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong hoạt
động thanh tra, kiểm tra. Có chính xác trong công tác thanh tra, kiểm tra mới cho phép
đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, giúp cho việc xử lý đúng người, đúng
việc, đúng pháp luật.
Nguyên tắc khách quan đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tôn
trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng đúng như nó vốn có, không suy diễn hay qui
chụp một cách tùy tiện chủ quan. Tính khách quan và chính xác trong thanh tra, kiểm
tra có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Có thái độ khách quan, không



- 12 -
thiên vị mới đảm bảo tính chính xác trong đánh giá, kết luận vấn đề và ngược lại, có
chính xác mới thể hiện được việc làm khách quan.
Để thực hiện nguyên tắc này, đòi hỏi chủ thể thanh tra, kiểm tra phải có quan
điểm đúng đắn, có bản lĩnh vững vàng và phải có kiến thức, năng lực cao.
Thứ ba, nguyên tắc công khai, dân chủ và kịp thời:
Công khai trong hoạt động thanh tra, kiểm tra tức là phải được dân biết, dân
bàn, dần làm, dân kiểm tra để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân. Việc
công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như sau: công khai quyết định thanh tra, công
khai tiếp xúc với các đối tượng có liên quan và công khai kết luận thanh tra. Tuy nhiên,
tuỳ theo tính chất vụ việc mà có hình thức công khai cho phù hợp, trong phạm vi cho
phép, vừ đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của
Nhà nước và công dân, vừa đảm bảo hiệu quả thanh tra, kiểm tra cao nhất.
Dân chủ trong hoạt động kiểm tra, thanh tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan,
tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc. Phải lôi cuốn quần chúng nhân dân tham gia
hoạt động thanh tra, kiểm tra, đấu tranh, ngăn ngừa, đẩy lùi tiêu cực, phát huy các nhân
tố tích cực. Đồng thời cũng chính nhân dân là lực lượng thúc đẩy các quyết định, kiến
nghị của thanh tra. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu
thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra, kiểm
tra trình bày ý kiến của mình, nhất là khi xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân, cần tránh mọi biểu hiện tự mãn, áp đặt chủ quan, bất chấp ý kiến của người khác.
Kịp thời cũng là nguyên tắc quan trọng trong thanh tra, kiểm tra nhằm nhanh
chóng khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý của Nhà nước. Để đảm bảo
tính kịp thời trong thanh tra, kiểm tra, cần qui định cụ thể thời gian đối với từng vụ
việc thanh tra, kiểm tra, tùy theo qui mô, tính chất phức tạp của vụ việc, tùy theo số
lượng và chất lượng của đội ngũ công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra.
Thứ tư, nguyên tắc bảo vệ bí mật:



- 13 -
Cần quán triệt nguyên tắc này trong thanh tra, kiểm tra thuế vì trong quá trình
thanh tra, kiểm tra, người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên
quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp và bí mật quốc gia. Nếu để lộ
cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại đến lợi ích của quốc gia và
các doanh nghiệp. Do vậy, họ chỉ cần báo cáo cho những người có thẩm quyền được
biết.
Quán triệt nguyên tắc này không hề mâu thuẫn với nguyên tắc công khai, vì việc
công khai được thực hiện với những vấn đề được phép công khai, nên công khai và
phải công khai. Những vấn đề bí mật thì cần được bí mật.
Thứ năm, nguyên tắc hiệu quả:
Nguyên tắc này đòi hỏi thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả,
nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm. Phải đảm bảo
giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế.
Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo cho thanh tra, kiểm tra thuế đạt được
mục đích của nó.
Thực hiện đầy đủ các nguyên tắc trên đây chính là các điều kiện để thực hiện
đúng mục đích, yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ của thanh tra, kiểm tra một cách có hiệu
quả cao nhất, góp phần phát huy dân chủ XHCN và tăng cường hiệu lực quản lý của
Nhà nước.
[20]
1.2.2. Nội dung của thanh tra, kiểm tra thuế:
1.2.2.1. Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế:
Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế là nội dung cơ bản và quan trọng nhất của
công tác thanh tra thuế. Theo quy định của pháp luật, người nộp thuế phải thực hiện
đầy đủ việc đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, chế độ hạch toán kế toán, hoá đơn,
chứng từ…Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều đối tượng vi phạm các quy định trên, vì
vậy phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra người nộp thuế nhất là theo cơ chế tự



- 14 -
khai tự nộp thuế, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi sai phạm. Nội
dung của công tác thanh tra, kiểm tra người nộp thuế bao gồm:
- Kiểm tra, thanh tra việc đăng ký, kê khai thuế, chế độ mở sổ sách kế toán,
chứng từ, hóa đơn.
- Kiểm tra, thanh tra quyết toán thuế.
- Kiểm tra, thanh tra việc hoàn thuế, khấu trừ thuế.
- Kiểm tra, thanh tra miễn giảm thuế.
1.2.2.2 Thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế:
Thanh tra, kiểm tra nội bộ là một quá trình các công chức thanh tra kiểm tra lại
các công chức kiểm tra, kiểm soát, các công chức quản lý thu, công chức thuế trong
việc thực hiện chức năng nghề nghiệp của mình. Công tác kiểm tra, thanh tra nội bộ do
Phòng kiểm tra nội bộ thuộc Cục thuế đảm trách. Các công chức kiểm tra nội bộ được
sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo Cục thuế sẽ tiến hành kiểm tra các phòng thuộc Cục thuế
và các Chi cục thuế quận, huyện để xem xét việc thực hiện chức năng của từng bộ
phận, của công chức thuế có làm việc vô tư, công bằng, nghiêm minh đối với người
nộp thuế hay không? Có tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình của từng bộ phận công tác
không?. Nhằm đạt được mục đích: thực hiện nghiêm chỉnh các luật thuế hiện hành,
thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời số thu vào NSNN, đảm bảo hoàn thành kế
hoạch thu Nhà nước giao, góp phần củng cố đội ngũ công chức ngành thuế, góp phần
chống tiêu cực trong nội bộ ngành thuế, đưa công tác chỉ đạo và quản lý thu thuế vào
nề nếp, tổ chức xây dựng ngành thuế ngày càng vững mạnh.
[24]
1.2.3. Sự cần thiết phải nâng cao vai trò thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ
chế tự khai, tự nộp thuế:
Kiểm tra, thanh tra thuế là một phạm trù lịch sử gắn liền với sự tồn tại và phát
triển của Nhà nước nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước thực
hiện quản lý kinh tế - xã hội thông qua việc đề ra hệ thống luật lệ, các chính sách, chế
độ quản lý để điều chỉnh các quan hệ và cưỡng chế các pháp nhân, thể nhân trong xã



- 15 -
hội phải tuân thủ. Trong điều kiện đó, kiểm tra, thanh tra là hết sức cần thiết để đảm
bảo pháp luật Nhà nước được thực thi nghiêm minh, quyền và lợi ích Nhà nước, của
công dân được đảm bảo.
Hiện nay, để thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế đạt hiệu quả thì chức năng
thanh, kiểm tra là một mắc xích vô cùng quan trọng trong việc phòng ngừa, phát hiện,
ngăn chặn hành vi trốn thuế, gian lận về thuế. Kiểm tra, thanh tra thuế là một đòi hỏi
bức thiết, là yêu cầu khách quan xuất phát từ những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, thuế là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước trong việc kiểm soát,
quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập
của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, đảm bảo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà
nước. Quá trình thực thu các luật thuế có nghiêm minh hay không sẽ ảnh hưởng quyết
định đến hiệu quả sử dụng công cụ thuế. Bởi vậy, tăng cường công tác kiểm tra, thanh
tra thuế nhằm đảm bảo phát huy tối đa chức năng, vai trò của thuế đối với nền kinh tế -
xã hội.
Thứ hai, luật thuế nói chung và pháp lệnh thuế nói riêng là sự thể hiện ý chí và
nguyện vọng của nhân dân. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật thuế ở nước ta còn đang
trong quá trình cải cách, chưa thật hoàn chỉnh, do vậy cần thiết phải tăng cường công
tác kiểm tra, thanh tra thuế nhằm phát hiện những bất hợp lý, những sai sót trong hệ
thống chính sách thuế để sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với thực tiễn, làm cho
pháp luật luôn là công cụ có hiệu lực trong lãnh đạo, quản lý nhà nước.
Thứ ba, trốn lậu thuế là một tồn tại không thể tránh khỏi trong bất kỳ một nền
kinh tế nào. Ở nước ta, vấn đề này càng trở nên búc xúc, nhất là trong điều kiện thực
hiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp hiện nay, đề cao tính tự giác của người
nộp thuế qua việc tự tính, tự khai, tự nộp. Vì vậy, cần phải tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra thuế để ngăn chặn kịp thời các hành vi khai man, trốn lậu thuế, đảm bảo
tính bình đẳng giữa những người nộp thuế. Mặt khác, trong thực tiễn một số công chức
thuế do hạn chế về trình độ chuyên môn hoặc do thái hóa, biến chất mà có những biểu



- 16 -
hiện vi phạm pháp luật, gây thất thu ngân sách hoặc gây thiệt hại cho đối tượng nộp
thuế. Kiểm tra, thanh tra là nhằm phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa những sai phạm
đó, để đảm bảo các luật thuế được thực thi một cách nghiêm minh.
[20]

1.3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM TỪ TỔ CHỨC
THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI:
Khảo sát kinh nghiệm từ các quốc gia cho thấy mô hình hiện đại hoá công tác
quản lý thuế bao gồm 4 thành phần chủ yếu: chiến lược, tổ chức nhân sự, quy trình tác
nghiệp và công nghệ.
Bốn thành phần này đều thống nhất và xuyên xuốt trong các chương trình cải
cách và hiện đại hóa cụ thể như: Chương trình cải cách thể chế, chương trình công
nghệ thông tin, chương trình hiện đại hoá công tác hỗ trợ đối tượng nộp thuế, chương
trình hiện đại hóa công tác thanh tra thuế, chương trình thu nợ và cưỡng chế thuế.
Trong quá trình tiến hành cải cách và hiện đại hóa công tác quản lý thuế, các
quốc gia đều đặt trọng tâm vào việc hiện đại hoá công tác thanh tra thuế.
Mục tiêu là hiện đại hóa dựa trên kỹ thuật phân tích quản lý các khả năng thất
thu về thuế (còn gọi là quản lý rủi ro) để đổi mới nội dung, phương pháp và tổ chức
hoạt động thanh tra, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật ở mức độ cao, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả công tác thanh tra thuế.
1.3.1. Kinh nghiệm thanh tra ở nước Anh:
Năm 1996 cơ quan thu nội địa Anh đã đưa vào áp dụng cơ chế tự cơ khai, tự
nộp thuế (TKTN). TKTN tác động tới hơn 8 triệu đối tượng nộp thuế cá nhân, chủ yếu
là các đối tượng làm thuê và tự kinh doanh với các công việc rất phức tạp, 700.000 tổ
chức hợp danh và 300.000 quĩ tín thác.
Để cho việc chuyển đổi cơ chế quản lý được thành công. Anh đã dành 2 năm
cho công tác chuẩn bị và tập dượt. Khi chuyển sang cơ chế tự khai thì việc khai, tính và
nộp thuế đơn giản hơn, giải quyết được các mặt tồn tại của cơ chế quản lý thuế cũ.



- 17 -
TKTN là một thay đổi cơ bản trong việc quản lý thuế [5]. Một số nội dung thay đổi so
với cơ chế cũ:
1.3.1.1. Về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm và nguồn lực để
tiến hành thanh tra:
Theo kinh nghiệm của cơ quan thuế Anh, phương pháp lập kế hoạch thanh tra
hàng năm dựa trên cơ sở phân tích rủi ro, việc lựa chọn đối tượng thanh tra theo tiêu
chí ĐTNT có độ rủi ro từ cao xuống thấp, thông thường kế hoạch thanh tra thuế được
xây dựng theo cơ cấu:
+ 40% là khối lượng công việc thanh tra từ cơ quan thuế trung ương chỉ đạo
xuống bên dưới thực hiện.
+ 10% đối tượng thanh tra lựa chọn ngẫu nhiên.
+ 50% đối tượng thanh tra là kế hoạch xây dựng của phòng thanh tra (cục) và
chi cục.
Để thực hiện tốt công tác thanh tra, nguồn nhân lực cần thiết phải có để thực
hiện tốt công việc từ 25 -30% tổng số công chức toàn ngành. Trong từng bộ phận thanh
tra được chia thành 3 nhóm: nhóm xây dựng đề án, nhóm thu thập hồ sơ và phân tích
thông tin, nhóm thanh tra trực tiếp.
[2]
1.3.1.2. Những nội dung cần lưu ý trong quá trình thực hiện công tác thanh
tra thuế ở nước Anh:
- Trong quá trình thu thập hồ sơ và phân tích thông tin nghiêm cấm công chức
đến trực tiếp đơn vị để yêu cầu cung cấp tài liệu, hồ sơ, sổ sách, chứng từ kế toán.
- Trong quá trình thanh tra nếu phát hiện doanh nghiệp trốn thuế, tránh thuế
trong kỳ kiểm tra thì công chức thanh tra có thể xem xét lại tờ khai thuế trong vòng 6
năm (đối với thanh tra toàn diện) hoặc 2 năm (đối với thanh tra theo chuyên đề).
- Về thời gian cho một cuộc thanh tra: Thời gian cho công chức thu thập tài liệu
phân tích thông tin cho 1 bộ hồ sơ thông thường từ 4 đến 6 tuần ( 30 ngày đến 45

ngày). Thời gian thanh tra đối tượng nhỏ thông thường khoảng 6 tháng/ 1 cuộc thanh


- 18 -
tra. thời gian thanh tra đối tượng lớn là 1 năm/ 1 cuộc thanh tra. Đối với trường hợp có
luật sư tham gia (điều tra) thời gian 2 năm/ 1 cuộc điều tra.
- Đối với chế độ báo cáo: Định kỳ 6 tháng công chức thu thập tài liệu phân tích
thông tin và tổ kiểm tra đối tượng phải báo cáo bằng văn bản về tiến độ triển khai và
mức độ hoàn thành công việc được phân công cho trưởng bộ phận. Trên cơ sở nội dung
báo cáo trưởng bộ phận có nhận xét và ý kiến chỉ đạo tiếp theo.
[2]
1.3.2. Kinh nghiệm thanh tra ở nước Úc:
Một trong những mốc đáng ghi nhớ trong sự phát triển của hệ thống thuế
Ôxtrâylia (ATO) là việc chuyển sang thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế (TKTN),
theo đó, người nộp thuế chịu trách nhiệm tự xác định nghĩa vụ thuế của mình và được
khích lệ để tuân thủ tự giác.
Năm 1986-1987, cơ quan thuế ATO tiến hành các bước ban đầu để thực hiện cơ
chế TKTN. Trên thực tế, hệ thống thuế mới đã chứng minh được tính ưu việt của nó so
với hệ thống thuế trước đây. Tuy vẫn còn một số hạn chế về mặt pháp lý, song hệ
thống thuế theo TKTN của ATO cũng thể hiện một số kinh nghiệm trong quá trình
thanh tra người nộp thuế như sau:
1.3.2.1. Yêu cầu cần có của một thanh tra viên:
Một công chức thuế muốn trở thành một thanh tra viên yêu cầu kiến thức cần
phải có bắt buộc gồm:
- Sự am hiểu về Luật, bao gồm luật thuế, luật thương mại và các luật khác.
- Kiến thức sâu về lĩnh vực kế toán, nắm vững các nguyên tắc kế toán.
- Có phong cách giao tiếp với Người nộp thuế, với đồng nghiệp.
[3]
1.3.2.2. Thực hiện thanh tra tại doanh nghiệp:
- Thẻ thanh tra thể hiện quyền lực cao nhất của cơ quan thuế. Dưới quyền lực

của thẻ thanh tra là các thông báo của cơ quan thuế yêu cầu Người nộp thuế xuất trình
các tài liệu thông tin theo yêu cầu. Cơ quan thuế có thể gửi các thông báo đến ngân


- 19 -
hàng để yêu cầu cung cấp thông tin như số Tài khoản, số tiền … và ngân hàng không
có quyền từ chối thông báo của cơ quan thuế.
- Trong quá trình thanh tra, việc thu thập thông tin là vô cùng quan trọng. Do đó
ATO đã ban hành sách quy định quyền của thanh tra viên, quyền của người nộp thuế.
Khi công chức đi thanh tra có thể mang theo sách này để cung cấp, tuyên truyền cho
người nộp thuế ( sách này có nhiều thứ tiếng khác nhau, kể cả tiếng Việt).
- Khi thanh tra không phải thanh tra tất cả các vấn đề của người nộp thuế mà chỉ
thanh tra một vài vấn đề qua đánh giá rủi ro và chỉ thực hiện thanh tra trên cơ sở các
vấn đề rủi ro đã được đánh giá. Trong quá trình phân tích nếu phát hiện ra vấn đề gì
phải thanh tra, công chức thanh tra chỉ được thanh tra vào những nội dung đó, nếu
trong quá trình thanh tra phát hiện thêm vấn đề gì, công chức thanh tra phải báo cáo bổ
sung nội dung cần thanh tra.
[3]
1.3.3. Kinh nghiệm thanh tra ở Trung Quốc:
Việc Trung Quốc gia nhập WTO đã yêu cầu nước này phải thực hiện giảm thuế
quan trong những năm tới. Việc giảm thuế quan cũng có nghĩa là giảm số thu của
Chính phủ. Để đảm bảo nguồn thu sau khi gia nhập WTO, cơ quan thuế đã phải tập
trung nỗ lực vào công tác thanh tra thuế công ty cũng như cá nhân.
Trong năm 2002, cơ quan thuế Trung Quốc đã tiến hành kiểm tra tổng số 2 triệu
trường hợp, trong đó đã tiến hành thanh tra 800.000 ĐTNT và truy thu được hơn 39 tỷ
NDT ( tương đương 4,7 tỷ USD). Qua sự kiểm tra như vậy, cơ quan thuế nhận thấy cần
phải thắt chặt hơn nữa công tác cưỡng chế thuế.
Tại Trung Quốc, thanh tra thuế được chia thành 5 loại:
(1). Kiểm tra tại bàn - Phân tích các tờ khai, báo cáo tài chính và các tài liệu
khác do người nộp thuế nộp cho cơ quan thuế.

(2). Thanh tra thông thường – Thanh tra tại cơ sở người nộp thuế được lựa chọn
ngẫu nhiên hoặc có dấu hiệu nghi vấn qua kiểm tra tại bàn.


- 20 -
(3). Thanh tra đặc biệt – Thanh tra tại cơ sở tập trung một ngành, một lĩnh vực
hoặc một loại thuế cụ thể.
(4). Thanh tra theo vụ việc – Thanh tra tại cơ sở đối với những người nộp thuế
bị tố cáo trốn lậu thuế hoặc do cơ quan thuế cấp trên chỉ định.
(5). Thanh tra chống tránh thuế - Thanh tra tại cơ sở chủ yếu tập trung vào các
trường hợp giá chuyển nhượng.
Hiện nay, trong số các loại hình thanh tra này, chống tránh thuế và thuế thu
nhập cá nhân là hai nội dung cơ quan thuế Trung Quốc tập trung nhiều nhất. Dưới đây
là một số đặc điểm của công tác thanh tra đối với hai nội dung này.
1.3.3.1. Thanh tra chống tránh thuế:
Thanh tra chống tránh thuế còn được gọi là thanh tra giá chuyển nhượng. Thông
thường, cơ quan thuế lựa chọn đối tượng thanh tra thông qua kiểm tra tại bàn các tài
liệu, hồ sơ khai thuế do người nộp thuế nộp. Nhìn chung, các doanh nghiệp có các đặc
điểm như sau sẽ được lựa chọn thanh tra: lợi nhuận thấp hoặc lỗ trong thời gian dài
nhưng vẫn tiếp tục mở rộng kinh doanh; mức lợi nhuân không ổn định; lợi nhuận giảm
mạnh sau khi kết thúc thời gian được hưởng miễn, giảm thuế; tỷ lệ lợi nhuận thấp hơn
so với mức bình quân của ngành. Cơ quan thuế tại một số địa phương đã xây dựng cơ
sở dữ liệu riêng để hỗ trợ trong việc xác định các đối tượng thanh tra và thực hiện điều
chỉnh giá chuyển nhượng.
Trong những năm đầu thực hiện thanh tra giá chuyển nhượng, cơ quan thuế
Trung Quốc chỉ tập trung vào các giao dịch xuất nhập khẩu với các bên có liên quan tại
nước ngoài của ĐTNT. Khi các thanh tra viên trở nên thuần thục hơn, thanh tra gía
chuyển nhượng được mở rộng với các giao dịch từ tài sản vô hình đến hữu hình như xi-
lăng, tài chính và cung cấp dịch vụ; từ các giao dịch thương mại qua biên giới đến các
giao dịch diễn ra tại Trung Quốc và các giao dịch khác.

Một kết quả quan trọng trong thanh tra giá chuyển nhượng là đã tác động nhanh
chóng đến các cuộc thanh tra phối hợp mang tính quốc gia – tiến hành thanh tra đồng


- 21 -
thời các công ty con tại Trung Quốc của các công ty đa quốc gia có trụ sở tại nhiều
thành phố khác nhau do Tổng cục thuế điều hành. Trong quá trình thanh tra các vụ việc
này, Tổng Cục thuế và cơ quan thuế địa phương sẽ tiến hành họp thường xuyên để thảo
luận và Tổng Cục thuế sẽ tư vấn về kỷ thuật cho các cơ quan thuế địa phương để hỗ trợ
họ thực hiện thanh tra. Vì các cuộc thanh tra phối hợp mang tính quốc gia phức tạp hơn
so với thanh tra từng công ty đơn lẻ nên thường mất nhiều thời gian hơn.
Trong các vụ việc thanh tra thông thường, nếu ĐTNT bị phát hiện ẩn lậu thuế,
cơ quan thuế sẽ có quyền truy thu trong vòng 3 năm gần nhất. Nếu sự việc trên là do
người nộp thuế tính sai thì họ chỉ phải nộp tiền phạt. Trong một số trường hợp đặc biệt,
thời gian truy thu thuế có thể là 5 năm. Đối với trường hợp truy thu thuế do trốn thuế,
người nộp thuế từ chối không nộp thuế hoặc gian lận về thuế thì không có giới hạn về
thời gian truy thu thuế. Đối với các trường hợp này, ngoài việc truy thu thuế, cơ quan
thuế vẫn tính phạt.
Đối với các vụ thanh tra giá chuyển nhượng, nếu người nộp thuế bị phát hiện
không thực hiện các giao dịch với các bên liên kết trên cơ sở giao dịch thị trường thì cơ
quan thuế có quyền điều chỉnh giá chuyển nhượng trong vòng 3 năm (đến 10 năm
trong những trường hợp đặc biệt) kể từ năm phát sinh giao dịch liên quan.
Kết quả điều chỉnh giá chuyển nhượng thường là ĐTNT phải nộp thuế bổ sung
đối với thu nhập bị điều chỉnh ngay cả khi khoản thu nhập này có thể phải chịu thuế tại
nước kia. Sau khi bị thanh tra, các ĐTNT vẫn có thể bị thanh tra trong tương lai.
[1]
1.3.3.2. Thanh tra thuế thu nhập cá nhân:
Gần đây, cơ quan thuế Trung Quốc tăng cường công tác cưỡng chế đối với các
trường hợp cá nhân trốn thuế thông qua việc ban hành hàng loạt các văn bản về thuế
thu nhập cá nhân. Cơ quan thuế tập trung vào các cá nhân giàu có nhất Trung Quốc

được nêu trong tạp chí Forbes và các cá nhân được các phương tiện truyền tin đại
chúng tập trung đưa tin.


- 22 -
Công tác truy thu thuế đã thực hiện thành công trong lĩnh vực công nghệ cao,
một lĩnh vực mà các nhân viên cấp cao của một số công ty nổi tiếng đã bị thanh tra do
liên quan đến việc kê khai thấp thu nhập từ quyền mua cổ phiếu nước ngoài (offshore
stock option).
Việc thanh tra thuế thu nhập cá nhân được thực hiện trên cơ sở thanh tra thuế
chung hoặc khi có sự tố giác. Trong một vụ việc truy thu thuế thành công, người tố
giác có thể được thưởng tới 100.000 NDT ( tương đương 12.000 USD) hoặc cao hơn
theo sự phê duyệt đặc biệt. Không phải tất cả những người tố giác đều bị hấp dẫn bởi
phần thưởng này. Một số người tố giác là người làm công do bất bình và muốn gây khó
dễ cho những chủ lao động cũ của mình. Nếu những người tố giác không thoã mãn với
quyết định của cơ quan thuế địa phương thì có thể báo cáo lên cơ quan thuế cấp cao
hơn hoặc Cục An ninh. Thông thường sự tham gia của Cục An ninh làm cho việc điều
tra phức tạp hơn. Trong trường hợp này, việc hợp tác trong việc cung cấp thông tin cho
Cục An ninh yêu cầu là rất quan trọng, nếu không hợp tác thì vấn đề này được nhìn
nhận như tội che dấu và thậm chí có thể bị phạt tù.
[1]
1.3.4. Một số kinh nghiệm rút ra từ công tác thanh tra, kiểm tra của nước
Anh, nước Úc và Trung Quốc:
Để có thể quản lý người nộp thuế có hiệu quả, cơ quan thuế Anh, cơ quan thuế
ATO và cơ quan thuế Trung Quốc đã chuyển sang cơ chế quản lý thuế nhằm nâng cao
dần tính tự giác nộp thuế của người nộp thuế thông qua cơ chế tự khai, tự nộp thuế.
Theo kinh nghiệm thanh tra của cơ quan thuế nước Anh và nước Úc thì để đạt
hiệu quả trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thu, điều
trước tiên đòi hỏi trình độ nhất định của công chức thanh tra thuế. Khi thanh tra phải có
kế hoạch cụ thể dựa trên kết quả phân tích thông tin người nộp thuế, nghiêm cấm công

chức thanh tra trực tiếp xuống ĐTNT để thu thập thông tin lập báo cáo kiểm tra.
Mặt khác, ngành thuế phải ban hành Luật quy định quyền cho thanh tra viên hay
quyền cho Người nộp thuế để có sự đồng thuận giữa cơ quan thuế và người nộp thuế.


- 23 -
Ban hành thẻ thanh tra viên thể hiện quyền lực cao nhất của cơ quan thuế trong một số
trường hợp cấp thiết. Để làm được điều này đòi hỏi ngành thuế phải có một nguồn lực
tương thích để đảm đương công việc một cách có hiệu quả.
Riêng việc thanh tra thuế chống tránh thuế và thanh tra thuế thu nhập cá nhân
của Trung Quốc giúp ngành thuế cả nước nói chung, ngành thuế Phú yên nói riêng làm
quen với loại hình thanh tra mới trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO như hiện
nay.
Với bề dày kinh nghiệm hơn 10 năm về cơ chế tự khai thuế, tự nộp thuế, kinh
nghiệm của các nước là tài liệu quí giá chúng ta học tập và áp dụng vào công tác quản
lý thuế của mình. TKTN không phải chỉ nhằm mục đích tiết kiệm được chi phí mà chủ
yếu nhằm phân bổ lại nguồn lực một cách có hiệu lực, hiệu quả. Ngoài ra TKTN còn là
một động lực để hiện đại hoá công tác quản lý thuế, có tác động tích cực đến số thu,
đến năng suất của mỗi công chức và tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế.
Kết luận Chương I:
Trong Chương I, luận văn tập trung làm rõ lý luận tổng quan về cơ chế tự khai
tự nộp thuế và vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế mới này. Trong
đó góp phần làm rõ lý luận và ý nghĩa thực tiễn của sự cần thiết khách quan trong thực
hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế quản lý thuế tự khai tự nộp thuế ở
Việt Nam. Luận văn cũng đã đề cập đến những bài học kinh nghiệm từ một số nước
đối với Việt Nam về công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế.
Những tổng luận lý thuyết nêu trên làm cơ sở cho việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu
đặt ra trong nghiên cứu của luận văn là hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế
theo cơ chế TKTN trên địa bàn tỉnh Phú Yên.







- 24 -
Chương II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH PHÚ YÊN
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH PHÚ YÊN TRONG TÁC
ĐỘNG ĐỐI VỚI THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ
2.1.1. Vị trí địa lý, nguồn lực và lợi thế phát triển:
2.1.1.1. Vị trí địa lý:
Phú Yên với diện tích tự nhiên khoảng 5.045 km
2
, là một tỉnh ven biển thuộc
vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam với chiều dài bờ biển 189 km,
trải dài từ
12°42'36" đến 13°41'28" vĩ bắc và từ 108°40'40" đến 109°27'47" kinh đông, phía bắc
giáp tỉnh
Bình Định, phía nam giáp Khánh Hòa, phía tây giáp Đăk Lăk và Gia Lai, phía
đông giáp
biển Đông
.
Phú Yên bao gồm một thành phố Tuy Hòa trực thuộc và 8 huyện: Đông Hòa,
Đồng Xuân, Phú Hòa, Sơn Hòa, Sông Hinh, Sông Cầu, Tây Hòa, Tuy An.
Cơ cấu bộ máy ngành thuế tỉnh Phú Yên cũng được tổ chức thành 9 Chi Cục
thuế trực thuộc Cục thuế tỉnh Phú Yên.
Với cách tổ chức đó, ngành thuế luôn bám sát địa bàn quản lý, thực hiện tốt
nhiệm vụ đã được Nhà nước giao và không ngừng tăng thu cho Ngân sách Nhà nước

trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
[18]
2.1.1.2. Dân số và lao động:
Về cơ bản Phú Yên vẫn là một tỉnh nông nghiệp với dân số khoảng 890,900
người (năm 2003), mật độ dân số 168 người/km
2
, dân số thành thị chiếm khoảng 20%,
nông thôn chiếm khoảng 80%, số người trong độ tuổi lao động vào khoảng 636.994
người, chiếm 71,5% dân số.
2.1.1.3. Lợi thế phát triển:
Một:
Phú Yên rất thuận tiện trong giao thông: có Quốc lộ 1A đi ngang qua,
đường tỉnh lộ 645 và Quốc lộ 25 nối với các tỉnh
Tây Nguyên; đường sắt Bắc-Nam và


- 25 -
.Tỉnh lộ 641 nối QL1A từ Thị trấn Chí
Thanh chạy dọc theo đường sắt Bắc-Nam qua Thị trấn La Hai rồi gặp lại QL1A tại Thị
trấn Diêu trì (Tỉnh Bình Định). Quốc lộ 1D (nối Sông Cầu với thành phố
Qui Nhơn),
đường từ khu công nghiệp Hòa Hiệp đến cảng
Vũng Rô. Hệ thống đường liên thôn,
liên xã thông suốt thuận lợi trong việc đi lại.
Hai: lợi thế phát triển thủy điện, khai thác tài nguyên, khoáng sản. Với hệ thống
Sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch, sông Kỳ Lộ với tổng diện tích lưu vực là 16.400km
2
,
tổng lượng dòng chảy 11.8 tỷ m
3

, đảm bảo đủ nước tưới cho nông nghiệp, thủy điện và
sinh hoạt. Phú Yên có nhiều suối nước khoáng nóng như: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô,
Lạc Sanh. Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên trong lòng đất như Diatomite (90 triệu m
3
),
đá hoa cương nhiều màu (54 triệu m
3
), vàng sa khoáng (300 nghìn tấn) (số liệu năm
2006 theo Cẩm nang xúc tiến thương mại du lịch Phú Yên).
Ba: lợi thế về nguồn lợi thủy - hải sản: Phú Yên có diện tích vùng biển trên
6.900km
2
với trữ lượng hải sản lớn: trên 500 loài cá, 38 loài tôm, 15 loài mực và nhiều
hải sản quí. Sản lượng khai thác hải sản của Phú Yên năm 2005 đạt 35.432 tấn, tăng
bình quân 5%/năm. Trong đó sản lượng cá ngừ đạt 5.040 tấn (thông tin từ Cẩm nang
xúc tiến thương mại - du lịch Phú Yên). Nuôi trồng thủy sản là một trong những ngành
kinh tế mạnh của tỉnh, với tổng diện tích thả nuôi là 2.950ha, sản lượng thu hoạch
3.570 tấn, bên cạnh đó có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như
sò huyết, cá ngừ
đại dương
, tôm sú, tôm hùm.Các địa phương nuôi trồng hải sản tập trung ở khu vực
đầm Cù Mông, Vịnh Xuân Đài (Huyện Sông Cầu), Đầm Ô Loan (Huyện Tuy An), ...
Đây là những địa phương nuôi trồng có tình chiến lược của tỉnh, thu hút nhiều lao
động. Đặc biệt, ngay tại
Đầm Cù Mông, việc nuôi trồng và chế biến được thực hiện
khá đầy đủ các công đoạn nhờ
Khu công nghiệp Bắc Sông Cầu nằm ngay tại đó.
2.1.1.4. Tác động đối với thanh tra, kiểm tra thuế:
Với những ưu thế trên, thời gian qua cùng với chính sách của nhà nước luôn tạo
điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, nhất là sự thông thoáng của Luật doanh



×