Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (295.39 KB, 31 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>BÀI DỰ THI</b>
<b>TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT</b>
<b>VIỆT NAM-LÀO, LÀO-VIỆT NAM</b>
<b>Họ và tên: Phạm Tuấn Anh</b> <b>Năm sinh: 1987</b> <b>Giới tính: Nam</b>
<b>Đơn vị: Trung Tâm GDTX Sa Pa</b>
<b>CÂU 1: NHỮNG NHÂN TỐ HÌNH THÀNH VÀ QUYẾT ĐỊNH MỐI QUAN HỆ</b>
<b>HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO , LÀO – VIỆT NAM ?</b>
<b>Trả lời:</b>
Mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam được hình thành từ những điều
kiện, nhân tố khác nhau như:
- Các điều kiện tự nhiên, địa-chiến lược, địa-quân sự... Lào là một quốc gia duy nhất ở
Đông Nam Á không giáp với biển. Lào giáp với Việt Nam ở phía Đơng với đường biên giới dài
2069 km, Địa thể đất Lào có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh; đỉnh cao nhất là Phou Bia cao
2.817 m. Diện tích cịn lại là bình ngun và cao ngun. Sơng Mê Kơng chảy dọc gần hết biên
giới phía tây, giáp giới với Thái Lan, trong khi đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía
đơng giáp với Việt Nam.
- Các nhân tố dân cư, xã hội, văn hóa và lịch sử. Trong Thế chiến thứ hai, người Nhật
chiếm Đông Dương. Khi Nhật đầu hàng, những người quốc gia Lào tuyên bố độc lập, nhưng tới
đầu năm 1946, quân Pháp tái chiếm nước này và chỉ trao cho họ một số quyền tự trị hạn chế. Trong
Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Đảng cộng sản Đông Dương đã lập ra tổ chức kháng chiến
Pathet Lào nhằm giành độc lập cho Lào. Lào hoàn toàn độc lập sau khi Pháp bị những người cộng
sản Việt Nam đánh bại và sau Hội nghị Genève năm 1954.Từ năm 1955 đến năm 1975, Vương
quốc Lào lệ thuộc mạnh mẽ vào Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống cộng sản tại Đơng Dương, tình
- Sự phối hợp tự nguyện của nhân dân hai nước trong truyền thống chống giặc ngoại xâm.
- Công lao thiết lập và xây dựng của các vị lãnh tụ...
giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược, tiến hành thành
công sự nghiệp đổi mới, đưa hai nước cùng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa...
<b>CÂU 2:TÌNH CẢM GẮN BĨ KEO SƠN GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO</b>
<b>TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CHIẾN TRANH TRƯỚC ĐÂY CŨNG NHƯ TRONG SỰ</b>
<b>NGHIỆP XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY ?</b>
<b>Trả lời:</b>
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt
Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong
sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội. Quan hệ đặc biệt
Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây
dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phơmvihản, đồng chí Xuphanuvơng và các
thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp. Một trong những
nhân tố làm nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào-Việt Nam, đó chính là tình cảm gắn bó
keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong những năm tháng chiến tranh trước đây cũng như
trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.
<i>Thứ nhất: Hai dân tộc sát cánh bên nhau, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, địan kết gắn</i>
<b>bó đánh giặc ngoại xâm. </b>
Dân tộc Việt Nam kể từ khi Nhà nước Văn Lang thành lập đã trải qua mấy ngàn năm lịch
sử và liên tục bị chế độ phong kiến phương Bắc xâm lược, thống trị và do đó đã phải khơng ngừng
chiến đấu giành và bảo vệ độc lập dân tộc. Nước Lào cũng trải qua lịch sử hàng nghìn năm và cũng
phải ngoan cường chống xâm lược để khẳng định sự tồn tại của mình với tư cách một dân tộc, một
quốc gia độc lập.
Từ đầu thế kỷ 20, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào-Việt Nam đã đồn kết,
cùng nhau đấu tranh chống Pháp. Trong đó, có phong trào chống Pháp ở Áttapư do Khi Volảlạt
lãnh đạo (1900-1901), phong trào Phùmibun ở Trung Lào của Phò Càduột (1901-1902) và cuộc
khởi nghĩa Hạ Lào do ông Kẹo, ông Côm mađăm lãnh đạo (1901-1937) đã có sự liên kết với các
cuộc nổi dậy chống Pháp của bộ tộc Xơ đăng ở KonTum (Việt Nam). Đặc biệt, năm 1918, phong
trào chống Pháp của người Mông ở Tây Bắc Việt Nam do Chạu Phạpắt chây lãnh đạo lan rộng trên
địa bàn nhiều tỉnh Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam, kéo dài đến tận năm 1922 gây cho Pháp nhiêù
thiệt hại.
Như vậy, trước 1930, đã xuất hiện đoàn kết Lào-Việt cùng chiến đấu chống kẻ thù chung
nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử.
Từ khi được chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng
Cộng sản Đơng Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh
giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam, tình đồn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục.
<i> Nhân dân Lào cùng Việt kiều đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách</i>
<i>mạng Việt Nam giai đoạn (1930-1939). </i>
<i> Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) đã mở đầu trang sử vẻ vang của quan hệ</i>
đặc biệt Việt Nam – Lào.
Tại Hội nghị lần thứ nhất (tháng 10 -1930) Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành Đảng
Cộng sản Đông Dương, đồng thời xác lập các nguyên tắc, phương hướng, đường lối chính trị và
những nhiệm vụ cơ bản cho phong trào cách mạng của ba dân tộc ở Đông Dương; đặt phong trào
cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đơng
Dương. Chính vì vậy, trong những năm 1930 - 1939, các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và
Lào đã hỗ trợ lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển phong trào cách mạng mỗi nước.
<i>Nhân dân hai nước Việt Nam-Lào giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang</i>
<i>giành chính quyền thắng lợi(1939 - 1945).</i>
<i> Trước sự tồn vong của các dân tộc Đông Dương, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương</i>
liên tiếp tổ chức các cuộc hội nghị quan trọng, đặc biệt, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
tháng 5- 1941 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã quyết định nhiệm vụ giải phóng dân tộc và
giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước và thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc
thống nhất rộng rãi trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng trước tiên của cách
mạng Đông Dương. Hội nghị cho rằng các dân tộc Đông Dương đều chịu chung một ách thống trị
của phát xít Pháp-Nhật cho nên phải đồn kết lại đánh đuổi kẻ thù chung.
<i> Cuối năm 1944 đầu năm 1945, tình hình thế giới và Đơng Dương có nhiều biến đổi, đe doạ</i>
<i>Liên minh Việt Nam-Lào , Lào-Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ</i>
<i>xâm lược </i>
<i> Sau khi giành lại được chính quyền, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào –</i>
<i>Việt (1)</i><sub> và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào - Việt </sub><i>(2)</i><sub>, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác</sub>
giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt Nam - Lào.
Ngày 25-11-1945, trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam - Lào
- Campuchia, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến
<i>kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương. Chỉ thị chủ trương:</i>
<i>“Thống nhất mặt trận Việt – Miên - Lào chống Pháp xâm lược”. Thực hiện chủ trương này, trong 3</i>
năm (1945-1948), liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào từng bước được hình thành, phát triển và
thu được nhiều kết quả, góp phần thúc đẩy quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào gắn bó mật
thiết hơn. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu, (tháng 1- 1949) đã quyết định “mở rộng mặt
<i>trận Lào - Miên”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu mở rộng Mặt trận kháng chiến Lào và Campuchia,</i>
củng cố các lực lượng Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở hai nước, tăng cường thêm cán bộ, xây
dựng và mở rộng các căn cứ ở Lào... Thực hiện chủ trương đó, Việt Nam đã cử nhiều cán bộ phối
hợp với lực lượng kháng chiến Lào mở lớp huấn luyện quân sự và học tập chính trị. Lực lượng này,
sau được tổ chức thành hệ thống riêng và lấy tên là Quân tình nguyện.
Đại hội Quốc dân Lào (Mặt trận Lào kháng chiến) họp từ ngày 13 đến ngày 15 - 8 - 1950,
tại Tuyên Quang (Việt Nam) đã đề ra Cương lĩnh chính trị 12 điểm, trong đó nhấn mạnh u cầu
Ngày 11-3-1951, theo sáng kiến của Đảng Lao động Việt Nam, Hội nghị khối liên minh
nhân dân Việt Nam – Lào – Campuchia đã thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương
trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, cùng nhau đánh đuổi bọn thực dân, đế quốc xâm lược, giành
độc lập thực sự cho nhân dân Đông Dương. Hội nghị đề ra chương trình hành động chung và cử Ủy
ban liên minh gồm đại diện của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Việc thành lập khối liên minh
nhân dân Việt Nam – Lào – Campuchia đã tạo cơ sở để nâng cao quan hệ đoàn kết và phối hợp
chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đơng Dương và đã giáng địn mạnh mẽ vào chính sách “chia để
trị” của bọn thực dân, đế quốc. Tháng 12-1953, một bộ phận quân chủ lực Việt Nam phối hợp với
bộ đội Lào Ítxalạ và quân tình nguyện Việt Nam tại Lào mở chiến dịch Trung, Hạ Lào. Chiến thắng
của Liên quân Việt – Lào góp phần làm phá sản kế hoạch tập trung quân của Nava, buộc địch phải
1
phân tán lực lượng đối phó trên nhiều chiến trường, tạo điều kiện củng cố, phát triển thế phối hợp
chiến lược giữa hai nước Việt Nam và Lào.
<i> Với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954, cách mạng hai nước Việt Nam, Lào bước vào</i>
thời kỳ mới: thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng, đẩy mạnh đấu tranh để giữ vững hòa bình và
giành độc lập, thống nhất ở mỗi nước. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ vẫn nuôi tham vọng xâm lược, ra sức
can thiệp vào miền Nam Việt Nam và Lào, âm mưu biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ
quân sự, để làm bàn đạp tiến công các nước xã hội chủ nghĩa. Trước sự chuyển biến mới của cách
mạng Lào, Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào được tiến hành từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 6
tháng 4 năm 1955 tại tỉnh Sầm Nưa. Đảng Nhân dân Lào ra đời đã tạo cơ sở vững chắc để tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Lào, đồng thời là nhân tố trọng yếu, có ý nghĩa
quyết định thúc đẩy quan hệ đồn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Lào - Việt Nam.
Đặc biệt, sau Đại hội đại biểu lần thứ II của Neo Lào Hắc Xạt (Mặt trận Lào yêu nước) đã mở ra
triển vọng mới cho sự tăng cường hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Việt Nam –
Lào.
Sau khi Đảng Nhân dân Lào được thành lập, các lực lượng yêu nước Lào với sự phối hợp,
hỗ trợ tích cực của các tổ cố vấn quân sự và dân chính Việt Nam đã liên tiếp đánh bại các cuộc tiến
công của các thế lực phái hữu trong chính quyền và quân đội Viêng Chăn vào vùng căn cứ cách
mạng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Đúng như khẳng định của Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân
Lào:“ Sở dĩ cách mạng Lào đạt được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh
<i>anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân</i>
<i>Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt</i>
<i>Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng” </i>3
Từ cuối năm 1958, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đẩy mạnh các hoạt động lật lọng, từng bước
xố bỏ các hiệp ước hồ hợp dân tộc đã được ký kết để cuối cùng trắng trợn xoá bỏ Chính phủ liên
hiệp và hồ hợp dân tộc. Trước sự can thiệp trắng trợn của đế quốc Mỹ vào Lào, Hội nghị Trung
ương Đảng Nhân dân Lào (3-6-1959) xác định cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào đang
chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn từ đấu tranh công khai hợp pháp là chủ yếu, chuyển sang
đấu tranh vũ trang là chủ yếu, kết hợp với các hình thức đấu tranh khác. Thống nhất với quan điểm
trên của Đảng Nhân dân Lào, Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam (2-7-1959) đề ra chủ
trương chi viện cách mạng Lào đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển lực lượng trong tình hình mới
và coi đây là một nhiệm vụ quốc tế hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt
Nam. Về phía Việt Nam, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các bộ tộc Lào, các đồn cơng tác
quân sự của ta đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng, phục vụ cho việc mở tuyến đường mới
dọc Tây Trường Sơn trên đất Lào.
Ngày 5-9-1962, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hồ và Chính phủ Vương quốc
Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Đầu năm 1963 vua Lào Xỉxávàng Vắthana dẫn đầu
đoàn đại biểu Hoàng gia Lào thăm Việt Nam. Trong buổi chiêu đãi vua Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chung một dãy
<i>núi Trường Sơn. Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em…</i>
<i>Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡ nhau để xây dựng một cuộc sống mới. Tình nghĩa láng giềng</i>
<i>anh em Việt - Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được”(4)<sub>. </sub></i>
Mặc dù Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào được ký kết, đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ âm
mưu xâm lược Lào, tăng cường viện trợ, giúp chính quyền tay sai thân Mỹ tiến cơng lấn chiếm
vùng giải phóng, đồng thời ra sức phá hoại Chính phủ liên hiệp, cô lập và vu cáo Neo Lào Hắc Xạt.
Từ cuối năm 1963, Việt Nam cử chuyên gia quân sự sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và đến giữa
năm 1964, thành lập hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam từ trên cơ quan Tổng tư lệnh Lào
xuống đến Bộ tư lệnh các quân khu, tỉnh đội và cấp tiểu đồn, có nhiệm vụ phối hợp với bạn để
nghiên cứu kế hoạch tác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và củng cố các vùng căn cứ
3
ở Lào. Đồng thời, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bộ đội Pathết Lào mở nhiều
chiến dịch, chủ yếu ở khu vực đường 9 – Trung Lào, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, đập tan
các cuộc tấn công lấn chiếm của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Lào, tạo điều kiện thuận
lợi cho quân và dân Việt Nam vận chuyển trên đường Tây Trường Sơn để chi viện cho chiến
trường miền Nam Việt Nam và cách mạng hai nước Lào, Campuchia.
Ngày 22-6-1965, Đảng Lao động Việt Nam đã thống nhất với Đảng Nhân dân Lào về việc
phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau, trong đó tập trung giúp Lào xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt.
Tiếp đó, ngày 3/ 7/ 1965, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra
Nghị quyết khẳng định: “Việt Nam cần phải nỗ lực đáp ứng đến mức cao nhất mọi yêu cầu đối với
<i>công cuộc phát triển cách mạng của Lào”5<sub>. Đầu năm 1968, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp</sub></i>
với Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến cơng Nặm Bạc thắng lợi, giải phóng hồn tồn khu
vực Nặm Bạc – Khăm Đeng với trên một vạn dân, nối liền vùng giải phóng Thượng Lào thành khu
vực liên hoàn, tạo thế vững chắc cho hậu phương cách mạng Lào và hỗ trợ thiết thực cho cuộc
kháng chiến của nhân dân Việt Nam và Campuchia.
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cách mạng Lào, đồng
thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân hai nước Việt
Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thành nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự
nghiệp cách mạng Lào, như đồng chí Cay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng
Trước âm mưu và thủ đoạn chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, Trung ương Đảng Lao động
Việt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã ra chỉ thị khẳng định tăng cường đoàn kết giữa
nhân dân hai nước, quyết tâm đánh bại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai trong bất cứ tình huống nào.
Với tinh thần đó, đến cuối năm 1972, cách mạng Lào đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng và
cùng với những chiến thắng to lớn về nhiều mặt của quân tình nguyện Việt Nam và quân giải
phóng nhân dân Lào cuối năm 1972, đầu năm 1973 đã trực tiếp góp phần quan trọng buộc chính
phủ Viêng Chăn phải ký kết Hiệp định Viêng Chăn “lập lại hồ bình và thực hiện hịa hợp dân tộc
<i>ở Lào” (21-2-1973). </i>
Bước vào thời kỳ mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai Đảng Nhân dân Lào đã quyết
định đổi tên Đảng thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào; Đại hội đã suy tơn đồng chí Hồ Chí Minh
là lãnh tụ của Đảng; thơng qua Nghị quyết: “Tăng cường đoàn kết Lào – Việt”. Đặc biệt, đại hội
khẳng định tình đồn kết Lào – Việt trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh thần quốc tế vô sản
là mối quan hệ đặc biệt. Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào cũng đã
thống nhất phương hướng hợp tác cần tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, những khâu then
<i>chốt nhất, tạo điều kiện cho Lào nhanh chóng đảm đương được cơng việc một cách độc lập, tự chủ.</i>
Thực hiện chủ trương trên, Việt Nam từng bước rút chuyên gia ở tỉnh và huyện về nước
(trước tháng 5-1974), đồng thời điều chỉnh các lực lượng chuyên gia và qn tình nguyện cịn lại để
phối hợp và giúp Lào thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Sự phối hợp chặt chẽ và
giúp đỡ hiệu quả giữa Việt Nam và Lào nói trên, đã làm cho thế và lực của cách mạng Lào lớn
mạnh vượt bậc, tạo điều kiện thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng lan rộng và
sôi nổi, nhất là ở Thủ đơ Viêng Chăn, buộc Chính phủ liên hiệp phải chấp nhận Cương lĩnh chính
trị 18 điểm và Chương trình hành động 10 điểm do Mặt trận Lào yêu nước đưa ra (12-1974), đồng
thời góp phần hỗ trợ tích cực cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh em giành thắng
Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trong tháng 4-1975,
nhất là chiến thắng giải phóng hồn tồn miền Nam (30-4-1975) của nhân dân Việt Nam, ngày
5-5-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng, quyết
định phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và
giành thắng lợi hồn tồn.
Tháng 12 năm 1975, nước Cộng hịa dân chủ nhân dân Lào ra đời. Đây là thắng lợi to lớn,
triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợi quan trọng của mối quan hệ đặc
biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào.
<i>Thứ hai: Hợp tác và giúp đỡ nhau, vượt qua khó khăn cùng xây dựng chủ nghĩa xã</i>
<b>hội, hội nhập và phát triển.</b>
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang mới. Đây là thời kỳ Đảng
Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào trở thành Đảng cầm quyền ở mỗi nước; cả
hai nước càng có điều kiện phát huy truyền thống tốt đẹp đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấu
tranh chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác tồn
diện về chính trị, quốc phịng an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục… Tuy nhiên, vào thời điểm này
hai nước đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, đặc biệt là hậu quả thống trị
của chủ nghĩa thực dân mới. Trong khi đó, các thế lực thù địch trong nước và bên ngoài câu kết,
tìm cách chia rẽ Lào với Việt Nam, Việt Nam với Lào gây khó khăn, trở ngại khơng nhỏ cho mối
quan hệ giữa Việt Nam và Lào.
Ngày 30-4-1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết Về
<i>tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường</i>
đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và
nhân dân Việt Nam. Từ ngày 15 đến ngày 18-7-1977, Đoàn đại biểu cao cấp Đảng và Chính phủ
Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị
<b>Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước:</b> <i>Hiệp ước hữu</i>
<i>nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào;</i>
<i>Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước</i>
<i>Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài</i>
giữa hai nước. Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng
<i>hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước tồn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở chính trị</i>
và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đồn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt
Nam – Lào, mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước.
Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị: “Trên cơ sở quán
triệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, các Nghị quyết 10 và 11 của Bộ
Chính trị về tăng cường đồn kết, hợp tác tồn diện với Lào và Campuchia và nội dung thỏa thuận
trong các cuộc hội đàm lần này7<sub>, các bộ ban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạn</sub>
cần kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiện tượng tiêu cực,
các quan điểm, nhận thức và hành động sai trái gây phương hại cho quan hệ đặc biệt giữa ta với
Lào”8<sub>. Về phía Lào, Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào cũng khẳng định:</sub>
“Xuất phát từ truyền thống lịch sử và tình hình, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ba nước, sự
tăng cường liên minh hợp tác toàn diện giữa ba Đảng, ba nước Lào – Việt Nam – Campuchia mới
trở thành nhiệm vụ chiến lược số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịch của mỗi nước, là vấn
đề sống còn của mỗi nước”9<sub>. Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào ghi</sub>
7
rõ: “hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ quan hệ
đồn kết sống cịn và lâu dài, qn triệt quan điểm, phương châm nguyên tắc của mối quan hệ trong
giai đoạn cách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phong làm việc mới, tránh những bảo thủ, chủ
Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị đã trở thành một
cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước. Trong đó có sự kiện có ý nghĩa quan
trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác tồn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu
nghị chính thức nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Đồn đại biểu Đảng Cộng sản Việt
Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989. Đây là chuyến thăm
Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội IV Đảng
Nhân dân Cách mạng Lào. Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới
phương thức hợp tác giữa hai nước và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực. Thành tựu nổi bật
nhất của quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên định
<i>giữ vững định hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa.</i>
Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phơmvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng
Lào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thăm chính thức Việt Nam. Hai bên
khẳng định quyết tâm trước sau như một là tăng cường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc
biệt Lào – Việt Nam, Việt Nam – Lào, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởng
Ngoại giao giữa hai nước nhằm phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc
tế.
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trung ương đến cấp
tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công
tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận. Quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương,
nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi
vào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả. Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên
soạn cơng trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam (1930 – 2007) nhằm
tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, đúc
kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt
Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lên một tầm cao mới.
<b>CÂU 3: VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CHỦ TỊCH CAYXỎN</b>
<b>PHÔMVI HẲN, CHỦ TỊCH XUPHANUVÔNG VÀ CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CẤP CAO CỦA</b>
<b>HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN</b>
<b>QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT NAM ?</b>
<b>Trả lời:</b>
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam là
quan hệ đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ
chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch
Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phơmvihản, đồng chí
Xuphanuvơng và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun
đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và
Đảng Cộng sản Việt Nam:
<i><b>Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào –</b></i>
<i><b>Việt Nam.</b></i>
Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc, với lòng yêu nước nồng nàn và
nghị lực phi thường, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tự mình khám phá thế giới tư bản chủ
nghĩa và các dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiện chân lý cứu nước. Người tiếp nhận và vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Đơng Dương để xác định con đường giải
phóng các dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vơ sản.
Trong q trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình
Lào. Người khơng chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung mà cịn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của
thực dân Pháp ở Lào (1)<sub>. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên- tổ chức tiền thân của Đảng Cộng</sub>
sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (Trung
Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái
Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho cơng tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người
về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đơng Dương. Q trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng
cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp
tới của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào.
Ngày 3 21930, Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lapạ đã ra đời
-tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương cũng là sự mở đầu những trang sử vẻ vang của quan hệ
đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
Trên cơ sở sự phát triển của tổ chức Đảng ở Lào, tháng 9 năm 1934, Ban Chấp hành Đảng
bộ lâm thời Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập. Sự ra đời của Xứ uỷ Ai Lao là một
dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêu nước của nhân dân các bộ tộc Lào, khẳng định trên
thực tế vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Lào đối với cách mạng Lào cũng như đánh dấu một bước phát
triển mới trong quan hệ giữa phong trào cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Đơng Dương cịn đề
ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ Đảng và phong trào cách mạng Đông
<i><b>Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng chí Kayxỏn Phơmvihản, đồng chí Xuphanuvơng và</b></i>
<i><b>các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ</b></i>
<i><b>đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.</b></i>
với Việt kiều: “mong rằng ba nước Việt, Miên, Lào bắt tay nhau để kiến thiết quốc gia” (4)<sub>. Chính</sub>
phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào – Việt <i>(4) </i><sub>và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào - Việt</sub>
<i>(5)</i><sub>, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của</sub>
hai dân tộc Việt - Lào.
Sau khi giành được chính quyền, nhân dân hai nước Việt Nam, Lào hơn lúc nào hết, chỉ
mong muốn được sống trong hịa bình, tiếp tục hợp tác, cùng nhau bảo vệ nền độc lập và xây dựng
lại đất nước nhưng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp được sự đồng lõa của quân Anh, nổ
súng đánh chiếm thành phố Sài Gịn. Tiếp đó, chúng mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ, Nam
Trung Bộ của Việt Nam, sang Campuchia, Hạ Lào, rồi toàn cõi Đông Dương.
Trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam – Lào - Campuchia,
ngày 25-11-1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị<i> Kháng chiến</i>
<i>kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương. Chỉ thị chủ trương:</i>
<i>“Thống nhất mặt trận Việt- Miên- Lào chống Pháp xâm lược” và nêu rõ nhiệm vụ: “Tăng cường</i>
công tác vũ trang tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê, làm cho mặt trận kháng
Đảng và Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh ln coi nhiệm vụ giúp
cách mạng Lào như mình tự giúp mình để cùng phối hợp chiến đấu, đánh đuổi kẻ thù chung, giành
độc lập tự do cho mỗi nước trên bán đảo Đông Dương. Thấm nhuần quan điểm quốc tế cao cả của
Đảng Lao động Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam từ tiền tuyến đến hậu
phương sẵn sàng chia sẻ những thuận lợi, cùng khắc phục khó khăn, cử nhiều người con yêu dấu
của mình sang phối hợp cùng bạn Lào đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển lực lượng kháng
chiến.
Nhân dịp giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dân tộc, thống nhất
quốc gia, thành lập Chính phủ Liên hiệp, ngày 10 tháng 1 năm 1958, Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân
Lào gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam
khẳng định: “Sở dĩ cách mạng Lào đạt được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu
<i>tranh anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân</i>
<i>dân Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động</i>
<i>Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”.</i>(7)
Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cách mạng Lào, đồng
thời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân hai nước Việt
Nam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thành nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sự
nghiệp cách mạng Lào, như đồng chí Cay xỏn Phơmvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng
Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam
<i>cho cách mạng Lào hết sức tận tình và vơ tư. Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu.</i>
<i>Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của</i>
<i>Lào… Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng</i>
<i>là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”</i>(8)<i><sub>. </sub></i>
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là mình tự giúp mình”, coi nhân
và Lào đều có cơ hội và điều kiện thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, sử dụng các thành tựu
khoa học cơng nghệ của thế giới để đẩy nhanh q trình phát triển kinh tế, xây dựng đất nước…
Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lào và Việt Nam đã
đạt được thỏa thuận quan trọng trong vịng hai tháng rút tồn bộ qn đội và chuyên gia Việt Nam
về nước và bắt đầu xúc tiến việc hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước. Tuy nhiên, lợi dụng
cơ hội này, bọn phản động trong nước Lào, với sự hỗ trợ của các thế lực thù địch quốc tế, đã hoạt
động nổi dậy ở nhiều nơi. Do vận mệnh của hai nước liên đới lẫn nhau nên mối quan tâm hàng đầu
về an ninh chính trị của Lào cũng là mối quan tâm thường trực của Việt Nam. Ngày 30 tháng 4
năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết Về tăng cường giúp
<i>đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp</i>
đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt
Nam, cũng là vì lợi ích thiết thân của cách mạng Việt Nam.
Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1977, Đồn đại biểu cao cấp Đảng và Chính
phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị
chính thức Lào. Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan
tâm, cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và
nhân dân hai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống cịn của hai dân tộc
trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngày 18 tháng 7 năm 1977,
<i>Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân</i>
<i>chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước tồn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở chính trị và pháp</i>
lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đồn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam –
Lào, Lào – Việt Nam. Hiệp ước có giá trị trong 25 năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng 10
năm nếu một trong hai bên không thông báo cho bên kia muốn hủy bỏ Hiệp ước ít nhất là một năm
trước khi hết hạn. Hiệp ước nêu rõ: Hai bên cam kết ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc
biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, khơng ngừng tăng cường tình đồn kết và tin cậy lẫn nhau,
sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt trên tinh thần của chủ nghĩa quốc tế vơ sản và
theo ngun tắc hồn tồn bình đẳng, tơn trọng độc lập, chủ quyền và tồn vẹn lãnh thổ của nhau,
<i>tơn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đây là mốc</i>
<i>lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước. Việc ký kết hiệp ước đó</i>
cịn có ý nghĩa quốc tế quan trọng, nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng giữa hai nước đang cùng
hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội và phát huy ảnh hưởng tích cực trong khu vực.
<i>Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải quyết vấn đề</i>
lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa
quốc tế vơ sản trong sáng, là mẫu mực về chính sách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
<i><b>Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986, lãnh đạo cấp cao hai Đảng hai Nhà</b></i>
<i><b>nước càng tăng cường cũng cố quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. </b></i>
Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị: “Trên cơ sở quán
triệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, các Nghị quyết 10 và 11 của Bộ
Chính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia và nội dung thỏa thuận
trở thành nhiệm vụ chiến lược số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịch của mỗi nước, là vấn
đề sống còn của mỗi nước”13<sub>. Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào ghi</sub>
rõ: “hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ quan hệ
đoàn kết sống còn và lâu dài, quán triệt quan điểm, phương châm nguyên tắc của mối quan hệ trong
giai đoạn cách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phong làm việc mới, tránh những bảo thủ, chủ
quan, chống mọi hiện tượng lơ là mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, chống tư tưởng dân tộc hẹp
hịi”14<sub>. </sub>
Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị đã trở thành một
cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước. Trong đó có sự kiện có ý nghĩa quan
trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu
nghị chính thức nước Cộng hịa Dân chủ Nhân dân Lào của Đồn đại biểu Đảng Cộng sản Việt
Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989. Đây là chuyến thăm
Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội IV Đảng
Nhân dân Cách mạng Lào. Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới
phương thức hợp tác giữa hai nước và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực. Thành tựu nổi bật
nhất của quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên định
<i>giữ vững định hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa.</i>
Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phơmvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng
Lào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thăm chính thức Việt Nam. Hai bên
khẳng định quyết tâm trước sau như một tăng cường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặc
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trung ương đến cấp
tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công
tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận. Quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương,
nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi
vào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả. Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên
soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ 1930 – 2007 nhằm
tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, đúc
kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt
Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lên một tầm cao mới.
Tháng 6 năm 2011, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã thăm hữu nghị
chính thức CHDCND Lào, tiếp tục khẳng định mong muốn và quyết tâm của Đảng, Nhà nước và
nhân dân Việt Nam trong việc gìn giữ, phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào như một tài sản
chung vô giá của hai dân tộc. Cũng trong năm 2011, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn lãnh đạo Quốc
hội và đại biểu Quốc hội của hai nước, phối hợp tổ chức thành công nhiều hoạt động giao lưu giữa
các cơ quan của hai Quốc hội như: Hội thảo giao lưu giữa Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam
-Lào tại Hội An (Việt Nam) vào tháng 6/2011; Hội thảo giữa ba Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt
Nam - Lào - Campuchia tại Chămpaxắc (Lào) vào tháng 7/2011; Hội thảo giao lưu giữa Văn phòng
Quốc hội Việt Nam - Lào tại Savẳnnakhệt (Lào) vào tháng 7/2011; Hội thảo giữa hai Ủy ban Văn
hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của hai Quốc hội tháng 2/2011 tại Lào, qua đó
tăng cường hiểu biết, tin cậy và quan hệ hợp tác tồn diện giữa hai Quốc hội nói riêng, hai Đảng,
Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào nói chung.
Tháng 8/2011,Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chummaly xaynhasỏn dẫn đầu Ðoàn đại
biểu cấp cao Lào sang thăm Việt Nam tiếp tục góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ truyền
thống, hữu nghị vĩ đại, tình đồn kết đặc biệt và sự hợp tác tồn diện giữa hai Ðảng, hai Nhà nước
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam quý báu và thiêng liêng đã được Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
<i><b>"</b></i>
<i><b>Thương nhau mấy núi cũng trèo,</b></i>
<i><b>Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.</b></i>
<i><b>Việt - Lào, hai nước chúng ta,</b></i>
<i><b>Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long"</b><b>.</b></i>
Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định<i><b>: "</b><b>Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã</b></i>
<i><b>có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ,</b></i>
<i><b>có được sự đồn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt</b></i>
<i><b>Nam"</b><b>; "</b><b>Núi có thể mịn, sơng có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn</b></i>
<i><b>núi, hơn sông"</b><b>. </b></i>
<b>CÂU 4: NHỮNG THÀNH TỰU CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ</b>
<b>QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT NAM?</b>
<b>Trả lời:</b>
- Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào-Việt Nam là quy luật giành thắng lợi, là nguồn sức
mạnh vô tận và quý giá nhất của cách mạng hai nước, là di sản văn hóa thiêng liêng của hai dân
- Hai dân tộc Việt Nam- Lào sát cánh bên nhau cùng tiến hành khởi nghĩa tháng Tám 1945,
giành độc lập dân tộc.
- Đánh giá xác đáng tình hình chính trị Đông Dương và chỉ rõ mâu thuẫn cần giải quyết.
- Xác lập các luận điểm về vấn đề dân tộc ở Đông Dương.
- Quyết định thực hiện một nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc.
- Xúc tiến công tác xây dựng đảng và lực lượng cách mạng.
- Chỉ đạo phương pháp đấu tranh giành chính quyền.
* Việt Nam, Lào đoàn kết, liên minh chiến đấu chống thực dân, đế quốc xâm lược, hồn thành
sự nghiệp giải phóng dân tộc.
- Vượt qua thử thách, tạo dựng thực lực của liên minh chiến đấu chống thực dân Pháp.
+ Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, chiến trường Đông Dương bị kẻ thù bao
vây, cô lập. Nhưng quân dân hai nước vãn mở đường từ Việt Nam xuyên qua đất Lào tới nhiều
nước tuyên truyền cho cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Đông Dương; thu hút sự ủng
hộ, chi viện của bạn bè quốc tế; chuyển về Lào và Việt Nam nhiều cán bộ, chiến sĩ Việt kiều, bổ
sung lực lượng kháng chiến.
+ Xây dựng đội ngũ lãnh đạo chủ chốt đầu tiên của quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào-Việt
Nam.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt đầu tiên của quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào-Việt Nam vốn đã
được chuẩn bị từ trước tháng 8-1945; đến kháng chiến chống thực dân Pháp đã xây dựng được đội
Phía Việt Nam, đó là nhiều cán bộ cấp cao của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.
Phía Lào, những nhà cách mạng tiêu biểu như đồng chí Cayxỏn Phơmvihản, đồng chí
Xuphanuvơng và nhiều đồng chí lãnh đạo khác giàu tài năng, đạo đức cách mạng.
+ Gây dựng cơ sở chính trị và căn cứ địa, phát triển chiến tranh du kích và thắt chặt quan hệ
đoàn kết Việt- Lào.
Tư tưởng chủ đạo của nhiệm vụ trên được nêu ra sớm tại <i>Chỉ thị về kháng chiến kiến quốc</i>
của TƯ Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 11 năm 1945.
Từ cuối năm 1948, việc thành lập khu kháng chiến được bắt đầu tiến hành. Các khu kháng
chiến Thượng Lào, Hạ Lào, Tây Bắc Lào... lần lượt xuất hiện.
Giữa tháng 8/1950, tại tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam), Đại hội Quốc dân Lào quyết định
những vấn đề quan trọng về cách mạng Lào, thành lập Chính phủ Lào kháng chiến và Neo Lào
Itsxala. Sự kiện đó tạo ra bước phát triển mới về việc tăng cường cơ quan chỉ đạo kháng chiến và
mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết các tầng lớp nhân dân, các phần tử yêu nước và phát huy mạnh
mẽ hơn sức mạnh của cuộc chiến tranh cách mạng Lào góp phần tăng cường quan hệ đặc biệt
Lào-Việt Nam.
+ Xây dựng tại mỗi nước Việt, Campuchia, Lào một chính đảng độc lập và thành lập Mặt
trận Liên minh Việt-Campuchia-Lào.
Tại Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản, tháng 2/1951, đồng chí Hồ Chí Minh đề nghị
thành lập ở mỗi nước Đơng Dương một Đảng Cộng sản.
Theo nghị quyết Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Cộng sản ở Việt Nam lấy
tên là Đảng Lao động Việt Nam; Ban vận động thành lập Đảng nhân dân Lào có sự hỗ trợ của
Nối tiếp Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng tại Việt Bắc, diễn ra hội nghị thành
lập Mặt trận Việt- Miên-Lào. Nghị quyết Hội nghị biểu thị ý chí thống nhất của nhân dân ba nước
Đơng Dương đồn kết đánh đuổi thực dân Pháp và can thiệp Mĩ, làm cho ba nước Việt Nam,
Campuchia, Lào hoàn toàn độc lập, nhân dân ba nước được tự do, sung sướng và tiến bộ.
- Việt Nam, Lào đồng tâm, hiệp lực chiến đấu, lập nên nhiều chiến công.
+ Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp:
Tháng 4/1953, Liên quân Lào- Việt mở chiến dịch Thượng Lào. Trong vòng một tháng đã
giải phóng một vùng rộng lớn với trung tâm là Sầm Nưa tạo ra một địa bàn đứng chân vững chắc
của cách mạng Lào.
Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, thắng lợi của các chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào đã
củng cố và mở rộng căn cứ ở vùng trọng yếu này, buộc đối phương phải đưa quân tới đây để đối
phó với liên quân Lào-Việt.
Tháng 1/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay đổi phương châm tác chiến tại chiến dịch
Điện Biên Phủ từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, bộ đội Việt Nam phối
hợp với quân giải phóng Lào và được nhân dân Lào chi viện vật chất, tấn công khu vực sông Nậm
U, tiến sát kinh đô Luông Pha băng, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy tập đoàn cứ điểm
Điện Biên Phủ vào thế hồn tồn cơ lập.
Ngày 13/3/1954, quân và dân Việt Nam mở cuộc quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ.
Quân dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chiến lược cuả địch chi viện cho Điện
Biên Phủ từ phía Lào; góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa tới sự
kiện kí kết Hiệp định Giơnevơ.
+ Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ :
21 năm chống Mĩ là chặng đường kế tục, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, trong
đó, nổi bật lên những hoạt động tiêu biểu:
Sự phối hợp giữa lãnh đạo, quân dân hai nước Việt Nam, Lào phá vỡ mưu đồ tiêu diệt lực
<i>lượng vũ trang Pathet Lào và hãm hại bộ phận đầu não cơ quan lãnh đạo cách mạng Lào do đế</i>
<i>quốc Mĩ và bè lũ tay sai tiến hành.</i>
Do sự hợp lực giữa hai phía Lào, Việt Nam, Tiểu đoàn 2 Pathet Lào đã mưu lược, anh dũng
chiến đấu thốt ra khỏi vịng vây của địch tại Xiêng Khoảng vào tháng 5 năm 1959, sau 15 ngày trở
về căn cứ an toàn.
Sau một thời gian chuẩn bị rất công phu của các đồng chí lãnh đạo Lào bị giam và nhiều lực
lượng cách mạng bên ngoài trại giam, cuối cùng, đêm ngày 32 rạng ngày 24/5/1960, với sự phối
hợp chặt chẽ giữa nhiều lực lượng phía Lào và phía Việt Nam, các đồng chí lãnh đạo Lào và cán bộ
bị bắt vượt khỏi trại giam Phôn Khênh tại Viêng Chăn.
Sự hợp lực giữa lãnh đạo Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt Nam để xác định
<i>phương pháp đấu tranh vũ trang là chủ yếu, kết hợp với đấu tranh chính trị chống chiến lược</i>
<i>“Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ ở Lào.</i>
3/6/1959, bàn về vấn đề Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên phương pháp đấu tranh của cách
mạng Lào là phải dùng du kích, phải trường kì gian khổ, phải chú ý dân vận, địch vận...
Đến tháng 7/1959, hai Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào nhất
trí quyết định phát động cuộc đấu tranh vũ trang trong mùa mưa năm 1959 lấy trọng tâm là chiến
tranh du kích, phát động phong trào quần chúng nổi dậy, giành chính quyền tại thơn xã.
Trung tuần tháng 7/1959, bộ đội Lào mở 3 hướng tấn cơng. Hướng chính từ Đơng Nam
Tuyến đường chiến lược Trường Sơn là một cơng trình vĩ đại , biểu tượng cao đẹp của
<i>quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam </i>
Năm 1959, đáp ứng nhu cầu chi viện sức người, sức của cho các chiến trường miền Nam
Việt Nam, Lào và Campuchia, việc mở đường chiến lược Trường Sơn càng trở nên cấp thiết. Theo
đề nghị của Việt Nam, tại cuộc hội đàm cấp cao giữa lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam và Đảng
Nhân dân Lào cuối năm 1960, phía Lào hồn toàn ủng hộ chủ trương mở đường Tây Trường Sơn
và phát biểu: “Vận mệnh của hai nước chúng ta gắn bó mật thiết với nhau. Nhân dân Lào sẽ làm
hết sức mình để góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam anh em”.
Công cuộc mở đường diễn ra với sự phối hợp lực lượng Lào, Việt Nam cùng tiến hành.
Đường Trường Sơn vừa là tuyến đường chuyển vận người và của từ hậu phương lớn miền
Bắc Việt Nam chi viện cho chiến trường ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia; cũng là nơi thiết lập
căn cứ hậu cần khổng lồ, dự trữ và cung cấp vũ khí, hàng quân dụng, dân dụng cho tiền tuyến.
Nơi đây biến thành chiến trường phản công quyết liệt của bộ đội Việt Nam và bộ đội Lào
trong cùng một liên minh giáng trả các mũi tấn công của đối phương, ghi lại bao chiến công hiển
hách. Tất cả đã tạo dựng nên một biểu tượng cao đẹp của quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào,
Lào-Việt Nam.
Thắng lợi vĩ đại của hai dân tộc Việt Nam, Lào diễn ra năm 1975, kết thúc 30 năm chiến
tranh cách mạng, lập hai kì tích chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược; đánh dấu sự
tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ và sự thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, dù đế quốc Pháp, Mĩ đã
cố gắng hết sức nhưng không thể nào cứu vãn nổi.
<b>CÂU 5: NHỮNG KỈ NIỆM SÂU SẮC VỀ TÌNH ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ GIỮA</b>
<b>HAI DÂN TỘC VIỆT – LÀO TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN</b>
<b>Trả lời:</b>
Tháng 9-1959, theo yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trung ương Đảng
Lao động Việt Nam quyết định thành lập đoàn 959 chuyên gia giúp Lào ở mặt trận Hạ Lào. Cũng
trong thời gian này, Bộ Quốc phịng quyết định thành lập đồn 559 với nhiệm vụ mở đường, vận
chuyển vật chất, đưa đón cán bộ, bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời vận chuyển vào bảo
đảm hậu cần cho đoàn 959 chuyên gia ở Lào và vận chuyển vật chất giúp bạn Lào.
Khi phát hiện ra tuyến đường vận tải chiến lược quan trọng này, đế quốc Mỹ và chính
quyền Sài Gịn đã kết hợp các lực lượng khơng qn, bộ binh với phương tiện chiến tranh hiện đại
liên tục đánh phá. Các đơn vị vận tải bị kẹt lại, không qua được đường 9. Trước tình hình đó, trên
cơ sở quan hệ truyền thống vốn có giữa hai dân tộc, yêu cầu khách quan cần gấp rút chi viện cho
chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia, hai Đảng, hai Chính phủ thống nhất mở thêm đường
phía Tây Trường Sơn chạy trên đất Lào. Từ tháng 4-1961, dưới sự giúp đỡ của các đơn vị tình
nguyện Việt Nam, lực lượng cách mạng Lào đã mở nhiều đợt hoạt động quân sự ở miền Trung và
Hạ Lào, giải phóng một vùng rộng lớn từ Căm Cớt, Lắc Xao đến Mường Phìn, Sê Pơn, Bản Đơng,
nối đường 12 với đường 9, nhanh chóng tạo thành một hành lang dài và rộng theo chiều Đơng
-Tây. Tồn bộ 6 mường của Lào ở Bắc và Nam đường số 9 được giải phóng.
559 qua đường Hồ Chí Minh đã chuyển vào miền Nam Việt Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ,
230.000 tấn vật chất các loại, đưa sang Lào (1973-1975) trên 108.000 tấn hàng.
Trung tuần tháng 8/1945, thời cơ giành độc lập cho Đơng Dương đã đến, lãnh tụ Hồ Chí Minh và
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định Tổng khởi nghĩa và tiến hành
Hội nghị toàn Đảng tại Tân Trào (Tuyên Quang vào ngày 14 và 15/8/1045).
Vào thời điểm này, Bác Hồ gặp các đồng chí đại biểu Xứ ủy Lào, Người dặn: Thời cơ rất
thuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phải giành được chính quyền khi Đồng
mạng Lào phát triển.
Cuối tháng 4 đến giữa tháng 5/1953, liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào mở chiến dịch
Thượng Lào giành thắng lợi lớn, giải phóng tồn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và
Phôngxalỳ, mở rộng căn cứ địa cách mạng Lào. Đối với Việt Nam, chiến dịch Thượng Lào đã góp
phần phân tán lực lượng địch, phá tan âm mưu củng cố vùng Tây Bắc và bình định vùng đồng bằng
Bắc bộ của Pháp.
Tiếp đó, từ tháng 12/1953 đến tháng 5/1954, liên quân chiến đấu Việt Nam- Lào mở chiến dịch
Trung- Hạ Lào. Thắng lợi của chiến dịch buộc Nava phải tiếp tục phân tán khối cơ động chiến lược
của chúng, góp phần làm giảm khối chủ lực của địch trên chiến trường chính Bắc bộ, nhất là đối
với hướng chính Điện Biên Phủ.
Khi quân và dân ta tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, quân và dân Lào đã
anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chi viện chiến lược của địch cho Điện Biên Phủ, góp phần
cơ lập địch ở đây, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Nam giành thế chủ động tiến cơng
địch, giành thắng lợi hồn tồn.
ngun tắc hồn tồn bình đẳng.
Hai Đảng, hai Nhà nước thường xuyên trao đổi ý kiến về vấn đề lý luận và chỉ đạo thực tiễn sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Lào, khơi dậy nội lực và mở rộng quan hệ quốc
tế, đem lại sự đổi mới toàn diện cho mỗi nước. Cùng với những hoạt động bảo vệ an ninh chính trị,
chủ quyền quốc gia, hai bên còn phối hợp chặt chẽ trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giúp đỡ nhau
về hậu cần kỹ thuật, đặc biệt là việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên
đất Lào.
Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng, tơn trọng chủ quyền quốc
gia, cùng có lợi và hết lịng giúp đỡ nhau; đồng thời, căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà
dành ưu tiên, ưu đãi cho nhau. Điểm đặc biệt nổi bật trong quan hệ hợp tác kinh tế Lào - Việt Nam
là tinh thần giúp đỡ nhau mỗi khi nước bạn gặp khó khăn mà khơng thể tự giải quyết được.
Trong hợp tác phát triển văn hóa thì lĩnh vực giáo dục, đào tạo cán bộ được đặt ở tầm chiến lược,
tác động trực tiếp tới sự phát triển của quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc, được mở đầu từ thập niên
1950. Từ đó đến suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng vạn học sinh Lào được học tập
tại Việt Nam từ cấp tiểu học đến THPT. Việt Nam còn gửi chuyên gia sang Lào giúp bạn xây dựng
một nền giáo dục mới theo yêu cầu của bạn. Từ sau năm 1975, Việt Nam giúp bạn đào tạo cán bộ
đạt trình độ đại học và trên đại học. Theo đó, hàng năm có hơn 1.000 cán bộ, sinh viên Lào được
bồi dưỡng, học tập tại nhiều học viện, trường đại học Việt Nam. Về phía Việt Nam, hàng năm có từ
15-20 lưu học sinh sang học tại Đại học Quốc gia Lào.
Đi đôi với mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước, các bộ, ngành trung
ương, cịn có mối quan hệ kết nghĩa giữa tồn bộ các tỉnh có chung đường biên giới cũng như các
tỉnh khơng có chung biên giới giữa hai nước với nhau. Các địa phương đã phối hợp chặt chẽ về trao
đổi đoàn tham quan, cùng giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cũng như cùng tháo gỡ những khó khăn
giữa hai nước. Các Hội hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam
tại Lào đã có nhiều đóng góp đáng kể trong vai trò làm cầu nối quan trọng trong việc giữ gìn và
phát triển quan hệ đồn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.
<b>CÂU 6: MỘT SỐ BIỂU HIỆN SINH ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, GẮN</b>
<b>BÓ, THỦY CHUNG SON SẮT CỦA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO DƯỚI SỰ LÃNH </b>
<b>ĐẠO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA ?</b>
<b>1. Dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, quân dân các dân tộc Việt Nam - Lào</b>
<b>đoàn kết bên nhau, chung sức, chung lòng đánh thắng giặc Mỹ xâm lược </b>
Sau Hiệp định Giơnevơ, theo yêu cầu của Chính phủ Kháng chiến Lào, Đảng và Nhà nước
Việt Nam quyết định để lại một bộ phận chuyên gia tiếp tục giúp đỡ cách mạng Lào. Tổng số
chuyên gia gồm 964 đồng chí. Đây là lực lượng rất quan trọng đối với cách mạng Lào sau ngày
đình chiến.
Thực hiện đề án đấu tranh ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ (là căn cứ tập kết của lực
lượng cách mạng Lào), được sự chỉ đạo phối hợp của Ban cán sự miền Tây, chuyên gia quân sự
Việt Nam đã giúp đỡ bạn xây dựng hai tỉnh thành các khu chiến đấu liên hồn, đáp ứng tình hình
thực tế của từng địa bàn, khả năng tổ chức, quản lý của cán bộ Lào, đồng thời đề phòng chiến sự
lan rộng. Trong trường hợp bị chia cắt, từng khu có thể đảm bảo độc lập tác chiến; đồng thời giúp
bạn triển khai các mặt công tác chuẩn bị chiến trường, củng cố cơ sở ở các địa phương tạo địa bàn
vững chắc, ngăn chặn địch tấn cơng. Nhờ đó, lực lượng Pathết Lào khơng chỉ đẩy lùi các đợt tấn
công lấn chiếm của quân đội Vương quốc Lào, mà còn mở trận đánh lớn thu thắng lợi, diệt được
nhiều địch và mở rộng vùng giải phóng, làm nức lịng nhân dân hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ.
thống nhất đất nước, cách mạng Lào ln được sự giúp đỡ tận tình của cách mạng Việt Nam, Đảng
Lao động Việt Nam. Sỡ dĩ cách mạng Lào giành được thắng lợi to lớn đó...cũng do sự đóng góp
quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi
trong mỗi giai đoạn của cách mạng”.
Về quân sự, Việt Nam không chỉ sát cánh bên bạn trong thời kỳ đầu củng cố, phát triển lực
lượng, xây dựng hậu cứ, cung cấp vũ khí, qn trang mà cịn phối hợp với bộ đội PaThết Lào đánh
Trên cơ sở thoả thuận giữa hai Đảng, ngày 9-1-1961, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư
lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam xác định nhiệm vụ quốc tế của chuyên gia và quân tình nguyện
Việt Nam đối với cách mạng Lào trong 5 năm 1961-1965 là: Giúp đỡ các lực lượng vũ trang cách
mạng Lào về chuyên gia quân sự, đào tạo cán bộ; củng cố, xây dựng vùng giải phóng và phát triển
lực lượng vũ trang của bạn; khi bạn có yêu cầu, tổ chức bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp
chiến đấu với bộ đội bạn.
Trung ương Đảng hai nước cũng xác định: Lực lượng PaThết Lào cần phối hợp chặt chẽ với
quân tình nguyện Việt Nam, kiên quyết đập tan các hoạt động phiêu lưu quân sự của địch, giữ vững
vùng giải phóng và các cơ quan đầu não của Trung ương Đảng Lào trong mọi tình huống.
Căn cứ nhiệm vụ trên, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định biên
chế thời chiến cho Sư đoàn 325, Lữ đoàn 341, Trung đoàn 224 thuộc Quân khu 4; Lữ đoàn 316, Lữ
Trên tinh thần đó, các trận đánh phối hợp giữa hai bên ngày càng đạt hiệu quả cao, thu
thắng lợi giòn giã trên các chiến trường như cuộc tiến cơng giải phóng đường 8, giải phóng huyện
Xê Pơn (Savẳnnakhệt), đẩy lùi các đợt tấn công của địch vào Xiêng Khoảng. Tiêu biểu là chiến
dịch Nặm Thà năm 1962, do Bộ tư lệnh chiến dịch Nặm Thà trực tiếp chỉ huy với sự tham gia của
các tướng lĩnh Việt Nam - Lào. Chiến dịch Nặm Thà đã làm xoay chuyển tình thế có lợi cho cách
mạng Lào, có ý nghĩa quan trọng về quân sự và chính trị. Liên qn Lào - Việt khơng chỉ tiêu diệt
được một bộ phận sinh lực tinh nhuệ của địch vừa mới xây dựng, mà còn giáng đòn mạnh về chính
trị, đánh vào âm mưu của Mỹ và chính quyền tay sai Phumi Nơxavẳn, làm cho tinh thần đội quân
đánh thuê thêm hoang mang, dao động. Uy tín của Neo Lào Hắc Xạt, quân đội PaThết Lào được
nâng cao, khu giải phóng mở rộng thành căn cứ liên hoàn đến tận biên giới Trung Quốc.
Sau Hiệp định Giơnevơ về Lào năm 1962, thực hiện cam kết của mình, Trung ương Đảng
Lao động Việt Nam quyết định rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam và đại bộ phận chuyên gia
quân sự về nước. Thời gian này, Chính phủ liên hiệp Lào đã lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước,
tuy vậy, Hồng thân Xuvanuvơng vẫn khẳng định: Người bạn cùng sống chết, chung một chiến hào
với ta chỉ có Việt Nam.
tình cảm thủy chung giữa quân và dân hai nước là đoàn chuyên gia Việt Nam phần lớn là các đồng
chí đã từng hoạt động, chiến đấu trên đất bạn thời gian trước.
Cuối năm 1964, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào mở “cuộc vận động thu phục
phỉ” nhằm ổn định vùng giải phóng. Việt Nam đã giúp Lào các sản phẩm thiết yếu như muối, vải,
quần áo, thuốc men; đồng thời tại Lào, các đơn vị tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã sát cánh
cùng quân, dân Lào triển khai có hiệu quả cuộc vận động trên. Nhiều ổ phỉ lâu đời bị giải tán, tạo
sự ổn định mọi mặt cho các vùng giải phóng.
Từ năm 1965, liên minh chiến đấu Việt - Lào sát cánh bên nhau đánh bại chiến lược “chiến
Trước tình hình đế quốc Mỹ đánh phá vùng giải phóng Lào quyết liệt, đồng thời mở các
chiến dịch ngăn chặn, cắt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh; dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, quân tình
nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào không quản gian khổ, hy sinh chiến đấu anh dũng, kiên
cường cùng quân, dân Lào bảo vệ vùng giải phóng, tuyến hành lang chiến lược và mở các chiến
dịch tấn cơng địch giành thắng lợi to lớn. Có những cuộc chiến đấu diễn ra gay go, ác liệt, lực
lượng tuy mỏng nhưng quân tình nguyện Việt Nam vẫn đặt lên trên hết nhiệm vụ bảo vệ nhân dân
các bộ tộc Lào. Năm 1969, quân tình nguyện Việt Nam cùng Pa Thết Lào tổ chức chiến dịch phản
công cuộc hành quân Cù Kiệt đánh ra Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng của địch. Tại khu vực
điểm cao 1505, Lạt Huồng, sau khi địch dùng trực thăng đổ quân xuống chiếm Phu Tôn, Cang
Xẻng - Phu Hủa Xàng, chúng dùng cối 106,7 ly và pháo 105mm từ trung tâm Cánh đồng Chum bắn
phá ác liệt các điểm cao xung quanh. Tiểu đồn 924 thuộc Trung đồn 866 qn tình nguyện Việt
Nam đã kiên quyết giữ vững cao điểm 1505, Bạn Thặm, đồng thời giúp nhân dân và cơ quan bạn
sơ tán ra khỏi khu vực. Tuy lực lượng chiến đấu có hạn nhưng các đại đội vẫn cử ra một số tổ công
tác để hướng dẫn và giúp dân sơ tán. Trong bom đạn ác liệt, bộ đội tình nguyện đã chiến đấu quên
mình, giúp đỡ nhân dân, nhường áo xẻ cơm, sẵn sàng xông pha vào những nơi nguy hiểm để bảo vệ
nhân dân. Ở xưởng may của tỉnh Xiêng Khoảng, khi địch càn đến gần, anh chị em công nhân được
lệnh di chuyển nhưng có một chị tàn tật khơng đi được phải bị vào rừng lán nạn. Biết tin đó, tổ
cơng tác của trong đồn đã vào rừng tìm kiếm, cứu được chị đưa về nơi sơ tán an toàn. Trong
những ngày ác liệt này, bộ đội Việt Nam đã phối hợp với các cơ sở Đảng, chính quyền đưa hơn
16.000 dân và gia đình cán bộ sơ tán qua Mường Xéng, Kỳ Sơn (Nghệ An). Nhân dân Nghệ An
nhiệt tình đón tiếp, nhường áo xẻ cơm, cùng nhân dân Lào xây dựng nhà cửa, bệnh xá, trường học,
ổn định cuộc sống nơi sơ tán. Những tấm gương sáng, qn mình của bộ đội tình nguyện, sự đón
tiếp tận tình của nhân dân Nghệ An trong những ngày gian khó này đã góp phần làm cho tình đồn
kết chiến đấu của quân dân Việt Nam - Lào càng thêm keo sơn, gắn bó.
bị ra để xáo trộn, xoá đi. Một số đồng bào bị địch bắt, chúng dụ dỗ, mua chuộc hay tra tấn dã man,
vẫn kiên quyết khơng khai báo, sắt son một lịng một dạ trung thành với cách mạng.
Từng đoàn dân công là con em các dân tộc ngày đem gùi lương, tải đạn ra chiến trường, rồi
lại tham gia vận chuyển thương binh về tuyến sau. Nhiều thôn, bản thành lập các đội đi tìm kiếm
chơn cất cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Bom đạn địch chà xát, tàn phá nhà cửa, nương rẫy nhưng không
thể nào làm phai nhạt tình đồn kết chiến đấu giữa hai dân tộc, tình quân dân thắm thiết, thủy
chung. Đó là nhân tố làm nên chiến thắng đường 9 - Nam Lào vang dội của quân và dân hai nước.
<b>2. Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là biểu hiện vơ cùng sinh động mối quan</b>
<b>hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam</b>
Tháng 9-1959, theo yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trung ương Đảng Lao
động Việt Nam quyết định thành lập đoàn 959 chuyên gia giúp Lào ở mặt trận Hạ Lào. Cũng trong
thời gian này, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập đoàn 559 với nhiệm vụ mở đường, vận chuyển
vật chất, đưa đón cán bộ, bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời vận chuyển vào bảo đảm
hậu cần cho đoàn 959 chuyên gia ở Lào và vận chuyển vật chất giúp bạn Lào.
Khi phát hiện ra tuyến đường vận tải chiến lược quan trọng này, đế quốc Mỹ và chính
quyền Sài Gịn đã kết hợp các lực lượng không quân, bộ binh với phương tiện chiến tranh hiện đại
liên tục đánh phá. Các đơn vị vận tải bị kẹt lại, không qua được đường 9. Trước tình hình đó, trên
cơ sở quan hệ truyền thống vốn có giữa hai dân tộc, yêu cầu khách quan cần gấp rút chi viện cho
chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia, hai Đảng, hai Chính phủ thống nhất mở thêm đường
phía Tây Trường Sơn chạy trên đất Lào. Từ tháng 4-1961, dưới sự giúp đỡ của các đơn vị tình
nguyện Việt Nam, lực lượng cách mạng Lào đã mở nhiều đợt hoạt động quân sự ở miền Trung và
Hạ Lào, giải phóng một vùng rộng lớn từ Căm Cớt, Lắc Xao đến Mường Phìn, Sê Pơn, Bản Đơng,
nối đường 12 với đường 9, nhanh chóng tạo thành một hành lang dài và rộng theo chiều Đơng
-Tây. Tồn bộ 6 mường của Lào ở Bắc và Nam đường số 9 được giải phóng.
Năm 1963, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gịn tiếp tục đưa qn bao vây, đồng thời đánh
phá quyết liệt tuyến vận tải phía đơng Trường Sơn. Trước tình hình đó, được sự lãnh đạo của hai
Đảng, quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pa Thết Lào quyết định mở chiến dịch 128 giải phóng
Đối với cách mạng và nhân dân Lào, từ khi mới hình thành cho đến khi kết thúc thắng lợi
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Hồ Chí Minh đi qua 17 mường (huyện) ở Trung và
Nam Lào với tổng chiều dài hàng ngàn km. Trong 16 năm (1959-1975), đế quốc Mỹ đã rải xuống
các cánh rừng dọc tuyến đường hàng triệu tấn bom các loại, hàng ngàn tấn chất độc hóa học và
nhiều thiết bị điện tử tinh vi nhằm phát hiện, ngăn chặn lực lượng vận tải chiến lược. Đế quốc Mỹ
và chính quyền tay sai Nam Việt Nam, Lào, Campuchia còn sử dụng lực lượng lớn quân đội và vũ
khí đánh vào các vùng thuộc hành lang của tuyến đường, quy mô lớn nhất là chiến dịch Lam Sơn
719 với 20.000 quân Sài Gòn cùng sự yểm trợ của 9.000 quân Mỹ, 2.000 máy bay các loại đánh
vào khu vực Đường 9 - Nam Lào. Riêng năm 1969, máy bay Mỹ đã đánh phá hàng nghìn trận vào
180 bản làng của đồng bào các dân tộc Lào dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, thiêu hủy 845 nóc nhà,
giết hại 482 người, làm bị thương 344 người, phá 337 nương rẫy. Bất chấp sự hủy diệt tàn bạo và
những âm mưu thâm độc của kẻ thù, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nhân
dân các bộ tộc Lào đã hết lòng giúp đỡ bộ đội Việt Nam trong việc mở đường, bảo vệ tuyến đường
và vận chuyển hàng hóa phục vụ chiến trường. Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ mở rộng đánh phá,
nhân dân 17 huyện thuộc 7 tỉnh của Lào trên mảnh đất Tây Trường Sơn đã tự động dời nhà, bỏ
nương rẫy đi vào rừng sâu sinh sống. Bộ đội và du kích Lào phối hợp chặt chẽ với bộ đội Việt Nam
đánh trả máy bay địch, ngăn chặn các cuộc hành quân lấn chiếm, tập kích của chúng. Nhân dân Lào
cịn đóng góp hàng triệu ngày cơng cùng bộ đội và lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam làm
mới, sửa chữa đường xá, vận chuyển lương thực, thương bệnh binh, góp phần vào mọi hoạt động
của tuyến đường Hồ Chí Minh.
voi, coi voi là thần, là tượng trưng cho sự giàu có, danh giá. Làng nào có voi rất tự hào. Thế nhưng
khi cách mạng cần, nhân dân cả Việt - Lào đều sẵn sàng hiến voi, đưa voi ra trận tuyến.
Trong những năm tháng khó khăn hay trong những trận đánh ác liệt, nhiều bà mẹ, gia đình
Lào trong khi cuộc sống cịn rất thiếu thốn vẫn chắt chiu từng bát gạo để nuôi dưỡng thương binh,
Đáp lại lòng quý mến và đùm bọc của nhân dân Lào trên dọc tuyến đường Trường Sơn, các
đơn vị bộ đội Việt Nam đã tích cực cùng với bộ đội PaThết Lào chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng,
bảo vệ nhân dân các bộ tộc Lào, giúp đồng bào tăng gia sản xuất, cứu đói cho dân khi gặp thiên tai,
địch họa. Bộ đội Việt Nam trên tuyến đường Hồ Chí Minh còn giúp nhân dân Lào xây mới một số
tuyến đường liên bản, liên xã, liên huyện, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, phát triển kinh tế
-xã hội vùng giải phóng. Chính vì vậy, tuy phải chịu đựng hy sinh, gian khổ, nhưng nhân dân các bộ
tộc Lào dọc tuyến đường vẫn hết lòng yêu thương, ủng hộ quân đội cách mạng hai nước.
Nhờ có con đường chiến lược Hồ Chí Minh, tính chung trong vịng 16 năm (1959-1975),
tuyến giao thông vận tải quân sự Trường Sơn đã vận chuyển được 1.349.000 tấn hàng hóa, vũ khí,
trong đó giao cho các chiến trường và cách mạng Lào, Campuchia hơn 583.000 tấn, 515 triệu m3
xăng dầu. Riêng 4 tháng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, tuyến vận tải
559 qua đường Hồ Chí Minh đã chuyển vào miền Nam Việt Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ,
230.000 tấn vật chất các loại, đưa sang Lào (1973-1975) trên 108.000 tấn hàng.
Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng sáng ngời của tình đồn kết
chiến đấu, mối quan hệ thủy chung son sắt của hai dân tộc Việt - Lào trong trường kỳ đấu tranh giải
phóng dân tộc.
<b>3. Quan hệ hữu nghị đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam càng</b>
<b>phát triển sống động trong giai đoạn hồ bình, xây dựng đất nước phồn vinh, bảo vệ vững</b>
<b>chắc nền độc lập dân tộc</b>
Trong thời kỳ mới, hai Đảng, hai Nhà nước đều nhận thức rõ việc củng cố, mở rộng và phát
triển một cách toàn diện mối quan hệ Việt Nam - Lào là yêu cầu tất yếu. Vì vậy, hai nước nhanh
chóng đi đến ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác vào tháng 7-1977, đặt cơ sở pháp lý vững chắc,
lâu dài cho quan hệ hai nước trong thời kỳ mới. Trên tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng và
Đi đôi với quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước, các bộ, ngành
Trung ương, giữa các tỉnh Việt Nam với 12 tỉnh và thành phố của Lào cũng có nhiều hình thức hợp
tác, giúp đỡ lẫn nhau phong phú và hiệu quả.
Các tổ chức hội hữu nghị trên nhiều lĩnh vực với hàng nghìn hội viên từ Trung ương đến cơ
sở ra đời, nhiệm vụ chủ yếu là giới thiệu, thông tin cho các tầng lớp nhân dân hai nước về lịch sử
đất nước, con người, nền văn hóa, thành tựu xây dựng và bảo vệ đất nước, làm cầu nối vận động và
thúc đẩy các hoạt động hữu nghị, hợp tác và giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật một cách
có hiệu quả, thiết thực; tổ chức các đồn hữu nghị, giao lưu, trao đổi thơng tin với các tổ chức xã
hội - kinh tế - văn hóa của hai nước.
Đặc biệt mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các tỉnh ngày càng thắt chặt phát triển thành
quan hệ kết nghĩa; không chỉ dừng lại ở 10 tỉnh có đường biên giới chung mà còn mở rộng ra các
tỉnh, thành phố khác như thủ đơ Hà Nội với Viêng Chăn...Tại các tỉnh có đường biên giới chung,
quan hệ kết nghĩa phát triển đến tận cơ sở, đó là kết nghĩa huyện với huyện, bản với bản trên cơ sở
phát huy và duy trì mối quan hệ đoàn kết, hợp tác truyền thống láng giềng tốt đẹp, bảo đảm an ninh
xã hội vùng biên, giải quyết tốt những vấn đề nảy sinh, chủ động phối hợp tìm kiếm hài cốt liệt sĩ
quân tình nguyện Việt Nam trên đất Lào.
<b>Trả lời:</b>
<i><b>Một là:</b> <b>Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào </b></i> <i><b>được</b></i> <i><b>tạo dựng trên cơ sở xác định</b></i>
<i><b>đúng đắn những quan điểm lý luận về mối quan hệ dân tộc và quốc tế trong thời đại mới nhằm</b></i>
<i><b>thực hiện nhiệm vụ cách mạng do hai nước xác lập.</b></i>
Quan hệ đó dựa trên cơ sở cả hai dận tộc Việt Nam và Lào đều khẳng định con đường <i><b>cách</b></i>
<i><b>mạng vơ sản</b> là con đường giải phóng và phát triển của Đơng Dương. Quan hệ đó đã được kiểm</i>
nghiệm trong lịch sử, trải qua nhiều thử thách, hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của
hai dân tộc và nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam – Lào đã trở thành quy luật sống còn và sức
mạnh kỳ diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân
tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu một
<i>trong hai nước xa rời Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, chệch hướng con đường mà Đảng của mỗi nước đã</i>
<i>chọn thì có nguy cơ phá vỡ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam.</i> Do đó, tình cảm
cách mạng thủy chung, trong sáng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào
là một nhân tố trọng yếu tạo nên độ bền vững và phát triển của mối quan hệ Việt Nam – Lào.
<i><b>Hai là: Cả hai dân tộc Việt Nam và Lào đều phải quán triệt và thực hiện tốt quan điểm</b></i>
<i><b>của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ Giúp bạn là mình tự giúp mình”</b></i>
Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào được ni dưỡng, phát triển bằng sức cảm
hóa sâu sắc của quan điểm “Giúp bạn là mình tự giúp mình” do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn.
Đây là câu nói cơ đọng, giàu ý nghĩa chính trị, nhân văn, mở ra phương hướng xử lý hài hòa lợi ích
của hai dân tộc; là vũ khí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ban ơn.
Chúng ta thấy rằng, trong tiến trình cách mạng của hai nước thời gian qua, mỗi bước phát
triển của cách mạng Lào tạo hậu thuẩn cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và ngược lại thắng
lợi của cách mạng Việt Nam tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển.
Trong những năm 1930 - 1939, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, các
cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Lào đã ảnh hưởng lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự phát
Giai đoạn 1939-1945 cả hai dân tộc Việt Nam- Lào, Lào- Việt Nam đồn kết giúp nhau
giành chính quyền. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã đập tan bộ máy
thống trị đầu não của phát xít Nhật và thực dân Pháp ở Đông Dương, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc
khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Lào.
Tháng 4 - 1953, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hịa và Chính phủ Kháng chiến Lào
quyết định mở chiến dịch Thượng Lào. Quân đội Việt Nam phối hợp với quân đội Lào Ítxalạ giải
phóng tồn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần Xiêng Khoảng và Phôngxalỳ.
Tháng 12-1953 một bộ phận quân chủ lực Việt Nam phối hợp với bộ đội Lào Ítxalạ và quân
tình nguyện Việt Nam tại Lào mở chiến dịch Trung, Hạ Lào. Chiến thắng của Liên quân Việt – Lào
góp phần làm phá sản kế hoạch tập trung quân của Nava, buộc địch phải phân tán lực lượng đối
phó trên nhiều chiến trường, tạo điều kiện củng cố, phát triển thế phối hợp chiến lược giữa hai nước
Việt Nam và Lào.
Ngày 13-3-1954, quân và dân Việt Nam mở đầu cuộc tiến cơng tập đồn cứ điểm Điện Biên
Phủ. Phối hợp với chiến trường chính Việt Nam, quân và dân Lào liên tục đẩy mạnh các hoạt động
quân sự từ Bắc xuống Nam Lào để kiềm chế lực lượng địch, đồng thời ủng hộ mặt trận Điện Biên
Phủ.
Đầu năm 1961, đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn đẩy mạnh việc đánh phá hòng ngăn chặn
việc vận chuyển của Đồn 559 trên tuyến Đơng Trường Sơn. Được sự giúp đỡ tận tình của nhân
dân các bộ tộc Lào, các đồn cơng tác qn sự Việt Nam đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng,
phục vụ cho việc mở tuyến đường mới dọc Tây Trường Sơn trên đất Lào.
Từ cuối năm 1963, Việt Nam cử chuyên gia quân sự sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và
đến giữa năm 1964, thành lập hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam từ trên cơ quan Tổng tư lệnh
Lào xuống đến Bộ tư lệnh các quân khu, tỉnh đội và cấp tiểu đồn, có nhiệm vụ phối hợp với bạn
Đầu năm 1968, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Lào mở chiến
dịch tiến cơng Nặm Bạc thắng lợi, giải phóng hồn tồn khu vực Nặm Bạc – Khăm Đeng với trên
một vạn dân, nối liền vùng giải phóng Thượng Lào thành khu vực liên hoàn, tạo thế vững chắc cho
hậu phương cách mạng Lào và hỗ trợ thiết thực cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam và
Campuchia.
Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trong tháng 4-1975,
nhất là chiến thắng giải phóng hồn tồn miền Nam (30-4-1975) của nhân dân Việt Nam, ngày
5-5-1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng, quyết
định phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền và
giành thắng lợi hồn tồn. Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời (tháng 12 năm 1975) là
thắng lợi to lớn, triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợi quan trọng của
mối quan hệ đặc biệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam
– Lào.
Mối quan hệ đó xuẩt phát từ yêu cầu khách quan của công cuộc đấu tranh giải phóng mang
bản chất quốc tế vơ sản, mang lại hiệu quả rõ rệt. Trong sự nghiệp chung đó, Lào và Việt Nam đã
trở thành những người bạn, những người đồng chí, những người anh em máu thịt, chung một kẻ
thù, chung một chiến hào đánh thực dân Pháp, đánh đế quốc Mỹ. Đó là một mối quan hệ xưa nay
hiếm - một mối quan hệ láng giềng tự nhiên, có lịch sử gắn bó lâu dài, chung một dãy Trường Sơn,
chung một dịng sơng Mê Kơng, chung một ý thức hệ... Hai Đảng, hai nhà nước không những đã
đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau chống kẻ thù chung là Pháp và Mỹ mà còn giúp đỡ nhau có
hiệu quả trong cơng cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào
Vì vậy, cần có một nhận thức thống nhất trong cán bộ và nhân dân hai nước về tính chất
đặc biệt này. Cả hai bên cần có tầm nhìn rộng hơn, tồn diện và lâu dài hơn chứ khơng chỉ ở các lợi
ích kinh tế thuần túy và ngắn hạn.
<i><b>Ba là:</b> <b>Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân cách mạng Lào phải luôn coi trọng</b></i>
<i><b>thực hiện nguyên tắc tôn trọng quyền độc lập, tự chủ, bình đẳng và dân chủ của hai bên</b></i>
Ở phạm vi quan hệ giữa Đảng Lào với các Đảng anh em khác thì “ Đảng Lào tự mình bàn
bạc thương lượng với các Đảng anh em trong mọi vấn đề có liên quan. Trong phạm vi nào đó theo
yêu cầu của các Đảng anh em và với sự thỏa thuận của Đảng Lào, Việt Nam có thể làm trung gian
giúp đỡ”
Về quan hệ giữa hai nước, hai chính phủ, đồng chí Lê Duẩn cho rằng: “Tất nhiên có những
quan hệ khác hơn quan hệ hai Đảng. Những vấn đề lớn trong quan hệ giữa hai chính phủ thì hai
Đảng cũng cần có sự trao đổi ý kiến trước với nhau”
Về phía Lào, giải thích rõ nguyên tắc độc lập, tự chủ và giá trị của nó, trong bài phát biểu
tại Hội nghị cán bộ toàn quốc Lào ngày 13 tháng 5 năm 1974, Chủ tịch Cayxỏnphomvihản nói:
“Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta phải do nhân dân ta tự làm lấy. Đảng ta là một Đảng lãnh
đạo cách mạng thực sự, do đó phải giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ thì mới chứng minh một
cách đầy đủ chủ nghĩa yêu nước nồng nàn kết hợp với tinh thần quốc tế vơ sản trong sáng”.
Trên cơ sở nhận thức q trình tồn cầu hóa và sự hội nhập giữa các nước trong khu vực
Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, hịa bình, hợp tác và phát triển.”
Tiếp tục tinh thần và nguyên tắc đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách
mạng Lào chủ trương đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào phải trên cơ sở
phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi. Thực
hiện tốt 4 nguyên tắc mà Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương diễn ra tại thủ đô Viên Chăn từ
ngày 22 đến ngày 23 - 2 - 1983 đã thống nhất, trong đó chú ý đến vấn đề: Quan hệ giữa ba nước
sẽ được giải quyết bằng thương lượng trên cơ sở tơn trọng độc lập, chủ quyền và tồn vẹn lãnh thổ
của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
<i><b>Bốn là: Để </b><b>việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam –</b></i>
<i><b>Lào ngày càng tốt đẹp, hai Đảng, hai Nhà Nước cần</b><b> thường xun thơng báo cho nhau về tình</b></i>
<i><b>hình mỗi Ðảng, mỗi nước</b></i>
<i> Thường xuyên trao đổi về các phương hướng, biện pháp không ngừng phát triển quan hệ</i>
hai Ðảng, hai nước, cũng như những vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.
Thường xuyên trao đổi một số biện pháp nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả các thỏa
thuận cấp cao hai Đảng, hai nước
Chính phủ hai nước cần tích cực chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện
Tăng cường quan hệ hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các địa phương của hai nước, nhất là các
địa phương có chung biên giới
Sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban
Liên Chính phủ và bộ phận thường trực Phân ban hợp tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.
Tiếp tục đi sâu trao đổi thông tin, kinh nghiệm, nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
xây dựng Đảng, về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hai bên cần chủ động chuẩn bị kỹ, trao đổi thống nhất và phối hợp chặt chẽ về nội dung,
chương trình hoạt động của “Năm đồn kết hữu nghị 2012” trong đó có việc Lãnh đạo cấp cao hai
Đảng, hai nước thăm chính thức lẫn nhau để cùng khai mạc và bế mạc “Năm đoàn kết hữu nghị
2012,”
Tổ chức khởi cơng hoặc khánh thành một số cơng trình trọng điểm tạo dấu ấn về quan hệ
đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào.
Hợp tác chặt chẽ giữa hai nước trong việc thực hiện chiến lược phát triển. Đẩy mạnh hợp
tác về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực... Trong hoàn cảnh nào
hai Đảng và nhân dân hai nước cũng làm hết sức mình để giữ gìn và vun đắp cho mối quan hệ đặc
biệt Việt Nam-Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững, truyền mãi cho các thế hệ mai sau; không
ngừng phát triển quan hệ hai nước ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và thiết thực, vì sự phát
triển phồn vinh của mỗi nước, vì hịa bình ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
<b>CÂU 8: TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY MỐI QUAN HỆ</b>
<b>ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ CỦA HAI DÂN TỘC</b>
<b>VÀ TRÊN NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN MỚI ?</b>
<b>Trả lời:</b>
Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là quan hệ đặc biệt quy định sự sống, còn của hai
dân tộc trong lịch sử cũng như trên những chặng đường phát triển mới. Các điều kiện tự nhiên, địa
- chiến lược, địa - quân sự là một trong những yếu tố chi phối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt
Nam. Các yếu tố đó đặt ra yêu cầu tất yếu về sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai dân tộc trong
lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước. Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán
đảo Ấn - Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa. Trong phạm vi bán đảo Đơng Dương Việt Nam
nằm ở phía đơng Trường Sơn như một bao lơn nhìn ra biển; Lào nằm ở sườn tây dãy Trường Sơn,
lọt sâu vào đất liền của bán đảo. Như vậy dãy Trường Sơn được ví như cột sống của hai nước, tạo
thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt nam và Lào. Địa hình tự nhiên đã quy định hệ thống
giao thơng ở Việt Nam và Lào cùng chạy dài theo trục Bắc - Nam; ở Việt Nam là trục quốc lộ 1A
và ở Lào là trục quốc lộ 13. Về mặt tự nhiên bên cạnh con đường 13 nối Pạc Xê - Thành Phố Hồ
Chí Minh. Lào có thể thơng thương ra biển gần nhất bằng hệ thống đường xương cá chạy ngang
trên lãnh thổ hai nước đó là đường 6 Sầm Nưa – Thanh Hoá, đường 7 Xiêng Khoảng - Nghệ An,
đường 8 Khăm Muộn - Hà Tĩnh, đường 9 Xavẳnnakhệt - Đông Hà, đường 12 Khăm Muộn - Quảng
Bình....
Lãnh thổ Việt Nam trải dài theo chiều dọc của bán đảo, mặt hướng ra biển đông với bờ
biển dài 3400 km, tiếp giáp với Vịnh Bắc bộ, biển Đơng và Vịnh Thái Lan, có nhiều cảng biển lớn,
nhất là các các biển nước sâu ở Miền Trung.
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là tài sản vô giá, là quy luật giành thắng
lợi của hai dân tộc. Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là mối quan hệ giữa hai dân tộc
cùng chung lý tưởng chiến đấu. Đảng cộng sản Việt Nam - tiền thân của Đảng cộng sản Đông
Dương thành lập, đánh dấu việc thiết lập quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Việt
Nam, Lào, Cao Miên tuy là ba nước nhưng đều nằm trong một xứ, đều bị thực dân Pháp thống trị
và áp bức. Giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức trong ba nước muốn đánh đổ thực dân
Pháp, giành lại độc lập, đánh đổ chế độ phong kiến để giải phóng cho mình thì khơng thể đấu tranh
riêng lẽ được. Ngay sau khi hợp nhất ba tổ chức cộng sản và lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam,
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã được khẳng định trong lịch sử, in
đậm những mốc son sáng chói về tình nghĩa ruột, thịt, thủy chung trong sáng, nương tựa lẫn nhau,
sống chết có nhau: Nhân dân Lào đã cùng Việt Kiều tích cực đấu tranh chống chế độ thuộc địa,
phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1939 và tiến hành cuộc vận động khởi
nghĩa vũ trang giành chính quyền giai đoạn 1939- 1945. Hợp tác giúp nhau chống thực dân Pháp
xâm lược; phối hợp đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơ ne Vơ, chống Chiến lược chiến tranh đặc
biệt của Đế quốc Mỹ, thiết lập quan hệ ngoại giao ( 1954- 1962); phát triển liên minh chiến đấu,
đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn ( 1973 -1975 );
Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam trong giai đoạn khảo nghiệm, mở đường đổi
mới ( 1976 – 1986) Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ( 1986 – nay). Trong tiến trình cách mạng đó, mỗi bước phát
triển của cách mạng Lào tạo hậu thuẩn cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi và ngược lại thắng
lợi của cách mạng Việt Nam tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển. Mối quan hệ đó xuẩt
phát từ yêu cầu khách quan của cơng cuộc đấu tranh giải phóng mang bản chất quốc tế vô sản,
mang lại hiệu quả rõ rệt. Trong sự nghiệp chung đó, Lào và Việt Nam đã trở thành những người
bạn, những người đồng chí, những người anh em máu thịt, chung một kẻ thù, chung một chiến hào
đánh thực dân Pháp, đánh đế quốc Mỹ. Đó là một mối quan hệ xưa nay hiếm - một mối quan hệ
láng giềng tự nhiên, có lịch sử gắn bó lâu dài, chung một dãy Trường Sơn, chung một dịng sơng
Mê Kơng, chung một ý thức hệ... Hai Đảng, hai Nhà nước khơng những đã đồn kết, giúp đỡ,
<b>CÂU 9: NHỮNG CẢM NGHĨ VỀ NỀN VĂN HÓA, VỀ ĐẤT NƯỚC VÀ CON</b>
<b>NGƯỜI LÀO?</b>
<b>Trả lời:</b>
1.400 ngôi chùa lớn nhỏ, Lào là nước có tỉ lệ chùa so với dân cao nhất thế giới. Chùa gắn liền với
trường học, gắn cả với đời, sư sãi ăn uống bình thường như dân dã. Phật tử Lào thường tích đức
bằng nhiều hoạt động gọi là Thiện Nghiệp. Vào những dịp lễ hội, Lào hấp dẫn khách du lịch và các
Phật tử đến tham quan, tìm hiểu Phật giáo khơng kém gì xứ sở chùa vàng – đất nước láng giềng
Thái Lan. Văn hố Lào như một dịng chảy ngọt ngào đời này qua đời khác, hun đúc nên tâm
hồn, cốt cách, văn hoá của người Lào. Qua thời gian năm tháng được kết tinh ở những phong tục,
văn hoá đẹp đẽ như Tết Té nước để giải trừ mọi lo âu phiền muộn; buộc chỉ cổ tay chúc phúc người
thân, chúc phúc quý khách, bạn bè... đó là mỹ tục rất đẹp đẽ độc đáo và hiếm có; và hồ cùng với
tiếng chiêng, tiếng khèn, điệu Lăm vong mềm mại uyển chuyển làm say đắm lòng người,như mời
gọi,như núi giữa bước chân du khách đã đặt chân đến đất nước Lào là không muốn rời xa , là dẫu
chỉ một lần mà lươu luyến mãi. Các nước đạo Phật phát triển trở thành quốc giáo thì phong tục tập
quán cơ bản giông nhau. Con người Lào lịch lễ phép, không xoa đầu mọi người kể cả trẻ em,
không bá vai, bá cổ.Người Lào gặp nhau, người dưới chắp tay chào người trên; trẻ em chắp tay
chào người lớn, không bao giờ họ lứon tiếng cãi nhau. Khi chào hoặc khi đáp kể cả thành tiếng
hoặc không thành tiếng người ta thường dùng các cử chỉ như: thông thường hai tay chắp lại với
nhau giơ lên ngang ngực, đầu hơi cúi xuống, nếu tỏ ý kính trọng đối với người lớn tuổi hoặc cấp
trên thì giơ ngang mặt.Có cuộc sống n ả, thanh bình và thơ mộng, người Lào thật thà, chất phác,
Người Lào rất gần gũi và hầu như không gặp trở ngại gì lớn trong văn hố và giao tiếp. Sự
hìa hồ giữa lịng nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc trong triết lý nhân sinh người
Lào. Ngạn ngữ Lào có câu: “Nói hợp lịng thì xin ăn cho cũng chả tiếc, nói trái ý thì xin mua cũng
<i>chẳng bán”(Vầu thực khọ khỏ kin cị bò thi , vầu bò thực khọ khỏ xừ bò cò khải). Người Việt còn</i>
lưu lại trong thư tịch cổ: “ người Lào thuần hậu, chất phác”, trong giao dịch bn bán thì” họ vui
lịng đổi chác”. Đó cũng là tình cảm bình dị, chân thành mà người dân nước Việt giành cho người
dân láng giềng của mình. Phong tục ăn mặc ở Lào, phụ nữ phải mặc “ Phaa sin” một kiểu váy
dài có các mảng hoa văn đặc trưng, mặc dù nhóm các bộ tộc thường có trang phục riêng của họ .
Đàn ơng thì mặc “ phaa biang sash” vào những dịp lễ hội. Ngày nay phụ nữ thường mặc trang phục
kiểu phương Tây, nhưng “ phaa sin” vẫn là trang phục bắt buộc. Đất nước Lào có nhiều cơng
trình lịch sử văn hố, có thiên nhiên tươi đẹp , có nhiều cảnh quan kỳ thú như Thạt Luổng ( Viêng
Chăn), cố đo Luông Phra-băng( di sản văn hố thế giới), chùa vạtxixun (Lng Phra-băng), núi Phú
Xi, Cánh đồng Chum huyền bí( Xiêng Khoảng), thác Khơn, thác Quang Xi, Hang Thẳm tình...
Phải nói rằng : Đất nước, con người và nền văn hoá Lào quả đã mang trong mình nguồn sức
mạnh vơ biên, ẩn chứa bao điều kì diệu, đó chính là tiềm năng và là nguồn nội lực to lớn. Nguồn
năng và nguồn lực to lớn đó đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào trân trọng, giữ
gìn, bồi đắp và phát huy trong thời đại mới, thời đại hội nhập và phát triển. Qua cuộc thi tìm hiểu
này tơi đã được hiểu biết thêm nhiều về đất nước và con người nước Lào. Thật khâm phục và yêu
mến biết bao, có lẽ ai cũng mong được đến thăm đất nước bạn Lào dù chỉ là một lần.
<b>CÂU 10: CẦN LÀM GÌ ĐỂ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY TÌNH CẢM HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT</b>
<b>VIỆT NAM – LÀO ?</b>
các thế hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng, nâng niu và
dày công vun đắp.
Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, hai nước Việt Nam - Lào cùng tựa lưng vào
dải Trường Sơn hùng vĩ, sát cánh bên nhau, xây đắp quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào cao
đẹp, mẫu mực, thủy chung, hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
<i>“Việt - Lào hai nước chúng ta - Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”</i>. Chủ tịch Cayxỏn
Phơmvihản cũng từng nói: “Trong lịch sử cách mạng thế giới đã có nhiều tấm gương sáng chói về
tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đồn kết liên minh chiến đấu đặc
biệt lâu dài và toàn diện như vậy”.
Sau khi Việt Nam hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào ra đời vào năm 1975, quan hệ Việt - Lào đã chuyển sang giai đoạn mới. Đó là mối
quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai Nhà nước mà bằng
chứng sinh động là Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào được ký ngày 18/7/1977.
Tình đồn kết đặc biệt giữa hai nước đã góp phần quan trọng vào việc củng cố và tăng
cường quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào trong thời kỳ
mới. Trong các chuyến thăm của lãnh đạo hai nước, hai bên luôn khẳng định quan điểm nhất quán,
tiếp tục coi trọng và dành mọi ưu tiên cho việc củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền
thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, coi đây là tài sản vô giá cần gìn giữ và
truyền lại cho mn đời con cháu mai sau
Những thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới và
những chuyển biến quan trọng trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
trong những năm qua đã tạo nên những điều kiện vật chất to lớn thúc đẩy việc tiếp tục tăng cường
hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trong giai đoạn mới.
Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam lên tầm
cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức chỉ đạo hợp tác cho
phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt là trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy nhanh
việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận bằng các văn bản hợp tác nhằm tạo
điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện có hiệu quả những mục tiêu chiến lược hợp tác
đã đặt ra.
Trong quá trình tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện, hai bên cần luôn luôn tôn trọng đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của
nhau.
Trong quan hệ hợp tác kinh tế sắp tới cần phải chú trọng tính thực chất, hiệu quả và chất
lượng. Có nghĩa là, các chương trình hợp tác, nhất là từ phía Việt Nam (các dự án của Việt Nam
đầu tư vào Lào) phải phù hợp với yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh
thổ và an ninh quốc gia của Lào. Việt Nam cần ưu tiên các dự án hợp tác với Lào phù hợp với qui
hoạch và kế hoạch phát triển của Lào đã được vạch ra tại các kế hoạch 5 năm 2006-2010 và tầm
nhìn đến 2020 của Lào. Đó là các dự án hợp tác về phát triển thủy điện với Lào, dự án xây dựng
đường giao thông ra biển; các dự án hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực.
Việt Nam và Lào cần phải phát huy quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đồn kết đặc biệt trở
thành động lực thúc đẩy ngày càng mạnh mẽ hợp tác toàn diện, đặc biệt là hợp tác kinh tế phục vụ
mục tiêu phát triển của mỗi nước, đưa hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trong thời
gian tới ngang tầm với quan hệ truyền thống đặc biệt giữa hai nước chúng ta.
Tính chất đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam khác căn bản với các quan hệ
đối tác thông thường ở chỗ nó là quan hệ hợp tác tồn diện bao gồm cả chính trị, an ninh, kinh tế,
văn hóa... và ưu tiên, ưu đãi cho nhau cao hơn cả các quan hệ song phương khác. Cần có một nhận
thức thống nhất của cán bộ và nhân dân hai nước về tính chất đặc biệt này. Cả hai bên cần có tầm
Hiệp định hợp tác giữa hai Chính phủ giai đoạn 2006-2010. Thực hiện thắng lợi chương trình hợp
tác giai đoạn 2006-2010 sẽ tạo những tiền đề vật chất cần thiết cho việc xây dựng chiến lược hợp
tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020.
Định hướng cơ bản của chiến lược hợp tác Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam giai đoạn
2011-2020 là: “Phát huy truyền thống quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trở thành động
lực tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế-xã hội và hội nhập của mỗi nước”. Trong đó, khơng ngừng nâng cao nhận thức và làm sâu
sắc thêm quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào - Việt Nam trong hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học,
kỹ thuật tạo sự chuyển biến mạnh mẽ thúc đẩy hợp tác kinh tế ngang tầm với quan hệ truyền thống
giữa hai nước. Thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo: coi trọng, phát triển và củng cố mối quan hệ hữu nghị
truyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai nước và coi đây là nhiệm vụ có tầm
chiến lược to lớn, thiết thực phục vụ lợi ích đảm bảo ổn định an ninh chính trị và phát triển của mỗi
nước. Coi hợp tác và nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhiệm
vụ chiến lược lâu dài giữa hai nước nhằm hình thành một thế hệ mới kế cận có đầy đủ năng lực và
nhận thức một cách sâu sắc về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đồn kết đặc biệt và hợp
tác tồn diện giữa hai nước, tạo lịng tin vững chắc, lâu dài lẫn nhau, góp phần tăng cường bền
vững mối quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước. Đặc biệt coi trọng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ chính trị, nhất là đội ngũ cán bộ các cấp của các địa phương Lào, cán bộ làm việc ở các dự
án giữa hai nước; kết hợp hài hòa giữa đào tạo và bồi dưỡng, giữa số lượng và chất lượng, giữa đào
tạo chính qui các bậc học với đào tạo nghề.
Thường xuyên phối hợp và cụ thể hóa quan điểm về quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào
-Việt Nam trên tinh thần các tuyên bố chung và thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà
nước vào các nội dung hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước. Từng bước nâng
cao chất lượng và hiệu quả hợp tác trên ngun tắc bình đẳng, cùng có lợi và tinh thần quan hệ đặc
biệt theo luật pháp của mỗi nước trên cơ sở những nội dung sau:
- Tiếp tục đầu tư và phát huy những tiềm năng, lợi thế của hai nước nhằm bổ sung nguồn lực
cho nhau, phù hợp với mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước theo từng giai
đoạn, góp phần thực hiện mục tiêu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa của Lào trong 10 năm tới, đưa
nước Lào thoát khỏi nước kém phát triển vào năm 2020.
- Phấn đấu tăng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đạt 2 tỷ USD vào năm 2015 và 5 tỷ USD
vào năm 2020. Quan tâm đặc biệt tới việc bảo đảm kết nối giao thông đường bộ trên các trục huyết
mạch và các tuyến kết nối qua biên giới với các cảng biển của Việt Nam để phục vụ đầu tư, thương
mại và hội nhập giữa hai nước trên nguyên tắc đầu tư đồng bộ và đồng thời giữa hai bên.
- Tăng cường và nâng cao vai trò hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ, ngành, tổ chức, địa
phương và doanh nghiệp hai nước. Gắn phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đặc biệt
là các địa phương có chung đường biên giới nhằm phát triển các địa phương khu vực biên giới trở
thành hậu phương chiến lược vững chắc, ổn định, hịa bình, hữu nghị, hợp tác lâu dài, tạo sự gắn
bó, tin tưởng lẫn nhau lâu dài.
- Hai bên phối hợp chặt chẽ việc rà soát, bổ sung sửa đổi các văn bản thỏa thuận, phối hợp
xây dựng cơ chế, chính sách mới phù hợp với luật pháp và tình hình thực tế mỗi nước, thể hiện mối
quan hệ đặc biệt giữa hai nước và thông lệ quốc tế, tạo sự chuyển biến trong hợp tác kinh tế cũng
như hội nhập quốc tế và khu vực của mỗi nước.
- Phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện các cam kết và có sự đồng thuận trong các khuôn khổ
hợp tác đa phương đối với những vấn đề có liên quan đến hai nước.
đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân
dân hai nước, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên hôm nay và mai sau.
<b>CÂU 11: TẠI SAO HAI NƯỚC VIỆT NAM- LÀO PHẢI YÊU THƯƠNG GẮN BÓ </b>
<b>CHẶT CHẼ VỚI NHAU </b>
<b>Trả lời:</b>
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt
Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thủy chung, trong
sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc, đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.
Hai nước Việt Nam - Lào có lịch sử gắn bó rất lâu đời với nhau trong suốt chiều dài dựng
nước và giữ nước của mỗi dân tộc. Trong chiều dài lịch sử ấy, nhân dân hai nước đã “chung lưng
<i>đấu cật” để xây dựng mỗi nước phát triển. Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về văn</i>
hóa, Việt Nam và Lào đã chung tay viết nên những trang sử hào hùng của hai dân tộc. Mối quan hệ
hữu nghị truyền thống lâu đời Việt Nam - Lào bắt nguồn từ tình cảm láng giềng thân thiết, sự gắn
bó keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào đã trải qua muôn vàn thử thách,
được nhiều thế hệ lãnh đạo hai Đảng và nhân dân hai nước, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại
và Chủ tịch Cayxỏn Phơmvihản kính mến trực tiếp gây dựng nền móng, được các thế hệ lãnh đạo
kế tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý trọng, nâng niu và dày công vun đắp,
không ngừng phát triển và trở thành mối quan hệ đặc biệt, thủy chung, trong sáng và là mẫu mực
hiếm có trong quan hệ quốc tế hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “<i>Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải</i>
<i>đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn. Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ</i>
<i>lẫn nhau... Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt</i>
<i>được</i>”. Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản cũng nói: “<i>Núi có thể mịn, sơng có thể cạn, song tình nghĩa</i>
<i>Lào - Việt sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông</i>”. Tư tưởng lớn của hai nhà lãnh đạo đã trở thành
kim chỉ nam soi đường, chỉ lối, được Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước thực hiện nhất quán
trong suốt những năm tháng chiến đấu chống kẻ thù chung, giành độc lập, thống nhất đất nước đến
hịa bình, xây dựng, đổi mới, hội nhập và phát triển.
Đặc biệt, trong nhiều giai đoạn lịch sử, hai dân tộc Việt Nam - Lào đều có chung một kẻ thù
Trải qua nhiều giai đoạn và biến cố của lịch sử, hai nước Việt Nam - Lào cùng tựa lưng vào
dải Trường Sơn hùng vĩ, sát cánh bên nhau, xây đắp quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào cao
đẹp, mẫu mực, thủy chung, hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế. Truyền thống quan hệ hữu nghị,
đoàn kết vĩ đại và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Lào
-Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Chủ tịch Cayxỏn Phơmvihản kính u đã sáng lập,
gìn giữ và được kế tục, phát triển bởi các thế hệ lãnh đạo, các chiến sỹ cách mạng và nhân dân hai
nước Lào - Việt Nam. Trong suốt nhiều thập kỷ qua, hai nước đã cùng nhau lập những chiến công
hiển hách, giành độc lập dân tộc cho cả hai dân tộc; Mọi thắng lợi của Cách mạng Lào đều gắn chặt
với sự giúp đỡ, ủng hộ mạnh mẽ, hy sinh to lớn của nhân dân Việt Nam anh em với tinh thần đồng
chí chung một chiến hào, “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” cùng đồng cam cộng khổ, từng bước
đi tới thắng lợi cuối cùng, chiến thắng đế quốc xâm lược và phát triển đất nước theo con đường chủ
nghĩa xã hội. Vì vậy, mối quan hệ đó trở thành di sản quý giá, thành quy luật tồn tại và phát triển
của hai nước và cũng là mối quan hệ thủy chung, trong sáng, đặc biệt và hiếm có trong quan hệ
quốc tế.
những bước chuyển to lớn về chất trong quan hệ đặc biệt giữa hai Chính phủ trên tất cả các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, đối ngoại, an ninh, quốc phịng, giáo dục, y tế, văn hóa,... Sự hợp tác chặt chẽ
giữa hai Chính phủ đã tạo ra mối liên kết gắn bó hữu cơ, bổ trợ lẫn nhau và tạo môi trường thuận
lợi đối với sự nghiệp phát triển của cả Việt Nam và Lào.
Bước vào thời kỳ đổi mới với mn vàn khó khăn, Chính phủ hai nước phải đổi mới cả về
nội dung, phương thức và cơ chế hợp tác để giữ vững và phát huy hiệu quả quan hệ hữu nghị và
hợp tác toàn diện, đặc biệt Việt Nam - Lào.
Chiến lược hợp tác toàn diện Việt Nam Lào, Lào Việt Nam trong thời gian tới (2011
-2015 và tầm nhìn đến 2020) được xây dựng và thực hiện trong bối cảnh quốc tế, khu vực và ở từng
nước có những thuận lợi và khó khăn đan xen cùng những chuyển biến rất mau lẹ, tác động trực
tiếp đến quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước.
Bối cảnh quốc tế và khu vực có những thuận lợi và khó khăn, nhiều cơ hội đang mở ra cho
quan hệ hợp tác giữa hai nước, đồng thời cũng đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn. Các
nước lớn và các nước phát triển tăng cường hợp tác với ASEAN và các tiểu vùng Mê Cơng mở
rộng (GMS) trong bối cảnh tồn cầu hố và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra với tốc độ nhanh và
ngày càng sâu sắc.
Tồn cầu hố và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là đang là xu thế phổ biến hiện nay và
trụ lực chính của tiến trình này là tự do hố thương mại. Khu vực Đơng Nam Á nói chung và tiểu
vùng Mê Cơng nói riêng đang gia tăng mạnh mẽ các lộ trình họi nhập trên nhiều cấp độ. Với vị trí
quan trọng của khu vực Châu Á- Thái Bình dương,, các nước lớn và phát triển ngày càng quan tâm
và tăng cường mở rộng quan hệ, đặc biệt là hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư vào khu vực này,
góp phần tạo nên diện mạo mới cho khu vực. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của mỗi
nước GMS, trong đó có Việt Nam và Lào.
Tuy nhiên đây cũng sẽ là tâm điểm của sự tranh giành quyền lực và ảnh hưởng của các
nước lớn và các nền kinh tế phát triển, tác động tiêu cực đén ASEAN và GMS, trong đó có Việt
Nam và Lào. Mặt khác, vượt ra ngoài những nội dung hội nhập kinh tế, các vấn đề về chính trị và
an ninh nãy sinh trong sự tương tácvề quan hệ lợi ích chiến lược giữa các nước lớn với nhau và
những tham vọng và các nước này đối với khu vực, rất có thể đẩy các nước trong khu vực tới
những bất ổn khó lường.
Mặt khác, hợp tác giữa các nước Tiểu vùng Mê Công mở rộng(GMS) diễn ra mạnh mẽ và
ngày càng có hiệu quả. Cơng cuộc đổi mới đất nước Việt Nam và Lào với tốc độ phát triển ngày
càng nhanh và bền vững, cùng những kết quả hợp tác đạt được giữa Việt Nam và Lào đòi hỏi phải
tăng cường tồn diện trong giai đoạn mới. Vì vậy, trong thời gian tới Việt Nam và Lào phải có sự
Việt Nam và Lào sống bên nhau tại hai triền Đông và Tây Trường Sơn hùng vĩ, rất thuận lợi
cho sự phát triển phong phú của động vật, thực vật lại được bổ sung bởi nhiều hang động, rừng
nguyên sinh kỳ thú, thuận lợi cho du lịch. Nơi đây có nhiều sơng suối chảy dốc từ núi cao đổ
xuống, tạo lợi thế cho khai thác thủy điện.
Trường sơn còn là một tường thành vững chắc cho quân dân hai nước nương tựa nhau chống
giặc ngoại xâm.
Về kinh tế, hai nước có thể bổ sung cho nhau thế lợi về biển cả của Việt Nam, đường bộ của
Lào đi sâu vào lục địa châu Á, cùng các nguồn tài nguyên phong phú do mỗi nước quản lý.
Ngoài những điều kiện trên, hai nước Việt Nam, Lào có một ưu thế nổi trội vơ cùng quý giá
là quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam mà hai Đảng, hai dân tộc cần luôn luôn vun
đắp, bảo vệ và phát huy trong mọi hoạt động chính trị, tư tưởng, kinh tế, quốc phịng an ninh, ngoại
giao, văn hố, giáo dục đào tạo nhân lực, nhân tài.