Tải bản đầy đủ (.pdf) (128 trang)

Hội thoại trong “Dế mèn phiêu lưu ký”.pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (812.38 KB, 128 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM





GIÁP THỊ THUỶ





HỘI THOẠI
TRONG “DẾ MÈN PHIÊU LƢU KÝ”

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01



LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC





Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tạ Văn Thông







THÁI NGUYÊN - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN


Giáp Thị Thuỷ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI ......................................................................... 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ................................................................................ 2
2.1. Nghiên cứu hội thoại trong các tác phẩm văn học nói chung .......... 2

2.2. Nghiên cứu hội thoại trong các tác phẩm của Tô Hoài và
trong Dế Mèn phiêu lưu ký............................................................................. 4
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .......................................... 6
3.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 6
3.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 6
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ......................................... 7
4. 1. Mục đích ........................................................................................ 7
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 7
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................... 8
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN ............................................................. 8
6.1. Về lí luận ........................................................................................ 8
6.2. Về thực tiễn .................................................................................... 8
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN .................................................................... 8
CHƢƠNG 1- CƠ SỞ LÍ THUYẾT ............................................................ 9
1.1. LÍ THUYẾT HỘI THOẠI TRONG NGỮ DỤNG HỌC ....................... 9
1.2. HỘI THOẠI VÀ VỊ TRÍ HỘI THOẠI TRONG VĂN HỌC TIỂU KẾT ....... 22
TIỂU KẾT .............................................................................................................. 25
CHƢƠNG 2- CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG DMPLK ................... 26
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CUỘC THOẠI TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƢU KÝ ......... 26
2.1.1. Hình thức hội thoại trong các cuộc thoại ................................... 26


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
2.1.2. Các loại vai giao tiếp trong các cuộc thoại ............................... 29
2.1.3. Hoàn cảnh giao tiếp trong các cuộc thoại ................................. 32
2.1.4. Đích giao tiếp của các cuộc thoại ............................................ 33
2.1.5. Sự phù hợp với các nguyên tắc hội thoại ở các cuộc thoại ....... 35
2.1.6. Cấu trúc của các cuộc thoại ...................................................... 37

2.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐOẠN THOẠI TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƢU KÝ............ 40
2.2.1. Hình thức hội thoại trong các đoạn thoại ................................... 40
2.2.2. Các loại vai giao tiếp trong các đoạn thoại ................................ 46
2.2.3. Hoàn cảnh giao tiếp trong các đoạn thoại .................................. 49
2.2.4. Đích giao tiếp trong các đoạn thoại ........................................... 53
2..2.5. Cấu trúc các đoạn thoại ............................................................. 56
2.3. ĐẶC ĐIỂM CỦA CẶP THOẠI TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƢU KÝ ....... 60
2.3.1. Cấu trúc của cặp thoại ............................................................... 60
2.3.1.1. Cặp thoại một tham thoại ..................................................... 60
2.3.1.2. Cặp thoại hai tham thoại ...................................................... 61
2.3.1.3. Cặp thoại ba tham thoại ........................................................ 62
2.3.1.4. Cặp thoại phức tạp ................................................................ 63
2.3.2. Tính chất của các cặp thoại ......................................................... 65
2.3.2.1. Cặp thoại chủ hướng ............................................................. 65
2.3.2.2. Cặp thoại phụ thuộc .............................................................. 66
2.3.2.3. Cặp thoại tích cực và tiêu cực ............................................... 67
2.3.3. Liên kết hình thức đối với các cặp thoại ...................................... 68
2.4. ĐẶC ĐIỂM CỦA THAM THOẠI TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƢU KÝ .......... 72
2.4.1. Đặc điểm của các loại tham thoại chức năng .............................. 72
2.4.1.1. Đặc điểm của tham thoại dẫn nhập ....................................... 72
2.4.1.2. Đặc điểm của tham thoại hồi đáp ......................................... 73

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2.4.1.3. Tham thoại hồi đáp- dẫn nhập .............................................. 74
2.4.2. Cấu trúc của tham thoại trong Dế Mèn phiêu lưu ký ................. 76
2.5. ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNH VI NGÔN NGỮ TRONG DẾ MÈN
PHIÊU LƢU KÝ ........................................................................................... 77
2.5.1. Hành vi có hiệu lực ở lời .............................................................. 77
2.5.2. Hành vi mở rộng ........................................................................... 79

2.5.3. Liên kết hành vi ............................................................................ 81
TIỂU KẾT ............................................................................................. 83
CHƢƠNG 3 - SỰ THỂ HIỆN NHỮNG QUAN HỆ LIÊN CÁ
NHÂN - PHÉP LỊCH SỰ TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƢU KÝ.............. 84
3.1. CÁC LOẠI QUAN HỆ LIÊN CÁ NHÂN TRONG DẾ MÈN
PHIÊU LƢU KÝ ........................................................................................... 84
3.2. SỰ THỂ HIỆN PHÉP LỊCH SỰ QUA NGÔN TỪ TRONG DẾ
MÈN PHIÊU LƢU KÝ ................................................................................. 85
3.2.1. Đặc điểm chung của các phương tiện ngôn ngữ thể hiện
phép lịch sự trong Dế Mèn phiêu lưu ký ....................................................... 85
3.2.2. Sự miêu tả các phương tiện cụ thể ............................................... 87
3.2.2.1. Rào đón.................................................................................. 87
3.2.2.2. Vuốt ve .................................................................................. 87
3.2.2.3. Dùng trợ từ ............................................................................ 90
3.2.2.4. Hành vi nói gián tiếp .............................................................. 92
3.2.2.5. Bày tỏ tình hình bi quan ......................................................... 94
3.2.2.6. Nêu lí do ............................................................................... 96
3.2.2.7. Dùng hô ngữ .......................................................................... 98
3.2.2.8. Dùng tình thái từ ................................................................... 99
3.2.2.9. Dùng từ ngữ xưng hô .......................................................... 101
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3.2.2.10. Xin lỗi, cảm ơn .................................................................. 105
3.2.2.11. Khích lệ đúng mức ............................................................. 106
3.2.2.12. An ủi động viên ................................................................. 107
3.2.2.13. Hứa hẹn ............................................................................. 107
3.2.2.14. Khen ngợi .......................................................................... 108
3.2.2.15. Xin phép và mời mọc ......................................................... 109
3.2.2.16. Dùng kính ngữ ................................................................... 111
TIỂU KẾT .......................................................................................... 112

KẾT LUẬN ............................................................................................... 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 116
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CT
CTCH
CTPT
DMPLK
HV
HVCH
HVPT
HVMR
Sp1
Sp2
TT
Cặp thoại
Cặp thoại chủ hướng
Cặp thoại phụ thuộc
Dế Mèn phiêu lưu ký
Hành vi
Hành vi chủ hướng
Hành vi phụ thuộc
Hành vi mở rộng
Nhân vật hội thoại thứ nhất
Nhân vật hội thoại thứ hai
Tham thoại



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
 DMPLK (được viết từ năm 1941, với lần xuất bản thứ nhất mang tên là
“Con Dế Mèn") là một trong những tác phẩm đầu tay của Tô Hoài. Đây được
xem là tác phẩm đặc sắc, đã làm say mê độc giả nhiều thế hệ và được dịch ra
nhiều thứ tiếng. Truyện kể về cuộc phiêu lưu kì thú và đầy sóng gió của chàng
hiệp sĩ Dế Mèn trong thế giới loài vật, với ước mơ “xây dựng thế giới đại
đồng, muôn loài kết thành anh em”…
Góp phần làm nên sự thành công của tác phẩm, không thể không kể đến
sự quan sát và miêu tả tinh tường, cách sử dụng ngôn từ khéo léo và sáng tạo,
đặc biệt phải kể đến cách tạo nên những cuộc hội thoại rất đa dạng trong một
thế giới ồn ào, sinh động, nhiều vẻ...của các nhân vật - các loài vật được nhân
hoá, trong tác phẩm này.
 Ở Việt Nam, Ngữ dụng học đã không còn mới mẻ, đặc biệt khi vận
dụng xem xét sự sử dụng ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học (chẳng hạn
các tác phẩm của Vi Hồng, Nam Cao, Kim Lân, Nguyễn Huy Thiệp...). Tuy
nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đấy đủ và sâu sắc về
hội thoại trong các tác phẩm của Tô Hoài, đặc biệt trong truyện DMPLK,
dưới cái nhìn của ngữ dụng học.
 Là một giáo viên trung học phổ thông, tác giả luận văn này luôn băn
khoăn trước những câu hỏi đặt ra trong các quá trình tìm hiểu và giảng dạy
văn học: Để hiểu được kĩ càng, có cơ sở hơn đối với một tác phẩm văn học,
chẳng hạn như đối với DMPLK của Tô Hoài, phải chăng có thể từ góc nhìn
ngôn ngữ học? Từ việc xem xét hội thoại trong một tác phẩm, chẳng hạn
trong DMPLK của Tô Hoài, có thể hiểu rõ thêm về tính cách nhân vật, về văn
hoá cộng đồng, về phong cách nghệ thuật nhà văn hay không?



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Đó là những lí do để tác giả luận văn chọn đề tài nghiên cứu: "Hội thoại
trong “Dế Mèn phiêu lưu ký”.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Nghiên cứu hội thoại trong các tác phẩm văn học nói chung
Từ khi ngữ dụng học ra đời, hội thoại đã trở thành đối tượng được các
nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Có thể kể đến một số luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ, những bài nghiên cứu: Hội thoại trong truyện ngắn của Nam Cao
(luận án tiến sĩ của Mai Thị Hảo Yến, Trường Đại học Sư phạm I, Hà Nội,
2006). Ở luận án này tác giả đã đi vào miêu tả cấu trúc của các hình thức
thoại dẫn trong truyện ngắn của Nam Cao với các kiểu loại: thoại dẫn trực
tiếp, thoại dẫn gián tiếp. Qua đó tác giả đã làm sáng tỏ lí thuyết về hội thoại
trong dụng học như các hình thức cơ bản của việc dẫn thoại, các hành vi ngôn
ngữ, các phát ngôn ngữ vi, các tham thoại và các biểu thức ngữ vi..., hướng
tới xây dựng các mô hình hội thoại trong tác phẩm văn học nói chung. Tuy
nhiên tác giả mới chỉ đặt ra mục tiêu nhận diện đối tượng chứ chưa đi vào
nghiên cứu về chức năng hội thoại trong tác phẩm văn học.
Trong Hội thoại trong sáng tác của Nam Cao trƣớc Cách mạng Tháng
Tám (đặc điểm sử dụng từ ngữ trong quan hệ với nhân vật) (luận văn thạc sĩ
của Phạm Văn Khanh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006), tác giả chủ
yếu đi vào tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ ngữ trong hội thoại của các nhân vật
trong các tác phẩm nói chung của Nam Cao trước Cách mạng Tháng Tám,
đặc biệt mối quan hệ giữa ngôn ngữ hội thoại với đặc điểm hình tượng nhân
vật, qua đó thấy được đặc điểm nhân vật qua ngôn ngữ hội thoại phù hợp với
ý đồ nghệ thuật của nhà văn.
Với đề tài Bƣớc đầu tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng (luận văn
thạc sĩ của Hoàng Thị Quỳnh Ngân, Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2008),

tác giả đã đi vào giải quyết một số vấn đề như: tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
của lời thoại văn xuôi Vi Hồng để hiểu về phong cách nghệ thuật của nhà văn,
hiểu thêm về ngôn ngữ đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, đồng bào miền núi
Việt Bắc nói chung, bước đầu tìm hiểu lí thuyết hội thoại từ góc nhìn văn hoá...
Ngoài những luận án, luận văn kể trên, còn có thể kể đến những bài viết về
mặt này hay mặt khác của hội thoại trong các tác phẩm văn chương như: Các
kiểu thoại dẫn trực tiếp, tự do trong truyện ngắn Nam Cao của Mai Thi Hảo Yến
(1998); Ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của Đinh Trí Dũng
(1999); Hiệu quả nghệ thuật của lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Tƣớng
về hƣu của Nguyến Huy Thiệp của Nguyễn Thị Hương (1999); Chất quê
kiểng trong lời thoại của bà cụ Tứ - truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân của
Lương Thị Bình (2002); Hành vi nhận xét đánh giá qua lời thoại nhân vật
của truyện ngắn Chu Lai của Cao Xuân Hải (2005); Từ hô gọi trong lời đối
thoại và độc thoại của nhân vật qua khảo sát truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
của Lê Thị Sao Chi (2005); Ngôn ngữ đối thoại nhân vật trong sáng tác của
Franzkafka của Đỗ Thị Thu Hằng (2007); Nghệ thuật tổ chức đối thoại trong
tác phẩm Vũ Trọng Phụng của Châu Minh Hùng (2007)...
(Nói về những nghiên cứu về hội thoại trong các tác phẩm văn học nói
chung, tất nhiên còn phải kể đến những nghiên cứu đối với hội thoại trong
những tác phẩm của Tô Hoài. Xin được trình bày về những nghiên cứu này ở
mục sau).
Như vậy, đã có không ít những công trình cũng như những bài viết
nghiên cứu về hội thoại trong các tác phẩm văn học, xem xét hội thoại ở rất
nhiều khía cạnh khác nhau. Nhưng, hầu như chưa có công trình nào đi vào
nghiên cứu cụ thể, chi tiết đặc điểm của cuộc thoại và các đơn vị nó bao hàm

thông qua việc xem xét các cấu trúc hội thoại, sự biểu hiện của các quan hệ
liên nhân…, trong một tác phẩm cụ thể.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
2.2. Nghiên cứu hội thoại trong các tác phẩm của Tô Hoài và trong
Dế Mèn phiêu lƣu ký
 Ở Việt Nam, Tô Hoài là một nhà văn nổi tiếng. Có thể kể đến hàng
loạt tác phẩm có nhiều độc giả của ông: Dế Mèn phiêu lƣu ký (1941); Truyện
Tây Bắc (1953); Vợ chồng A Phủ (1960); Miền Tây (1968); Chuyện cũ Hà Nội
(1984); Cát bụi chân ai (1992); Chiều chiều (1994)...
Cùng với những tác phẩm của mình, Tô Hoài đã được nhiều nhà nghiên
cứu, phê bình văn học chú ý. Đã có những công trình bài viết về các tác phẩm
của Tô Hoài từ góc độ tổng quan cũng như đi sâu vào mặt này hay mặt khác
trong các tác phẩm, hoặc đối với một tác phẩm cụ thể của ông. Đó là
- Ở phương diện văn học, có thể kể đến những nghiên cứu đóng góp
của Tô Hoài từ góc độ tổng quan của các tác giả: Vũ Ngọc Phan, Phan Cự Đệ,
Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Vân Thanh, Vương Trí Nhàn,
Nguyễn Đăng Điệp...Ngoài ra có thể kể đến là những công trình, bài viết đi
sâu vào từng tác phẩm như: Tô Hoài với miền Tây của Phan Cự Đệ (1968);
Tô Hoài với ngƣời ven thành của Triệu Dương (1973); Tô Hoài tự truyện của
Vân Thanh (1980)...Nhìn chung các tác giả đều đi đến thống nhất: Qua truyện
của Tô Hoài, có thể gặp một nhà văn với óc quan sát tinh tế, khả năng miêu
tả tài tình, bút pháp linh hoạt, sự nắm bắt tinh nhạy...Ngoài ra còn những luận
văn, luận án như: Văn xuôi viết chi thiếu nhi của Tô Hoài sau Cách mạng
Tháng Tám của Hoàng Thị Diệu, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên (2003);
Hình tƣợng nhân vật ngƣời lao động miền núi trong sáng tác của Tô Hoài về đề
tài vùng cao của Ma Thế Cừ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên (2005);

Không gian, thời gian, cái nhìn nghệ thuật trong tập truyện Tây Bắc của Tô Hoài
của Mai Thị Dung, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên (2005); Tính dân tộc
trong sáng tác của Tô Hoài trƣớc Cách mạng Tháng Tám của Nguyễn Thị Hải Bắc,
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên (2006); Phong cách nghệ thuật của


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Tô Hoài, luận án tiến sĩ của Mai Thị Nhung, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
(2006)...Các nghiên cứu nói trên đã xem xét tác phẩm của Tô Hoài ở các góc
độ văn học, chú trọng đến đề tài, cách xây dựng hình tượng nhân vật, không
gian, thời gian, cái nhìn nghệ thuật..., giúp người đọc thấy được sự đóng góp
đáng kể của Tô Hoài cho nền văn học nước nhà.
- Ở phương diện ngôn ngữ học, phải kể đến các công trình, bài viết:
Phong cách viết ngƣời thực việc thực trong tiểu tuyết Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ
của Tô Hoài của tác giả Huyền Kiêu (1972); Ngôn ngữ một vùng quê trong
tác phẩm đầu tay của Tô Hoài của Võ Xuân Quế (1990); Cát bụi chân ai của
Xuân Sách (1993); Cấu trúc thời gian và ngôn ngữ trong Cát bụi chân ai của
Đặng Thị Hạnh (1998); Tô Hoài và thể hồi ký của Vương Trí Nhàn (2002);
Ngôn ngữ giàu tính tạo hình trong văn xuôi viết về đề tài miền núi của nhà
văn Tô Hoài, luận văn của Lê thị Na, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
(2003)...Nhìn chung, các tác giả đều đi đến khẳng định sự sáng tạo về mặt
ngôn ngữ của Tô Hoài, cho rằng đây là một yếu tố rất quan trọng làm nên
phong cách nghệ thuật đặc sắc của ông.
 DMPLK là một trong những tác phẩm rất nổi tiếng của Tô Hoài. Từ khi
ra đời đến nay, tác phẩm dành cho thiếu nhi độc đáo này luôn nhận được sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình chủ yếu từ góc độ văn học. Có thể
kể đến tác giả là: Trần Đăng Suyền (1984), Nguyễn Lộc, Đỗ Quang Lưu
(1990), Hà Minh Đức (1998)... Các nhà nghiên cứu đều thống nhất đánh giá

DMPLK là tác phẩm nổi tiếng sớm nhất trong đời viết văn của Tô Hoài, trong
đó thể hiện tài quan sát nghiên cứu tỉ mỉ thế giới sinh vật nhỏ bé của nhà văn,
thể hiện rõ tài năng quan sát tinh tế, óc nhận xét sắc sảo, hóm hỉnh và tình yêu
cuộc sống, yêu thiên nhiên của Tô Hoài...
Từ góc nhìn ngôn ngữ học, có bài: Ngôn ngữ khẩu ngữ trong tác phẩm
của Tô Hoài của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga (2000). Tác giả đã tiến hành


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
khảo sát số lượng các từ thuộc khẩu ngữ, phân tích những nhân tố quy định sự
tồn tại của chúng, đồng thời phân loại và khẳng định vai trò tích cực của việc
sử dụng từ thuộc khẩu ngữ trong các tác phẩm của Tô Hoài. Với Cách xƣng
gọi trong DMPLK (2001), tác giả Tạ Văn Thông đã chỉ ra sự khéo léo, tài tình
trong việc sử dụng hai hệ thống từ ngữ xưng gọi của các nhân vật và của
người kể chuyện trong DMPLK, và nhận xét: “những cách xưng gọi như vậy
trong truyện đã góp phần tạo nên các hoạt cảnh sinh sắc, làm tôn lên những
nét cá tính trong những mối quan hệ giữa nhân vật với nhân vật, giữa nhân vật
với hoàn cảnh, đồng thời cả người kể và độc giả... để rồi cuối cùng tạo nên sự
cuốn hút đối với người đọc bằng giọng điệu riêng cùng sự biến hoá muôn
màu của cuộc sống được diễn đạt bằng lời”[68, tr.26]…
Như vậy, có thể nhận thấy DMPLK chủ yếu được xem xét ở góc độ văn
học, sự nhìn nhận ở góc độ ngôn ngữ học còn chưa nhiều, ngữ dụng học càng
ít. Đặc biệt, chưa có tác giả nào bàn kĩ càng về hội thoại trong tác phẩm này.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là hội thoại (hình thức thường
xuyên phổ biến nhất của ngôn ngữ trong giao tiếp của con người) trong tác phẩm
DMPLK, trong đó chủ yếu là đối thoại giữa các nhân vật trong tác phẩm.

Do DMPLK được in rất nhiều lần, có thể có những văn bản không thật sự
trùng khớp. Vì thế, trong luận văn này, bản in tác phẩm DMPLK, xuất bản
năm 2003 của Nxb Giáo dục được chọn làm văn bản để nghiên cứu.
3.2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hội thoại dưới cái nhìn ngữ dụng học trong một tác phẩm
như DMPLK là phải miêu tả những đặc điểm của các đơn vị hội thoại, được
thực hiện trong những hoàn cảnh khác nhau, nhằm đạt tới những mục đích
(hay ý đồ) đa dạng trong giao tiếp bằng lời giữa các nhân vật trong tác phẩm.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
Để phát hiện những đặc điểm hội thoại trong DMPLK, có thể đặt ra yêu
cầu xem xét đối tượng từ nhiều phương diện: những yếu tố chi phối sự vận
động hội thoại; sự thể hiện các quy tắc hội thoại; cấu trúc các cuộc hội thoại;
sự thể hiện các quan hệ liên nhân, phép lịch sự... cụ thể, trong tác phẩm.
Trong khuôn một khổ luận văn cao học, chỉ hai khía cạnh chính của hội
thoại trong DMPLK được nghiên cứu:
- Về cấu trúc của hội thoại
- Về sự thể hiện những mối quan hệ liên cá nhân và phép lịch sự qua hội thoại.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4. 1. Mục đích
Qua việc xem xét hội thoại trong DMPLK ở một vài khía cạnh chính
(cấu trúc; quan hệ liên cá nhân và phép lịch sự...), luận văn nhằm chỉ ra các
đặc điểm của hội thoại dưới góc nhìn ngữ dụng học, của rất nhiều nhân vật
thể hiện mình qua nói năng ở các hoàn cảnh khác nhau, với những tâm trạng,
vị thế, mục đích giao tiếp... đa dạng, trong một tác phẩm được coi là rất đặc
sắc của Tô Hoài này.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

 Xác định cơ sở lí luận về mặt ngữ dụng học đối với nghiên cứu hội
thoại nói chung, hướng tới việc nghiên cứu hội thoại trong tác phẩm, cụ thể
là DMPLK. Cụ thể là cần tìm hiểu các khái niệm có liên quan: hội thoại,
các đơn vị hội thoại, cấu trúc hội thoại, quy tắc hội thoại, quan hệ liên cá
nhân, lịch sự...
 Trên cơ sở lí thuyết được xác định, tập hợp và xử lí tư liệu về hội thoại
(với hình thức đa dạng khác nhau) từ DMPLK, tiến hành phân loại tư liệu
theo các tiêu chí khác nhau.
 Miêu tả các đặc điểm của hội thoại trong DMPLK. Chỉ ra các loại quan
hệ liên cá nhân, các phương cách nhằm thể hiện, các chiến lược nhằm nâng
cao tính lịch sự trong tác phẩm này.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
 Phƣơng pháp miêu tả (với các thủ pháp phân tích và tổng hợp): được
sử dụng để miêu tả các cấu trúc hội thoại (cặp thoại, đoạn thoại, bước
thoại...); phân tích sự thể hiện các quan hệ liên cá nhân cũng như chỉ ra các
kiểu thể hiện lịch sự bằng ngôn từ trong tác phẩm.
 Phƣơng pháp thống kê: được dùng để tính đếm các kiểu quan hệ, các
loại cấu trúc hội thoại..., để xác định những cách thức sử dụng ngôn từ ưa dùng
trong DMPLK, phục vụ ý đồ nghệ thuật của tác giả là khắc hoạ hình tượng
nhân vật và tạo tình huống kịch tính, làm nên sự hấp dẫn trong tác phẩm.
 Trong quá trình phân tích tổng hợp, luận văn sẽ chú ý ít nhiều đến
những yếu tố tâm lí, văn hoá ở làng quê Việt Nam trước Cách mạng Tháng
Tám, khi phân tích và lí giải các hiện tượng trong hội thoại tác phẩm.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
6.1. Về lí luận

 Luận văn là một minh chứng cho khả năng áp dụng các tri thức chung
về hội thoại nói riêng, về ngữ dụng học nói chung, để nghiên cứu ngôn ngữ
trong một tác phẩm cụ thể.
 Kết quả luận văn có thể được dùng làm cơ sở đối với cách phân tích
ngôn từ nghệ thuật trong tu từ học, đặc biệt để làm sáng rõ phong cách ngôn
ngữ của các nhà văn qua các tác phẩm của họ.
6.2. Về thực tiễn
Luận văn hướng tới khả năng giúp cho việc tìm hiểu phục vụ dạy và học
về ngôn ngữ văn học nói chung và về ngôn ngữ tác phẩm DMPLK nói riêng
trong nhà trường, đặc biệt dạy tiếng Việt ở trường trung học phổ thông.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Cấu trúc hội thoại trong Dế Mèn phiêu lưu ký
Chương 3: Sự thể hiện những quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự trong
Dế Mèn phiêu lưu ký.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. LÍ THUYẾT HỘI THOẠI TRONG NGỮ DỤNG HỌC
1.1.1. Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản, phổ biến của
ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Trong
tác phẩm nổi tiếng là “Thi pháp tiểu thuyết”, M.Bakhtin cũng đã nhấn mạnh
vai trò của hội thoại (ông gọi là “đối thoại”). Theo ông, đối thoại là bản chất
của ý thức, bản chất của cuộc sống con người…Sống tức là tham gia vào đối

thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý. Con người tham gia vào cuộc đối thoại ấy
bằng toàn bộ con người mình và toàn bộ cuộc đời mình, bằng mắt, tay, tâm
hồn, tinh thần, hành vi, và trút hết con người mình vào lời nói và tiếng nói, ra
nhập dàn đối thoại của cuộc sống con người, ra nhập cuộc hội thảo thế
giới…Bản ngã không chết, cái chết chỉ là sự ra đi. Con người ra đi khi đã nói
lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc thoại
không bao giờ kết thúc…
Trong ngữ dụng học các cuộc hội thoại được phân biệt ở một số mặt
như sau:
- Đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) nơi diễn ra cuộc
thoại. Thoại trường hội có thể mang tính công cộng như: trong cuộc mít tinh,
lớp học, câu lạc bộ, hội thảo, cửa hiệu, ngoài chợ, trong tiệm ăn, quán giải
khát..., hay riêng tư: trong phòng khách giữa chủ và khách, trong phòng ngủ
của vợ chồng… Thoại trường không phải chỉ là không gian thời gian mà có
thể gắn với khả năng có mặt của những người thứ ba vào cuộc hội thoại đang
diễn ra. Một cuộc hội thoại vốn được coi là riêng tư giữa hai người, nhưng
nếu bỗng xuất hiện thêm những người thứ ba, dù là khách quan, dù không xen
vào cuộc hội thoại thì điều đó ít hay nhiều vẫn ảnh hưởng đến nội dung và
hình thức của cuộc thoại.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
- Các cuộc thoại còn khác nhau ở số lượng người tham gia. Căn cứ vào
số lượng người tham gia có thể có song thoại (hai người tham gia hội thoại);
tam thoại (ba người tham gia hội thoại; đa thoại (nhiều người - trên ba người
tham gia hội thoại, tam thoại hay đa thoại). Nhưng dạng cơ bản của hội thoại
là dạng song thoại, tức là dạng diễn ra giữa hai nhân vật đối đáp (đối thoại).
- Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại cũng làm

nên cái khác biệt của các cuộc thoại. Đó là: tính chủ động hay bị động của
các đối tác (còn gọi là “đối ngôn”); sự có mặt hay vắng mặt của vai nghe
trong hội thoại.
- Cuộc thoại còn khác nhau ở tính có đích hay không có đích. Những
cuộc hội thoại trong thương thuyết, ngoại giao, hội thảo khoa học... thường có
chủ đích, chủ đề được xác định rõ ràng. Trong khi đó những cuộc chuyện trò
tán gẫu thường là không có đích, lan man.
- Hội thoại còn mang tính có hình thức hay không có hình thức cố định.
Những cuộc hội nghị thương thảo thường có hình thức tổ chức khá chặt chẽ,
trang trọng đến mức thành nghi lễ. Những chuyện trò “đời thường, vặt vãnh”
thường không cần một hình thức tổ chức cố định và chặt chẽ nào cả.
1.1.2. Trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời,
trao đáp và tương tác. Đây được coi là những điều kiện cần và đủ để hình
thành nên một cuộc giao tiếp hoàn chỉnh và đúng thể thức.
Vận động đầu tiên xuất hiện trong một cuộc hội thoại là người nói đưa ra
phát ngôn của mình hướng về người nghe nhằm truyền đi một lượng tin nhất
định và hướng tới một (một số) mục đích nhất định, đây được gọi là “vận
động trao lời của người nói (người phát - Sp1).
Sau khi tiếp nhận phát ngôn của người nói, người nghe (Sp2) đưa ra phát
ngôn để thể hiện quan điểm, ý kiến, tình cảm của mình (phát ngôn phản ứng)
để đáp lại lời trao từ Sp1, đây được gọi là “vận động trao đáp”.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau, tác
động đến cách ứng xử của nhau. Đây được xem là vận động tương tác xảy ra
trong hội thoại. Trước khi hội thoại giữa các đối ngôn tồn tại một khoảng cách
nhất định về sự hiểu biết lẫn nhau, về tâm lí, tình cảm… Sau khi hội thoại,

nếu những khoảng cách ấy được thu hẹp lại, rút ngắn lại, khi ấy có thể nói đã
có một cuộc hội thoại tích cực. Ngược lại, khoảng cách ấy vẫn giữ nguyên
hoặc mở rộng ra, khi ấy cuộc thoại có thể bị xem là tiêu cực. Tương tác là một
kiểu quan hệ xã hội giữa người với người. Có một hoạt động xã hội thì có sự
tương tác. Tương tác bằng lời là một kiểu tương tác, là hình thức giao tiếp
bằng ngôn ngữ.
1.1.3. Để một cuộc thoại có thể diễn tiến bình thường, các đối ngôn trong
cuộc thoại phải tuân thủ những quy tắc nhất định khi tham gia hội thoại. Qua
nghiên cứu thực tế, chuyên gia ngữ dụng học C.K. Orecchioni người Pháp đã
đề ra một số quy tắc cụ thể như sau: quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy
tắc quan hệ liên cá nhân trong hội thoại (Có tác giả đề nghị nên có thêm một
quy tắc nữa: quy tắc điều hành nội dung của hội thoại) [2, tr.226].
1.1.3.1. Khi tham gia hội thoại, các đối ngôn phải ý thức rõ ràng về các vai trò
nói và nghe của nhau. A đóng vai trò nói thì B sẽ đóng vai trò nghe, và sau
khi nhận ra dấu hiệu thể hiện hết vai của A, thì B sẽ tiếp nhận vai trò của A để
tiến trình hội thoại không bị gián đoạn. Các lượt lời nói có thể được một
người điều chỉnh hoặc do các đối ngôn tự thương lượng ngầm với nhau. Đó
chính là quy tắc được gọi là quy tắc “điều hành luân phiên lượt lời”.
1.1.3.2. Trong hội thoại, còn có quy tắc điều hành nội dung của hội thoại, chủ
yếu quy định về quan hệ nội dung giữa các phát ngôn được đưa ra trong quá
trình hội thoại. Theo quy tắc này, một cuộc hội thoại không phải là sự lắp
ghép ngẫu nhiên tuỳ tiện các phát ngôn, các hành vi ngôn ngữ. Nguyên tắc
liên kết không chỉ chi phối các diễn ngôn đơn thoại mà chi phối cả những lời


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
tạo thành một cuộc thoại. Tính liên kết hội thoại thể hiện bên trong một
phát ngôn, giữa các phát ngôn, giữa các hành động ở lời, giữa các đơn vị

hội thoại…
Trước C.K. Orecchioni, từ năm 1967 Grice cũng đã từng xuất phát từ
quy luật trong hội thoại mà đề ra nguyên tắc cộng tác hội thoại và các
phương châm hội thoại. Nội dung chủ yếu của nguyên tắc cộng tác hội
thoại được P. Grice đề xuất là:
Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc thoại) đúng như nó được
đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay
phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp nhận tham gia vào.
Nguyên tắc này bao trùm bốn phạm trù mà Grice gọi tên là: phạm trù
lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức. Mỗi phạm trù
như vậy tương ứng với một tiểu nguyên tắc mà Grice gọi là phương châm, và
mỗi phương châm lại bao gồm một số tiểu phương châm. Đó là: phương
châm về lượng; phương châm về chất; phương châm quan hệ; phương châm
về cách thức.
1.1.3.3. Trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin (miêu tả, trần
thuật- những thông tin được đánh giá theo tiêu chí đúng sai lôgic) còn có quan
hệ được gọi là “liên cá nhân” (quan hệ giữa các “vai” trong giao tiếp). Liên
quan trực tiếp tới quan hệ liên cá nhân là vấn đề lịch sự trong giao tiếp.
 Theo cách hiểu thông thường, “lịch sự” là cách giao thiệp, cách cư xử
khiến cho người khác vui lòng. Tuy nhiên ở góc độ ngữ dụng học, khái niệm
“lịch sự” không chỉ hiểu đơn giản như vậy, mà phải được đưa ra trên khái niệm
“thể diện” mới đảm bảo được tính toàn vẹn và đầy đủ. Theo C.K. Orecchioni,
đây là một khái niệm bao trùm tất cả các phương diện của diễn ngôn, bị chi
phối bởi các quy tắc có vai trò giữ gìn sự hài hoà của quan hệ liên cá nhân.
Còn theo George Yule, bên trong một cuộc tương tác, lịch sự được xem như
phương tiện dùng thể hiện sự nhận thức được thể diện của người khác.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


13
Do vậy, lịch sự có thể được thực hiện trong những tình huống có khoảng
cách xã hội xa hay gần. Khi ấy, người nói phải có cách thức sử dụng ngôn
ngữ thích hợp cốt để đảm bảo được thể diện của người thứ hai cùng tham gia
giao tiếp (Sp2), bày tỏ được sự kính trọng hay tôn trọng (hoặc ngược lại) với
Sp2 trong hội thoại.
Tóm lại, lịch sự trong giao tiếp là vấn đề ứng xử giữa người nói và người
nghe, nhờ đó mà quan hệ liên nhân được tạo lập và duy trì, qua cách sử dụng
ngôn ngữ khôn khéo nhằm bảo toàn được thể diện của cả hai phía.
Lịch sự là một vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu,
và cũng đã được nghiên cứu ở dưới nhiều góc độ khác nhau.
Hiện nay có bốn hướng tiếp cận vấn đề này:
- Hướng xem xét theo chuẩn xã hội: Theo các tác giả J. S. Locke và
N. Boston, mỗi xã hội có một hệ thống những quy tắc ứng xử chung, đòi hỏi
các thành viên phải tuân theo. Khi hành vi chuẩn mực theo đúng quy tắc
chung, thì có được lịch sự, ngược lại là mất lịch sự.
- Hướng xem xét theo quy tắc hội thoại:
Năm 1975, P.Grice đã đề xuất các quy tắc ứng xử trong hội thoại. Đó là
nguyên tắc cộng tác trong hội thoại. Nội dung cơ bản của nguyên tắc này như
đã nói ở trên, là: “làm cho phần đóng góp của anh đúng như đòi hỏi ở giai
đoạn mà cuộc thoại đang diễn ra, bằng cách chấp nhận mục đích hoặc chiều
hướng của sự trao đổi lời mà anh tham dự”(1975).
Một trong những người đầu tiên tiếp tục quan điểm của P. Grice là
R. Lakoff (1973). Tác giả này coi lịch sự là một phương tiện được sử dụng để
giảm bớt trở ngại trong sự tương tác giữa các cá nhân. Tác giả đưa ra hai quy
tắc trong giao tiếp: diễn đạt rõ ràng; lịch sự.
Cụ thể hoá quy tắc lịch sự trong giao tiếp, R. Lakoff đề xuất 3 quy tắc
sau: không dồn ép, để ngỏ sự lựa chọn và khuyến khích tình cảm bạn bè.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Một học giả có tên tuổi khác là J.N. Leech đã đề xuất các quy tắc về lịch
sự. Các quy tắc này được xây dựng không phải trên khái niệm “thể diện” mà
trên hai khái niệm “tổn thất” và “lợi ích”, với 6 phương châm lịch sự lớn:
- Hướng xem xét theo cộng tác hội thoại:
B. Fraser (1975) và Nolen (1981) đã tìm ra cách tiếp cận này. Cùng với
việc tán đồng các quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, hai tác giả chỉ
ra rằng lịch sự là sự cộng tác của các bên khi tham gia hội thoại. Nếu sự cộng
tác hài hoà thì tạo nên được lịch sự, nếu sự hài hoà bị phá vỡ thì dẫn đến bất
lịch sự.
- Hướng xem xét theo thể diện:
P. Brown và S. Levison (1978 và 1987) được xem là hai tác giả nổi tiếng
nhất trong lĩnh vực nghiên cứu về lịch sự. Theo các tác giả này, phép lịch sự
trong giao tiếp có liên quan đến thể diện của người nói và người nghe khi giao
tiếp. Đây là lí thuyết hiện nay được coi là nhất quán, có ảnh hưởng rộng rãi
nhất đối với việc nghiên cứu về phép lịch sự. Vậy thể diện là gì?
Theo J. Thomas, thể diện nên được hiểu là cảm giác về giá trị cá nhân
của mỗi người, là hình ảnh về ta, về chính mình. Cái hình ảnh này có thể bị
tổn hại, được giữ gìn hay được đề cao trong tương tác.
Như vậy “thể diện” hiểu một cách khái quát, là tư cách, là lợi ích tinh
thần, là danh dự mà mỗi cá nhân khi tham gia giao tiếp đều muốn là phía bên
kia sẽ tôn trọng và giữ gìn nó.
Nhìn vào bản chất của thể diện, P. Brown và S. Levison đã phân biệt hai
phương diện như sau:
Thể diện dương tính là sự cần được người khác thừa nhận, thậm chí quý
mến, được đối xử như một thành viên trong nhóm đó.
Thể diện âm tính là sự cần được độc lập, có tự do trong hành động,
không bị áp đặt bởi người khác. Theo các tác giả này , “Nói đơn giản thể



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
diện âm tính là nhu cầu được độc lập còn thể diện dương tính là nhu cầu được
liên thông với người khác” (G.Yule) [2,tr.264].
Trong hội thoại, hai loại thể diện trên là hai mặt bổ sung cho nhau, phát
huy vai trò tác dụng theo lối tương hỗ, vẫn gọi là “cộng sinh”, nghĩa là sự vi
phạm thể diện âm tính cũng đồng thời làm mất thể diện dương tính. Như vậy
những chiến lược bảo vệ thể diện âm tính cũng có tác dụng bảo vệ cả thể diện
dương tính.
Trong tương tác bằng lời chúng ta phải thực hiện những hành vi ngôn
ngữ nhất định. Đại bộ phận những HV ngôn ngữ đều tiềm ẩn đến khả năng
làm tổn hại đến 4 thể diện trên. Nhưng có HV đe doạ thể diện, lại có hành vi
cứu vãn thể diện. Vậy làm sao để không vi phạm đến thể diện? Đó là việc
người nói phải thực hiện các chiến lược lịch sự.
 Chiến lược lịch sự được hiểu đại khái là những phương thức, những ý
định sử dụng ngôn ngữ sao cho đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất. Chiến
lược lịch sự là những giải pháp sử dụng hành vi ngôn ngữ của người nói,
nhằm gìn giữ thể diện, bảo toàn thể diện cho mình cũng như người cùng tham
gia giao tiếp.
Tương ứng với từng loại thể diện mà cần có những loại chiến lược lịch
sự thích hợp, tạo tiền đề đưa cuộc giao tiếp tới đích mong muốn. Có hai loại
thể diện tiêu biểu (âm tính và dương tính), và tương ứng là hai loại chiến lược
lịch sự:
a. Chiến lược lịch sự âm tính là những phương châm, cách thức sử dụng
hành vi ngôn ngữ nhằm bày tỏ sự tôn trọng, nhấn mạnh tầm quan trọng, chú ý
đến những điều quan tâm của người khác...
b. Chiến lược lịch sự dương tính là những phương châm, cách thức sử

dụng hành vi ngôn ngữ nhằm bày tỏ tình thân hữu, chú ý rằng cả hai người
đều có cùng một điều mong muốn, và cả hai có cùng một mục tiêu chung.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Mỗi chiến lược lịch sự đều có những cách biểu hiện ngôn ngữ khác nhau,
như giảm thiểu sự xung khắc, tình thái hoá, “tháo ngòi nổ”, vuốt ve…, trong
chiến lược lịch sự âm tính, hay dùng những hành vi tôn vinh thể diện người
nhận, dùng các yếu tố ngôn ngữ để xác lập quan hệ cùng nhóm xã hội giữa
người nói và người nhận.
1.1.4. Cấu trúc hội thoại
Hội thoại được xem là một tổ chức có tôn ti, nên cũng có các đơn vị cấu
trúc từ lớn đến tối thiểu. Lớn nhất trong cấu trúc hội thoại là cuộc thoại và
nhỏ nhất là hành vi ngôn ngữ.
1.1.4.1. Cuộc thoại được hiểu là cuộc tương tác bằng lời, là đơn vị hội thoại
lớn nhất, tính từ khi các đối ngôn gặp nhau, khởi đầu nói và nghe cho đến lúc
chấm dứt quá trình này.
Trong một cuộc nói chuyện, những bên tham gia có thể trao đổi hết vấn
đề này đến vấn đề khác, nhưng bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc.
Những lúc như thế làm nên ranh giới một cuộc thoại. Lúc bắt đầu được gọi là
“mở thoại”, do một bên đề ra, lúc kết thúc cũng là một bên chủ động đề ra,
gọi là “kết thoại”. Giữa mở thoại và kết thoại là phần trung tâm cuộc thoại là
thân thoại.
Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại thường bào gồm:
Đoạn thoại mở thoại
Đoạn thoại thân thoại
Đoạn thoại kết thoại.
Dựa vào những tiêu chí nào để xác định một cuộc thoại? Đó là các tiêu chí:

- Nhân vật hội thoại
- Sự thống nhất về thời gian và địa điểm
- Sự thống nhất về đề tài hội thoại.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Tuy nhiên tất cả những điều vừa nói chỉ mang tính tương đối. Nhận thấy
tính không chặt chẽ của các tiêu chí trên, C.K. Orecchioni đưa ra định nghĩa
mềm dẻo hơn về cuộc thoại: “để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần
và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, trong
một khung thời gian- không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói
về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng”[2,tr.313].
Thông thường người ta nhận thấy được các dấu hiệu định ranh giới cuộc
thoại như: dấu hiệu mở đầu (chào hỏi), dấu hiệu kết thúc (những câu hỏi: còn
gì nữa không nhỉ, thế nhé…). Nhưng dù vậy, những dấu hiệu như thế vẫn
không thể xem là bắt buộc, đặc biệt với những cuộc thoại với những người
thân quen.
1.1.4.2. Đoạn thoại được quan niệm là một đơn vị hội thoại do một số cặp trao
đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng. Về ngữ nghĩa,
đó là đơn vị có sự liên kết nhờ chủ đề: có một chủ đề duy nhất. Còn về ngữ
dụng, đó là đơn vị có tính duy nhất về đích hội thoại. Có những loại đoạn
thoại sau: mở thoại; thân thoại; kết thoại.
Đoạn mở thoại và kết thoại có cấu trúc tương đối đơn giản và ổn định, dễ
nhận ra hơn đoạn thân thoại, do đoạn thân thoại này có thể có dung lượng lớn
và có cấu trúc phức tạp.
Tổ chức của đoạn thoại mở đầu và kết thúc phần lớn được nghi thức hoá
và lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố như: các kiểu cuộc thoại, hoàn cảnh giao tiếp,
sự hiểu biết về nhau của các đối ngôn…

Thực ra trong ngữ dụng học hiện nay, sự phân định các loại đoạn thoại
vẫn chưa rành mạch, cũng như sự phân định cuộc thoại. Tuy nhiên đây vẫn là
những đơn vị thực có, dù đường ranh giới giữa chúng đôi khi rất mơ hồ và
việc phân định có khi phải dựa vào trực cảm và võ đoán.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
1.1.4.3. Cặp thoại được coi là đơn vị hội thoại nhỏ nhất của một cuộc thoại,
do các tham thoại tạo nên. Nói cách khác: cặp thoại được cấu thành từ các
tham thoại.
Xét về cấu trúc, có các loại cặp thoại như sau:
- Cặp thoại một TT: xảy ra khi người nghe thực hiện một hành động vật lí
(gật đầu, lắc đầu, xua tay…) thay cho hành động ngôn ngữ, hoặc người nghe im
lặng, không có hành động gì cả, lúc đó ta có cặp thoại được gọi là “hẫng”.
- Cặp thoại hai TT: được coi là dạng thông thường nhất trong hội thoại.
Trong cặp thoại hai tham thoại, mỗi tham thoại thường ứng với một chức
năng cụ thể: tham thoại thứ nhất được gọi là “tham thoại dẫn nhập”, tham
thoại thứ hai được gọi là “tham thoại hồi đáp”. Ở cặp thoại này, lượt lời trùng
khớp hoàn toàn với một tham thoại (một tham thoại trùng khớp hoàn toàn với
một hành vi ngôn ngữ). Đây là dạng cấu trúc đơn giản nhất của cặp thoại
trong trong hiện thực giao tiếp. Nhưng trong thực tế có rất nhiều trường hợp
cặp thoại gồm ba tham thoại.
- Cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có nhiều tham thoại tham gia, hoặc
có thể có ít tham thoại nhưng lại có nhiều hành vi ngôn ngữ, trong quan hệ
ràng buộc lẫn nhau.
Có thể có những dạng cặp thoại phức tạp như sau:
Dạng thứ nhất: Loại cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập, nhưng chỉ
có một tham thoại hồi đáp.

Dạng thứ hai: Loại cặp thoại có một tham thoại dẫn nhập, với nhiều tham
thoại hồi đáp.
Dạng thứ ba: Loại cặp thoại phức tạp do có nhiều tham thoại tham gia ở
cả hai phía.
Xét về tính chất, có các loại cặp thoại như sau:
- Cặp thoại chủ hƣớng/ cặp thoại phụ thuộc
“Cặp thoại chủ hướng” là cặp chủ đạo giữ vai trò trung tâm, chứa nội
dung chính của đoạn thoại. Trong đoạn thoại, ngoài cặp thoại chủ hướng ra,

×