Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

Tài liệu Hệ thống E_Learning pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.57 MB, 75 trang )

1



2


Hệ thống đào tạo trực tuyến đang phát triển rất mạnh trong thời gian gần đây
trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Trên thế giới, khái niệm e-Learning đã quen
thuộc từ khá lâu, còn ở Việt Nam, khái niệm này cũng đang được phổ cập mạnh
mẽ với sự vào cuộc của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong những năm gần đây khi vấn
đề e-Learning đang trở thành vấn đề hết sức cần thiết của ngành giáo dục. Giải ba
của nhóm Tự lập của ĐHBKHN với đề tài e-Learning tại cuộc thi tin học uy tín
nhất Việt Nam “Trí tuệ Việt Nam” là một minh chứng cho thấy vấn đề này đang
trở nên ngày càng được quan tâm nhiều hơn ở nước ta.

I. Tng quan

1. E-Learning là gì?

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về e-Learning. Sau đây, xin trích
ra một số định nghĩa tiêu biểu nhất:
• E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên
công nghệ thông tin và truyền thông (
Compare Infobase Inc).

• E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, phân phối
hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông
khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (
MASIE Center).


• Việc học tập được phân phối hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử. Việc phân
phối qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ
thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính ( CBT )
( Sun Microsystems, Inc ).

• Việc phân phối các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập
thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-
ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân... (
e-learningsite).

2. Hệ thống đào tạo trực tuyến e-learning (e-learning System).

Những tiến bộ gần đây trong việc cải tiến khả năng và tốc độ truy cập internet
cũng như sự tăng cường sức mạnh cho các máy tính cá nhân đã thúc đẩy mạnh mẽ
các cơ hội cho việc sử dụng môi trường hợp tác và các công nghệ giáo dục phân
tán. Từ đó, một số lượng lớn các sản phẩm đã và đang được rất nhiều các công ty
khác nhau phát triển để cạnh trang trên thị trường về công nghệ giáo dục. Nhiều
loại sản phẩm mới xuất hiện, một số cung cấp các tính năng mới, một số khác liên
kết các tính năng riêng lẻ thành một sản phẩm mới. Rất khó để xác định xem các
3
sản phẩm này có liên hệ với nhau như thế nào và làm thế nàp để chúng có thể cùng
hoạt động trong một môi trường thống nhất. Sự xuất hiện của hệ thống đào tạo
trực tuyến không có nghĩa là các hạ tầng phần mềm ứng dụng đào tạo đã tồn tại
trước đây là lỗi thời. Các hệ thống như hệ thống quản lý sinh viên, quản lý nhân sự,
quản lý thư viện cung cấp những thành phần cơ bản cho môi trường. Thách thức
đặt ra là làm thế nào có thể tích hợp một cách có hiệu quả các hạ tầng đã có vào
các ứng dụng dịch vụ mới.






II. Mô hình chc năng ca mt h thng đào to trc tuyn.

Mô hình chức năng xác định các thành phần cấu thành một hệ thống đào tạo
trực tuyến. Hiện nay trên thế giới có một số đề xuất về mô hình chức năng chẳng
hạn như SCORM, xác định mô hình chức năng tổng quát của một hệ thống quản lý
đào tạo LMS (Learning Management System), còn Sun Microsystems cũng giới
thiệu một mô hình chức năng đặc thù của họ. So sánh các mô hình chức năng này
với nhau, chúng tôi đề xuất một mô hình chức năng trong đó hê thống đào tạo
được phân tách thành 2 hệ thống, hệ thống quản lý nội dung LCMS (Learning
Content Managerment System) và hệ thống quản lý đào tạo LMS (Learning
Management System) để có thể quản lý các chức năng một cách rõ ràng, mạch lạc
hơn. Chúng tôi cũng xác định các learning object được trao đổi giữa mỗi thành
phần, các đối tượng này có quan hệ chặt chẽ với các chuẩn tồn tại hiện nay cho
một hệ thống đào tạo trực tuyến.

Để có được cái nhìn tổng quan về các chức năng của một hệ thống đào tạo trực
tuyến, ta sẽ xem xét một số mô hình chức năng đã được đề xuất, sau đó sẽ xem xét
mô hình chức năng có sự phân chia LMS thành LCMS và LMS.

1. Mô hình chức năng do Sun Microsystems đề xuất.


4


Hình 1. Mô hình chức năng của hệ thống đào tạo trực tuyến do Sun đề
xuất


Trước hết, ta sẽ xác định các khái niệm và các thành phần cấu thành nên mô
hình trên.

Đối tượng kiến thức: Learning Object

Khi thảo luận về hệ thống đào tạo trực tuyến, ta cần phải nắm được một cách
thấu đáo một thuật ngữ thông dụng: đối tượng kiến thức (learning objects). Đối
tượng kiến thức được định nghĩa trong rất nhiều các tài liệu, các tiêu chuẩn, các
báo các và các nghiên cứu khác nhau về hệ thống đào tạo trực tuyến. Từ góc độ
chuyên môn, ta có thể định nghĩa đối tượng kiến thức là một tập các dữ liệu được
sử dụng bởi hệ thống đào tạo trực tuyến, chúng được tạo ra, lưu trữ, biên soạn,
ghép nối, chuyển giao và làm phương tiện ghi chép. Một cách tiếp cận thực tế hơn
là coi đối tượng kiến thức như một thành phần số đóng góp vào bức tranh phức tạp
của một bài giảng trực tuyến.

Kho chứa nội dung và các danh mục đề nghị (Content Repositories and
Offering Catalogs)

Kho chứa nội dung là kho chứa các đối tượng kiến thức và có thể được truy
nhập bởi cả những người và hệ thống tạo nên nội dung cũng như những người và
hệ thống sử dụng nội dung đó. Các kho chứa phải có thể được xử lý một cách
5
thương mại các nội dung thông thường cũng như chuyên biệt đã được tạo ra bởi
một nhóm hay một tổ chức cũng như ở bất cứ nơi nào khác.

Siêu dữ liệu (Metadata)

Để có thể giao tiếp một cách có hiệu quả với các thành phần khác, kho chứa dữ
liệu phải duy trì một chỉ mục tìm kiếm của các đối tượng kiến thức, và đặc biệt là
các thông tin mô tả về cấu trúc cũng như thuộc tính của các đối tượng. Các thông

tin mô tả này được gọi là các siêu dữ liệu (metadata), hoặc chính xác hơn là siêu
dữ liệu của các đối tượng kiến thức. Siêu dữ liệu được sử dụng để phục vụ cho
việc tìm kiếm, khai thác và phục hồi các đối tượng kiến thức.

Siêu dữ liệu và sự lưu trữ dữ liệu (Metadata and Content Storage)

Khi ta liên hệ với một thư viện truyền thống thì siêu dữ liệu tương tự như một
thẻ danh mục còn nội dung thì tương tự như các cuốn sách. Mặc dù trong thư viện,
các thẻ danh mục tách rời khỏi các cuốn sách và các kho chứa nội dung của thời
đại thông tin số thường chỉ chứa các siêu dữ liệu. Nội dung của các kho chứa bao
gồm rất nhiều dạng như dạng văn bản, đồ họa, các câu hỏi đánh giá, hình ảnh, hoạt
hình, mô phỏng, âm thanh và phim ảnh. Sự lưu trữ vật lý và phục hồi các đối
tượng nội dung có thể hoàn toàn tách rời khỏi sự lưu trữ và phục hồi của các siêu
dữ liệu về các đối tượng kiến thức đó. Tóm lại là, các đối tượng kiến thức có thể
được lưu trữ trên nhiều server với các đặc trưng khác nhau. Đây dường như là
cách tiếp cận mang tính công nghệ để đạt được sự hiệu quả cao trong việc chuyển
giao các nội dung thực tế đến người học và bởi vì các dữ liệu đa phương tiện khác
nhau đòi hỏi các loại server khác nhau.

Quản lý nội dung và dòng công việc (Content and Workflow Management)

Mặc dù việc này mới chỉ bắt đầu xảy ra nhưng các kho chứa dữ liệu có thể là
một phần của hệ thống quản trị nội dung hay có thể hỗ trợ cho các tính năng quản
lý nội dung như điều khiển phiên bản, đăng nhập/đăng xuất và sự phê chuẩn của
người quản lý khi có một nội dung mới được tạo ra. Các tính năng nhập/xuất cần
có để có thể chuyển giao các đối tượng hay các gói đối tượng giữa các hệ thống
cũng có thể được xem như là sự quản trị nôi dung.


Các đối tượng kiến thức có thể tái sử dụng (Reusable Learning Objects)


Các kho chứa các đối tượng kiến thức cho phép người sử dụng có thể phát triển,
tạo chỉ mục, tìm kiếm và tái sử dụng các đối tượng kiến thức. Việc này đòi hỏi các
đối tượng phải được đánh chỉ mục bằng các siêu dữ liệu, và thường xuyên yêu cầu
khả năng trộn lẫn và ghép nối các đối tượng kiến thức từ các nguồn khác nhau và
6
chuyển giao chúng đến các hệ thống khác nhau. Về mặt tổng quan thì để các đối
tượng kiến thức có thể tái sử dụng được thì các thành phần phải hợp tác được với
nhau.

Tính sử dụng lại là một trong các điều cần lưu ý nhất khi muốn đảm bảo tính
hiệu quả của quá trình phát triển nội dung. Nó giảm thời gian đưa nội dung ra thị
trường (time-to-market) và làm cho công việc của người phát triển trở nên dễ dàng
hơn.




Hình 2. Khả năng tái sử dụng của các đối tượng kiến thức



Danh mục đề nghị (Offering Catalog)

Một kiến thức được đề nghị được xác định như là nội dung được ghép vào
trong một gói kiến thức (có thể bao gồm cả các phần đánh giá) và sau đó được đề
xuất tới những người học như là một đơn vị thống nhất. Danh mục đề nghị là một
loại kho chứa đặc biệt, là nơi lưu trữ các đề xuất. Một danh mục đề nghị có thể
liên kết các đề xuất với các đường dẫn để dẫn đến sự đồng thuận, các chứng nhận
và/hoặc các kỹ năng. Tùy thuộc vào kiến trúc vật lý của môi trường đào tạo, danh

mục này có thể được tích hợp với các kho chứa nội dung bình thường hay có thể là
một thành phần độc lập.

Các công cụ soạn thảo nội dung (Content Authoring Tools)

Các công cụ và dịch vụ soạn thảo nội dung (và các đánh giá) cho phép các
chuyên gia chủ đề và các nhà phát triển tài liệu hướng dẫn có thể tạo ra và sửa
chữa các đối tượng nội dung. Những nhà phát triển tài liệu hướng dẫn chuyên
nghiệp rõ ràng rất cần có các công cụ cung cấp cho họ một tập hợp các tính năng
phong phú trong khi các chuyên gia chủ đề được phục vụ tốt hơn bởi các công cụ
dễ dùng và dễ học, và chúng cũng cung cấp sẵn các mẫu chuẩn cho các nội dung
đang được phát triển. Các công cụ soạn thảo khác nhau được sử dụng để tạo và
định dạng cho các loại nội dung khác nhau như văn bản, đồ họa, hình ảnh, hoạt
7
hình, mô phỏng, âm thanh và phim ảnh. Các công cụ soạn thảo cần phải có khả
năng cho phép người thiết kế nội dung có thể xác định rằng dữ liệu đang tồn tại có
thể tái sử dụng hoặc sử dụng vào mục đích khác hơn là thiết kế và soạn thảo lại
hoàn toàn. Việc này yêu cầu những người thiết kế tài tiệu hướng dẫn, người cung
cấp nội dung và những người phát triển các khóa học phải cung cấp sự mô tả về
nội dung của họ một cách chính xác trong các siêu dữ liệu. Trong một môi trường
đào tạo lý tưởng, các công cụ soạn thảo tích hợp nhuần nhuyễn với các kho chứa
nội dung, cho phép họ có thể tìm kiếm, phục hồi, thay đổi, lưu trữ và thay thế các
đối tượng cũng như các siêu dữ liệu của chúng.

Ví dụ

Một trong các phần mềm soạn thảo nội dung được dùng nhiều hiện nay là
Lectora Publisher. Đây là phần mềm rất dễ học. Chỉ trong khoảng 30 phút bạn đã
có thể tạo nội dung học tập của riêng bạn. Bạn không cần biết kĩ năng về lập trình.
Bạn cũng có thể tạo được các bài kiểm tra. Đầu ra của quá trình tạo nội dung

tương thích với SCORM, AICC. Để có thêm thông tin hãy vào website của phần
mềm
www.lectora.com


Màn hình sử dụng các mẫu
có trước để tạo một cua học
Màn hình cấu trúc của
một cua học
Màn hình các lựa chọn
đầu ra của cua học


Các công cụ lắp ghép nội dung (Content Assembly Tools)

Các công cụ lắp ghép nội dung liên quan đến việc kết nối các đối tượng nội
dung thành một module học tập thống nhất, với sự định hướng giữa các đối tượng
đã được xác định cũng như sự đánh giá về các nội dung tương ứng. Lắp ghép nội
dung thường được thực hiện bằng các công cụ khác với các công cụ soạn thảo
dùng để tạo ra các đối tượng kiến thức mặc dầu rất nhiều công cụ soạn thảo cũng
có cả các tính năng lắp ghép.

Các công cụ lắp ghép nội dung có thể hỗ trợ việc tạo cũng như ứng dụng các
mẫu sẵn có như là các thành phần cơ bản cho một gói nội dung một cách ổn định
và hiệu quả vào một module học tập. Các mẫu có thể dựa trên các kiến trúc, trên
các trình diễn, trên các phương pháp thiết kế chỉ dẫn hoặc trên tất cả các thành
phần đó. Do đó, một mẫu có thể chia một bài giảng thành phần giới thiệu, phần
giải thích, ví dụ và đánh giá. Lắp ghép cũng cho phép liên kết các thành phần khác
8
nhau của kinh nghiệm học tập như chat room, các diễn đàn thảo luận không đồng

bộ, các sự kiện đồng bộ và môi trường hợp tác.

Quản lý danh mục (Catalog Manager)

Quản lý danh mục là quá trình xác định nội dung học tập để chuyển tới các
người sử dụng khác nhau, thành lập kế hoạch học tập (các hướng để có thể được
cấp bằng, cấp chứng chỉ, các môn học để phát triển kỹ năng), luân chuyển tài
nguyên là cần thiết để hỗ trợ việc chuyển giao kiến thức, cơ sở hạ tầng ứng dụng
của một hệ thống đào tạo trực tuyến có vai trò thiết lập nên các quy trình thương
mại để đăng ký người học, tạo ra các danh mục người đăng ký để người có nhu
cầu có thể vào đăng ký trực tiếp. Các thành phần quản lý danh mục có các giao
diện điển hình cho phép những cá nhân được phép kích hoạt quá trình học tập và
thiết lập các quyền truy nhập, cấm truy nhập, thiết lập giá cả, và hơn nữa.





Quản lý hồ sơ người học (Learner Profile Manager)

Trong một hệ thống đào tạo trực tuyến thì người học vẫn luôn là trung tâm và
do đó, một hệ thống đào tạo trực tuyến cần lưu giữ các thông tin về những người
học của mình. Thông tin này gồm có: dữ liệu cá nhân, kế hoạch học tập (kế hoạch
lấy bằng cấp chẳng hạn), lịch sử học tập, các chứng chỉ và bằng cấp, đánh giá về
kiến thức (kỹ năng và khả năng) và trạng thái của người học trong hệ thống (sự
đăng ký, tiến trình học như thế nào). Tất cả các thông tin này được gọi là hồ sơ
người học và hệ thống đào tạo trực tuyến cần phải có một bộ phận để quản lý các
hồ sơ này. Bộ phận quản lý hồ sơ người học phải cho phép các thành phần khác
của hệ thống sử dụng các thông tin của hồ sơ người học đồng thời phải luôn cập
nhật và có thể phục hồi các thông tin trên cơ sở các báo cáo của các thành phần

khác.

Lập kế hoạch học tập (Learning Planner)

Tùy thuộc vào hoàn cảnh tổ chức, quá trình học tập có thể được lập kế hoạch
bởi người học, bởi các giáo viên, bởi những người cố vấn, bởi những người quản
lý các môn học, bởi các giám đốc nhân lực hay bởi các những người lập kế hoạch
và quản lý thời gian biểu. Những thành phần cơ bản nhất của việc lập kế hoạch
(mà không thể thay thế bằng các hệ thống tự động) gồm có:

• Xác định các mục tiêu học tập. Bằng cấp, chứng chỉ, các kỳ thi nghề hay các kỹ
năng nào người học muốn đạt được?
9
• Đánh giá kiến thức hay trình độ kỹ năng hiện tại của học viên. Việc này có thể
được thực hiện nhờ các bài kiểm tra, bằng cách đánh giá tiểu sử học tập hay thông
qua đánh giá chủ quan của chính người học hay một người nào khác.
• Đánh giá kiến thức hiện tại và/hoặc trình độ kỹ năng hiện tại của học viên so
với mục tiêu của khóa học mà họ theo đuổi. Trong giáo dục đại học, điều này
thường được nói đến như là sự phân tích tiến trình lấy bằng. Trong một thế giới
chung, việc này còn có thể được gọi là phân tích các kỹ năng còn thiếu.
• Thành lập một kế hoạch học tập cho các học viên, việc này sẽ giúp nâng cao
trình độ hiện có của các học viên lên cấp độ mà họ mong muốn đạt được một cách
khoa học nhất.

Cần lưu ý rằng đây không phải là các bước tuần tự nối tiếp nhau, giữa chúng có
các mối liên hệ có thể phải đánh giá lại vào bất cứ thời điểm nào.

Việc lên kế hoạch học tập cần phải có sự truy nhập vào các đề nghị hay các
kiến thức trong danh mục đề nghị và vào các thông tin về người học tong các kho
chứa hồ sơ về người học. Các kế hoạch học tập nên được xem như một phần cốt

lõi của hồ sơ người học và được lưu trữ để theo dõi trong cả quá trình theo học.

Chúng ta xét tính năng lập kết hoạch đào tạo của phần mềm MindManager X5
Pro để có thể thấy rõ hơn về công việc này.




Hình 3. MindManager

10


Hình 4. Chức năng lập kế hoạch đào tạo của MindManager

Cán bộ đào tạo (Learner Registrar)

Thành phần cán bộ đào tạo cung cấp cho người học khả năng truy nhập vào các
đề nghị học tập và quản lý các tiến trình thương mại liên quan đến sự truy nhập đó.
Sự phức tạp của tiến trình có thể rất khác nhau, có thể đơn giản chỉ là việc người
học click lên biểu tượng danh mục, sau đó sẽ truy nhập được ngay, có thể là cả
một quá trình phức tạp gồm có sự phê chuẩn của người dạy, kiểm tra tính hợp lệ
của vị trí học viên, kiểm tra các điều kiên tiên quyết đã được định trước, tính toán
hóa đơn, quá trình thanh toán, hủy bỏ và bồi thường hợp đồng, …

Môi trường chuyển giao (Delivery Environment)

Môi trường chuyển giao cung cấp cho người học khả năng truy nhập vào nội
dung học tập và các thành phần khác của môi trường học tập như chat, email, câu
hỏi trắc nghiệm, công cụ biểu diễn và hiển thị dữ liệu đa phương tiện, các công cụ

hợp tác, chia sẻ ứng dụng, công cụ soạn thảo phương trình, …Môi trường cũng
cung cấp các công cụ chỉ dẫn nếu như trong mạng có một thành phần đóng vai trò
người chỉ đạo học tập.

11
Môi trường chuyển giao cũng cung cấp các phương tiện để có thể duyệt qua nội
dung, đôi khi dưới sự điều khiển của người học, cũng có khi dưới sự điều khiển
của người dạy và cũng có thể dưới sự điều khiển của chính hệ thống chuyển giao.
Các quy tắc và/hoặc cách thức để duyệt qua một đề nghị được thiết lập trong quá
trình lắp ghép nội dung.
Các thành phần của môi trường chuyển giao có thể có:

• Các môi trường hợp tác đồng bộ chẳng hạn như các chat room, chia sẻ màn hình,
hội thảo từ xa bằng công nghệ audio, video.
• Các hợp tác không đồg bộ như email, diễn đàn thảo luận
• Các nội dung Self-paced (văn bản, video, mô phỏng, đồ họa, etc),
• Chuyển giao và theo dõi các tiền và hậu đánh giá
• Duyệt thích nghi, tùy thuộc vào các kết quả đánh giá.

Dữ liệu về các hoạt động của một người học và trạng thái trong một sự đề nghị
có thể được chuyển ngược trở lại hồ sơ của người học đó.

Chúng ta sẽ xét một ví dụ về một công cụ chuyển giao hữu dụng trong một hệ
thống đào tạo trực tuyến, đó là công cụ chat. Công cụ chat trong hệ thống đào tạo
trực tuyến giúp:


Tăng khả năng trao đổi thông tin giữa các học viên, giúp hiểu về nhau kĩ
hơn


Giúp giáo viên và học viên có thể tham gia trao đổi với nhau cùng một vấn
đề

Ví dụ
ICQ là một trong các phần mềm instant messenger đầu tiên (và cũng miễn phí).
Vào thời điểm này vẫn là một trong các phần mềm tốt nhất, khi so sánh với đối thủ
của nó là MS IM, nó có nhiều tính năng hơn. Bạn có thể vào phòng chat và gửi
message tức thì. Khi triển khai phục vụ cho việc đào tạo, thiết lập là một vấn đề vì
bạn cần mở hai cổng ở tường lửa. Một vài công ty sẽ không cho phép điều này. Để
có thêm thông tin hãy vào website của phần mềm



Màn hình ai đang online? Màn hình thiết lập trạng
thái
Màn hình gửi một
message


12
Ta xét thêm một ví dụ về một công cụ tạo diễn đàn. Công cụ tạo diễn đàn là các
công cụ dùng để tạo các diễn đàn thảo luận. Với diễn đàn, bạn có thể đưa các câu
hỏi lên, mọi người có thể vào đọc và trả lời câu hỏi của bạn nếu có thể. Ngoài ra,
các người tham gia diễn đàn có thể tạo ra các chủ đề thảo luận mới. Trong một hệ
thống đào tạo trực tuyến, công cụ tạo diễ đàn giúp:


Kích thích việc chia sẻ thông tin giữa các học viên

Hoạt động giống như FAQ. Các học viên có thể kiểm tra diễn đàn trước khi

đưa các câu hỏi lên

Thích hợp cho việc trao đổi thông tin không mang tính hình thức (informal)

Tạo hứng thú cho học viên thông qua thảo luận các nội dung chuẩn bị học
trong giáo trình

Ví dụ
phpBB là công cụ tạo các cộng đồng trên môi trường web. Nó là một giải pháp rất
hoàn chỉnh với tất cả các đặc điểm mà bạn có thể tưởng tượng và tương thích với
nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau. Nếu bạn là một người điều hành, bạn thậm chí có
thể thay đổi giao diện dựa trên CSS. Điều đáng chú ý là công cụ này miễn phí, mã
nguồn mở. Để có thêm thông tin hãy vào website của phpBB
www.phpbb.com



Màn hình các nhóm khác
nhau
Màn hình các bài gửi Màn hình thống kê diễn
đàn



Môi trường hợp tác (Collaborative Environment)

Một số hệ thống chuyển giao kiến thức được xây dựng hầu hết xung quanh sự
chuyển giao và hợp tác đồng bộ. Chúng được gọi là các phòng học ảo vì các hệ
thống này cố gắng mở rộng môi trường vật lý và các tương tác thông thường của
một phòng học sang các thiết lập trên môi trường mạng. Mặc dù được sử dụng cho

e-learning, các tiếp cận mang tính công nghệ cho một phòng học ảo có rất nhiều
khác biệt so với môi trường chuyển giao các khóa học trên Web sử dụng chủ yếu
giao thức chuyển giao không đồng bộ.


Các bộ máy đánh giá và kiểm tra (Assessment and Testing Engines)

13
Việc kiểm tra và đánh giá có thể được tích hợp với nội dung học tập và chuyển
giao cùng với nó, hoặc cũng có thể quản lý như một quy trình riêng biệt. Trong
mỗi trường hợp, sự đánh giá và kiểm tra là các bộ phận thiết yếu của bất cứ môi
trường giáo dục nào, và sự lưu trữ, lắp ghép, chuyển giao và ghi nhận các đánh giá
thường được đảm trách bằng một bộ phận riêng biệt gọi là bộ máy đánh giá.

Các bộ máy đánh giá điển hình thường bao gồm các khả năng đánh giá của các
tác giả và có thể được sử dụng để tạo ra các ngân hàng câu hỏi từ mỗi đánh giá (và
điều tra) đã được liên kết lại. Quy trình ghép nối có thể bao gồm việc lựa chọn
ngẫu nhiên các câu hỏi dựa trên các tiêu chí đánh giá cho dù sự lựa chọn các câu
hỏi cần phải có sự tương thích với các kết quả trước đó. Các loại câu hỏi cung cấp
bởi bộ máy đánh giá là rất đa dạng cho dù các câu hỏi trắc nghiệm với chỉ một đáp
án đúng vẫn chiếm một số lượng lớn.

Ví dụ
Questionmark là một nhân vật rất lâu đời, rất có tiếng trong lĩnh vực e-Learning,
đặc biệt là về cung cấp phần mềm hỗ trợ tạo các bài kiểm tra. Môi trường tạo bài
thi mà công ty đưa ra có rất nhiều tính năng. Ngoài ra các phần mềm rất dễ dùng,
tốn rất ít thời gian để đào tạo. Điều bạn cần là phương pháp giảng dạy và kiến thức
chuyên môn. Để tìm hiểu kĩ hơn hãy vào website của công ty
www.questionmark.com



Màn hình các loại câu hỏi
khác nhau
Màn hình các câu hỏi
nhìn như thế nào?
Màn hình thông báo kết
quả kiểm tra
2. Mô hình chức năng có sự phân chia thành LMS và LCMS
14


Hình 5. Mô hình chức năng có sự phân chia thành LCMS và LMS


Mô hình chức năng có thể được phân chia thành 2 phần, phần thứ nhất là Hệ
thống quản lý các quá trình học (LMS : Learning Managerment System) và phần
thứ hai là Hệ thống quản lý nội dung các khóa học (LCMS : Learning Content
Managerment System).

2.1. Hệ thống quản lý các quá trình học (LMS)

Quản lý việc đăng ký khóa học của học viên, tham gia các chương trình có sự
hướng dẫn của giảng viên, tham dự các hoạt động đa dạng mang tính tương tác
trên máy tính và thực hiện các bảng đánh giá. Hơn thế nữa, LMS cũng giúp các
15
nhà quản lý và giảng viên thực hiện các công việc kiểm tra, giám sát, thu nhận kết
quả học tập, báo cáo của học viên và nâng cao hiệu quả việc giảng dạy.

Một hệ thống quản lý các quá trình học đầy đủ phải gồm có các tính năng sau
đây (theo Sun Microsystem):


• Quản lý hồ sơ người học (Learner profile manager)
• Quản lý danh mục các đề nghị của học viên(Learning offering catalog manager)
• Công cụ lập kế hoạch học tập (Learning planner)
• Cán bộ đào tạo (Learner registrar)
• Kết nối vào môi trường chuyển giao để chuyển giao các đề nghị học tập
(Connection to delivery environment for delivery of learning offerings)
• Giám sát sự chuyển giao/tham gia (Delivery/participation tracking)
• Giám sát sự đánh giá và kiểm tra (Assessment and testing tracking)
• Các công cụ phân quyền đánh giá (Assessment authoring tools)
• Các bộ liên kết, ghép nối nội dung (Content assembler)

Thực chất, hệ thống quản lý các quá trình học có nhiệm vụ quản lý môi trường
học tập, cung cấp không gian để giúp cho việc tổ chức và giới thiệu nội dung tới
người học, quản lý các kế hoạch học tập, theo dõi, giám sát các hoạt động và kết
quả của quá trình học tập.

Các nhà cung cấp LMS hiện nay đang tiến những bước vững chắc trong việc
mở rông thị trường của họ bằng việc tích hợp các công cụ quản lý truy nhập, công
cụ đánh giá và công cụ chuyển giao, phân phối vào các sản phẩm của họ.

Ví dụ

LUIVT là một sản phẩm của Thụy Điển, được phát triển trong một trường đại học.
Đây là một LMS rất dễ sử dụng, đặc biệt phù hợp với thị trường giáo dục. Hơn
nữa, giao diện rất sáng sủa và có thể điều chỉnh theo ý thích của bạn và LMS hỗ
trợ hơn 10 ngôn ngữ. Để có thêm thông tin hãy vào website của họ.


Màn hình giới thiệu ban đầu Màn hình quản lý các quá

trình học tập
Màn hình quản lý tài
liệu

LearningSpace là một LMS khác. Vài năm trước nó dựa vào chủ yếu các sản
phẩm của Lotus nhưng kể từ khi IBM để ý đến LMS này đã thật sự có nhiều bước
16
đột phá và là một sản phẩm hoàn chỉnh. Hệ thống LMS cung cấp cho bạn nhiều
tính năng với tìm mềm dẻo cao và có tích hợp trong nó các tính năng trao đổi
thông tin tốt. Để có thêm thông tin hãy vào website của sản phẩm.


Màn hình giới thiệu ban đầu Màn hình duyệt nội dung Màn hình theo dõi quá
trình học tập của học
viên


2.2. Hệ thống quản lý nội dung khóa học (LCMS)

Quản lý cách thức cập nhật, quản lý và phân phối khóa học một cách linh hoạt.
Người thiết kế nội dung chương trình học có thể sử dụng LCMS để sắp xếp, chỉnh
sửa và đưa lên các khóa học/chương trình. Hệ thống LCMS sử dụng cơ chế chia sẻ
nội dung khóa học trong môi trường học tập chung, cho phép nhiều người sử dụng
có thể truy cập đến các khóa học và tránh được sự trùng lắp trong việc phân bổ các
khóa học và tiết kiệm được không gian lưu trữ. Cùng với sự ra đời của truyền
thông đa phương tiện, LCMS cũng hỗ trợ các dịch vụ liên quan âm thanh và hình
ảnh, đưa các nội dung giàu hình ảnh và âm thanh vào môi trường học.

Các đặc trưng của một LCMS điển hình gồm có:


• Các công cụ lắp ghép nội dung
• Các công cụ kiểm tra nội dung cũng có thể đi kèm với LCMS
• Công cụ kiểm soát truy nhập được tích hợp để hỗ trợ việc đăng ký, lưu trữ và
phục hồi các đối tượng theo bất kỳ tiêu chuẩn của các công cụ kiểm soát truy
nhập nào.
• Một kho chứa nội dung các siêu dữ liệu (metadata) được kích hoạt (bao gồm
thiết bị lưu trữ với một số chức năng quản lý nội dung và danh mục đề
nghị).
• Một trình quản lý hồ sơ học viên đơn giản, mặc dù các trình này thường rất
trong các sản phẩm LCMS thường rất phức tạp.
• Một hệ thống phân phối nội dung cho phép hệ thống LCMS định vị, phục hồi,
và giúp cho các đối tượng tương ứng phù hợp với môi trường chuyển giao.

Rất nhiều các sản phẩm LCMS tích hợp tất cả các thành phần trên và dựa trên
mô hình thiết kế giáo dục hay các lý thuyết đào tạo. Một công cụ khác có thể được
tích hợp vào các sản phẩm LCMS đó là công cụ phục vụ cho việc chuyển đổi các
17
tài liệu có định dạng StarOffice, PowerPoint, hay Word thành các đối tượng kiến
thức có thể được sử dụng bởi một hệ thống quản lý nội dung.

Việc định nghĩa một hê thống LCMS như là một họ sản phẩm tách rời dường
như là một sự việc kỳ lạ. Mức độ phức tạp xung quanh việc lập kế hoạch học tập
và thương mại hóa các đề nghị thành các quy tắc kinh doanh và các quy trình kinh
doanh trong các sản phẩm LCMS thấp hơn nhiều so với trong các sản phẩm LMS,
nhưng mức độ phức tạp của việc quản lý nội dung và quản lý đối tượng kiến thức
thì lại cao hơn rất nhiều. Và quả thực hiện nay, các nhà cung cấp hệ thống LMS
đang bắt đầu đề nghị tích hợp các sản phẩm LCMS vào sản phẩm LMS còn các
nhà cung cấp các sản phẩm LCMS cũng đã bắt đầu xây dựng các tính năng LMS
cho các hệ thống của họ. Một số nhà cung cấp nội dung (các nhà xuất bản), các
nhà cung cấp các công cụ kiểm soát truy nhập, và các nhà cung cấp môi trường

phân phối nội dung cũng đang phát triển các chức năng của LCMS để tích hợp vào
các sản phẩm của mình. Các sản phẩm LCMS cho phép các công ty tạo ra và tái sử
dụng các đơn vị nội dung số có kích thước nhỏ. Điều này có ý nghĩa rất lớn. Khả
năng tái sử dụng và quản lý các đối tượng kiến thức cung cấp bởi một hệ thống
LCMS giảm thiểu thời gian và giá thành của việc phát triển một đề nghị đào tạo
mới. Loại bỏ các đối tượng kiến thức không cần thiết bằng cách sử dụng lại các
đối tượng tương tự cũng giúp cho việc cập nhật các đối tượng kiến thức dễ dàng
hơn với giá thành thấp hơn.

Vệc sử dụng các cấu trúc siêu dữ liệu chuẩn hóa cũng như các định dạng nhập
xuất chuẩn hóa của các đối tượng kiến thức cũng cho phép các đối tượng kiến thức
được tạo ra bởi nhiều công cụ khác nhau và có thể được chia sẻ bởi nhiều kho
chứa nội dung khác nhau.

Ví dụ về một hệ thống LCMS: Lecano LCMS là một hệ thống LCMS được xây
dựng trên J2EE và chạy được trên nhiều hệ điều hành khác nhau như Solaris,
Linux và Windows. Giao diện của Lecano LCMS được tích hợp với giao diện của
IBM Lotus LMS và IBM Lotus WCL. Trình quản lý nội dung có thể truy nhập vào
Lecano LCMS thông qua giao diện của một trình duyệt Web chuẩn. Các tính năng
điển hình của Lecano LCMS gồm có:

Tập trung hóa các kho chứa nội dung.



Hình 6. Tập trung hóa nội dung
18

Tái sử dụng các đối tượng kiến thức.



Hình 7. Tái sử dụng


Hỗ trợ đa truy nhập.

Hình 8. Đa truy nhập


Quản lý hiệu quả nội dung.


Hình 9. Quản lý nội dung


Có các tính năng che dấu tài nguyên.
19

Hình 10. Che dấu tài nguyên


2.3. Mô hình phối hợp hoạt động giữa LCMS và LMS




Hình 11. Phối hợp hoạt động của LMS và LCMS


20

Theo mô hình này, những người soạn thảo nội dung tương tác với hệ thống
quản lý nội dung để có thể cung cấp các nội dung mới hoặc khai thác các nội
dung cũ và LCMS có nhiệm vụ quản lý nội dung của cả hệ thống đào tạo trực
tuyến.

Người học tương tác với hệ thống thông qua hệ thống LMS vì chức năng chính
của hệ thống LMS là quản lý người học và các hoạt động của hệ thống đào tạo
trực tuyến.

LCMS cung cấp cho LMS nội dung của các bài giảng, ngược lại, LMS cung
cấp cho LCMS các thông tin về tình hình học tập của các học viên của hệ thống,
bài làm, đồ án, … tóm lại là các nội dung của quá trình học tập mà LCMS cần
quản lý.

Những người giảng dạy (giảng viên) thông qua các phòng học ảo để tương tác
với các hệ thống LMS và LCMS, từ đó giao tiếp với các học viên và thực hiện
công việc giảng dạy của mình.


III. Các vn đ chun hóa khi xây dng h thng đào to trc
tuyn.


Nhìn chung, mục đích của các chuẩn giao tiếp giữa các thành phần của một hệ
thống đào tạo trực tuyến là cung cấp các cấu trúc dữ liệu chuẩn và các giao thức
truyền thông cho các đối tượng kiến thức và các dòng công việc giữa các thành
phần. Khi các chuẩn này được kết hợp vào trong các sản phẩm của các nhà cung
cấp, người sử dụng hệ thống đào tạo trực tuyến có thể mua nội dung và các thành
phần cấu thành hệ thống từ nhiều nhà cung cấp khác nhau dựa trên chất lượng và
sự phù hợp cùng với uy tín của các nhà cung cấp, họ sẽ làm việc với nhau hiệ quả

hơn. Vì vậy, việc đưa ra các tiêu chuẩn cho các hệ thống đào tạo trực tuyến là rất
cần thiết. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về các vấn đề cần chuẩn hóa trong
một hệ thống đào tạo trực tuyến.

1. Định nghĩa chuẩn
1.1 Định nghĩa chuẩn

ISO định nghĩa chuẩn như sau :
“ Các thoả thuận trên văn bản chứa các đặc tả kĩ thuật hoặc các tiêu chí chính
xác khác được sử dụng một cách hệ thống nhất như các luật , các chỉ dẫn, hoặc các
định nghĩa của các đặc trưng , để đảm bảo các vật liệu, sản phẩm, quá trình và các
dịch vụ phù hợp với mục đích của chúng”.
21
1.2 Sự khác nhau giữa chuẩn (standard) và đặc tả (specification)

Một lỗi thường gặp là nhầm lẫn giữa thuật ngữ “Chuẩn” (standard) và “Đặc
tả”( specification). IEEE giải thích sự khác biệt này như sau:

- Chuẩn là một đặc tả được phát triển và công nhận bởi các uỷ ban chuẩn được
công nhận trên thế giới. Các tổ chức mà thực hiện công việc kiển như thế này
được gọi là Standards Development Organization(SDO). Ví dụ về các uỷ ban
này là : IEEE, ISO, IEC, ITU, ANSI, BSI, CSA, JIS, DIN và CEN.

- Đặc tả được phát triển bởi các uỷ ban không được công nhận bởi thế giới .
Một vài ví dụ về các uỷ ban như : IEFT(Internet Engineering Task Force),
W3C(World Wide Web Consortium), OMG (Object Management Group).

Có thể tóm tắt sự khác biệt như bảng dưới đây

Đặc tả Chuẩn

Tiến triển nhanh Tiến triển chậm
Mang tính thử nghiệm Là kết luận cuôi cùng
Quy mô rộng Quy mô hẹp
Tham khảo ý kiến của
ít người
Tham khảo ý kiển nhiều
người.

2. Tại sao phải dùng chuẩn trong E-Learning ?

Đối với những người làm việc trong lĩnh vực E-Learning, các chuẩn E-
Learning đóng vai trò rất quan trọng. Không có chuẩn e-Learning chúng ta không
có khả năng trao đổi với nhau và sử dụng lại các đối tượng học tập. Nhờ có chuẩn
toàn bộ thị trường e-Learning (người bán công cụ, khách hàng, người phát triển
nội dung ) sẽ tìm được tiếng nói chung, hợp tác với nhau được cả về mặt kĩ thuật
lẫn phương pháp. LMS (Learning Management System ) có thể dùng được nội
dung phát triển bởi nhiều công cụ khác nhau và nhiều vídụ khác nữa.
22


Hình 12. Không có chuẩn, chúng ta không thể trao đổi thông tin được với nhau

Việc chuẩn hoá e_Learning giúp chúng ta giải quyết được các vấn đề sau:

- Tính truy cập được (Accessibility): Nếu chúng ta sử dụng các hệ thống và nội
dung tuân theo chuẩn thì rất dễ sử dụng nội dung ở mọi nơi bằng cách sử dụng
trình duyệt (browser). Ngay cả các chuẩn không liên quan đến e-Learning như
HTTP cũng giúp cho việc truy cập thông tin dễ dàng hơn nhiều.

- Tính khả chuyển ( Interoperability): Không những chúng ta có khả năng truy

cập nội từ mọi nơi mà thậm chí không phụ thuộc vào công cụ chúng ta dùng
tại nơi đó. Do đó, chúng ta có thể sử dụng các LMS khác nhau để truy cập
vào cùng nội dung. Và ngược lại , với một LMS có thể sử dụng nhiều nội dung
tạo bởi các công cụ khác nhau.

- Tính tương thích ( Adaptability): Các chuẩn cũng giúp việc đưa ra các nội
dung học tập phù hợp với từng cá nhân. Một ví dụ là Meta-data . Nếu chúng ta
sử dụng meta-data giống nhau để mô tả nội dung thì có thể xác định chính xác
những gì học viên cần. Một LMS/LCMS hiểu meta-data sẽ có khả năng hiểu
và sử dụng các thông tin có trong meta-data, từ đó phân phối nội dung phù
hợp với yêu cầu của từng học viên.

- Khả năng sử dụng lại( Re-usability): Chỉ với việc chuẩn hoá chúng ta mới có
thể sử dụng lại nội dung chúng ta phát triển hoặc mua. Điều này giúp chúng ta
có thể sử dụng lại các nội dung cũ khi nâng cấp các công nghệ LMS. Đồng
thời cũng giảm chi phí và thời gian phát triển nội dung mới.

- Tính giảm chi phí (Affordability): Với các lí do trên, rõ ràng là nếu người bán
nội dung và hệ thống quản lí tuân theo chuẩn, hiệu quả học tập sẽ tăng rõ rệt,
thời gian và chi phí giảm. Do đó, ROI(Return On Investment) sẽ tốt hơn nhiều.


23
3. Các chuẩn trong hệ thống E-Learning.

3.1 Tổng quan

Trước tiên, chúng ta xem các loại chuẩn chính và chúng hỗ trợ tính khả chuyển
như thế nào trong hệ thống học tập. Chúng ta nhìn nhận trên quan điểm của hai
phía, phía học viên và phía người sản xuất khoá học.





Hình 13. Mô hình sơ đồ khối trong hệ thống học tập


Người sản xuất khoá học tạo ra các module đơn lẻ hay các đối tượng học tập
sau đó sẽ tích hợp thành một khoá thống nhất.
- Các chuẩn cho phép ghép các khoá học tạo bởi các công cụ khác nhau bởi các
nhà sản xuất khác nhau thành các gói nộ dung (Packages) được gọi là các
chuẩn đóng gói (Packaging Standards). Các chuẩn này cho phép hệ thống
quản lí nhập và sử dụng được các khoá học khác nhau.

- Nhóm chuẩn thứ hai cho phép các hệ thống quản lí đào tạo hiển thị từng bài
học đơn lẻ. Hơn nữa , có thể theo dõi được kết quả kiểm tra của học viên, quá
trình học tập của học viên. Những chuẩn như thế gọi là chuẩn trao đổi thông
tin (Communication Standards), chúng quy định đối tượng học tập và hệ thống
quản lí trao đổi thông tin với nhau như thế nào.

- Nhóm chuẩn thứ ba quy định cách mà các nhà sản xuất nội dung mô tả các
khoá học và các module của mình để hệ thống quản lí có thể tìm kiếm và phân
loại được khi cần thiết. Chúng được gọi là chuẩn Metadata(Metadata
Standards).

- Nhóm chuẩn thứ tư nói đến chất lượng của các module và các khoá
học .Chúng được gọi là chuẩn chất lượng (Quality Standards), kiểm soát toàn
24
bộ quá trình thiết kế cũng như khả năng hỗ trợ khoá học với những người tàn
tật.


Cùng với một số chuẩn khác, các loại chuẩn đã cùng nhau đóng góp tạo ra các
giải pháp e-Learning có chi phí thấp , hiệu quả và mang lại sự thoải mái cho mọi
người tham gia e-Learning.

3.2 Chuẩn đóng gói (Packaging Standard)

a) Chuẩn đóng gói e-Learning bao gồm

- Cách để ghép nhiều đơn vị nội dung khác nhau thành một gói nội dung nhất.
Các đơn vị nội dung có thể là các khoá học, các file HTML, ảnh, multimedia,
style sheet và mọi thứ khác xuống đến một icon nhỏ nhất.

- Gồm thông tin mô tả tổ chức của một khoá học hoặc module sao cho có thể
nhập vào được hệ thống quản lí và hệ thống quản lí có thể hiển thị một menu
mô tả cấu trúc của khoá học và học viên sẽ học dựa trên menu đó.

- Gồm các kĩ thuật hỗ trợ chuyển các khoá học hoặc module từ hệ thống quản lí
này sang hệ thống quản lí khác mà không phải cấu trúc lại nội dung bên trong

b) Chuẩn đóng gói nội dung trong SCORM

Cả SCORM và IMS đều dùng đặc tả IMS Content and Packaging. Bộ công cụ
Microsoft LRN Toolkit hỗ trợ đặc tả này.
25


Hình 14. Đặc tả gói nội dung theo chuẩn SCORM



Cốt lõi của đặc tả Content Packaging là một file manifest. File manifest này
phải được đặt tên là imsmanifest.xml. Như phần đuôi file đã đưa ra, file này phải
tuân theo các luật XML về cấu trúc bên trong và định dạng.
Trong file có 4 phần chính:

- Phần Meta-data ghi các thông tin cụ thể về gói.

- Phần Organization là nơi mô tả cấu trúc nội dung chính của gói. Nó gần như
một bảng mục lục. Nó tham chiếu tới các tài nguyên và các manifest con khác
được mô tả chi tiết hơn ở phần dưới.

- Phần tiếp theo là Resources. Nó bao gồm cấc mô tả chi tiết tới các file khác
được đóng gói cùng trong gói hoặc các file khác ở ngoài (như là các địa chỉ
Web chẳng hạn).

- Sub-manifest mô tả hoàn toàn các gói được gộp vào bên trong gói chính. Mỗi
sub-manifest cũng có cùng cấu trúc bao gồm meta-data, organizations,

×