Tải bản đầy đủ (.doc) (81 trang)

Giải pháp hoàn thiện và phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (392.68 KB, 81 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời cảm ơn
Trong thời gian hơn ba tháng thực tập tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân
hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam, em đã nhận đợc sự giúp đỡ, tạo điều kiện của
Ban lãnh đạo công ty, đặc biệt là sự hớng dẫn nhiệt tình của các anh chị cán bộ
phòng kinh doanh, chính sự giúp đỡ đó đã giúp em hoàn thiện và nắm bắt những
kiến thức thực tế về nghiệp vụ cho thuê tài chính nói riêng cũng nh nghiệp vụ tín
dụng nói chung. Những kiến thức thực tế này sẽ là hành trang ban đầu cho quá
trình công tác, làm việc sau này của em. Vì vậy, em xin bày tỏ lời cảm ơn chân
thành nhất tới Ban lãnh đạo công ty, tới toàn thể cán bộ công ty về sự giúp đỡ tận
tình của các cô chú, anh chị trong thời gian em thực tập vừa qua. Qua đây, em xin
chúc Công ty cho thuê tài chính- Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam ngày
càng phát triển, kính chúc các cô chú, các anh chị luôn thành đạt trên các cơng vị
công tác của mình.
Em cũng xin đặc biệt cảm ơn tình cảm và sự giúp đỡ, hớng dẫn tận tình của
thầy giáo- TS Phạm Quang Trung. Nhờ sự chỉ bảo, hớng dẫn của thầy, em đã có đợc
những kiến thức quý báu về cách thức nghiên cứu vấn đề cũng nh nội dung của
chuyên đề. Nhờ đó, mà em có thể hoàn thành tốt chuyên đề tốt nghiệp này.
Cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn tình cảm và sự truyền thụ kiến thức của
tập thể giáo viên khoa Ngân hàng- Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân trong suốt
quá trình em học tập và nghiên cứu.
Lời nói đầu
Khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc thì các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt. Cộng với sự
biến động, ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực, các doanh
nghiệp ngày càng gặp nhiều khó khăn, vớng mắc mới. Các doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ phá sản hàng loạt, những doanh nghiệp ngấp nghé đứng bên bờ vực phá
sản cũng không ít. Con đờng để tồn tại lúc này là phải nhanh chóng đổi mới máy
móc thiết bị, đổi mới công nghệ để nâng cao chất lợng sản phẩm.
Xuất phát từ thực trạng nền kinh tế nớc ta còn kém phát triển, kỹ thuật công
nghệ lạc hậu với vốn đầu t thấp, các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, manh


mún, cha tạo lập đợc cho mình một cơ sở vật chất kĩ thuật đầy đủ, vững chắc nhất
định để nắm bắt những cơ hội phát triển kinh tế.
Thực tế đó đã đặt ra nhu cầu cấp bách về việc giải quyết vấn đề vốn cho các
doanh nghiệp. Trong điều kiện các nguồn vốn đầu t còn hạn chế, cho thuê tài
chính ra đời với những u điểm vốn có đã trở thành giải pháp kịp thời và đúng đắn
góp phần tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế. Tuy buổi đầu hoạt động cho thuê tài
chính ở Việt nam đã có những thành công nhất định song do mơí đi vào hoạt động
cha lâu nên các công ty cho thuê tài chính còn gặp nhiều khó khăn, bất cập...Do
vậy, việc nghiên cứu hoạt động của nó ra sao, tổ chức nh thế nào, hoàn thiện và
phát triển hoạt động này nh thế nào ... đang là những vấn đề cấp bách, cần đợc
quan tâm nghiên cứu.
Trên cơ sở kiến thức đợc học và nghiên cứu thực tế trong thời gian thực tập
tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam, nhằm
góp phần giải quyết các vấn đề nêu trên, em đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: Giải
pháp hoàn thiện và phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho
thuê tài chính - Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam .
Kết cấu của đề tài gồm ba chơng:

Ch ơng I: Những vấn đề lý luận chung về cho thuê tài chính.
Ch ơng II: Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho
thuê tài chính - Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam.
Ch ơng III: Giải pháp hoàn thiện và phát triển hoạt động cho thuê tài
chính tại Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt
Nam.

Chơng I
Những vấn đề lý luận chung về cho thuê tài chính
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Lịch sử hình thành của hoạt động cho thuê
Cho thuê tài sản là một công vụ tài chính đã đợc sáng tạo ra từ rất sớm trong

lịch sử văn minh nhân loại. Theo các th tịch cổ, các giao dịch thuê tài sản đã xuất
hiện từ năm 2800 trớc công nguyên tại thành phố Sumenan của ngời UR. Các thầy
tu giữ vai trò cùng cho thuê, ngời thuê là những nồng dân tự do. Tài sản đợc đem
ra giao dịch bao gồm: công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa,đất
ruộng, nói chung bao gồm rất nhiều tài sản rất đa rạng.
Trong nền văn minh cổ đại khác nh Hy lạp - La mã hay Ai cập cũng đã xuất
hiện các hình thức thuê để tài trợ cho việc sử dụng đất đai, gia súc, công cụ sản
xuất. Có thể nói rằng, rất nhiều vấn đề mà các giao dịch thuê mua ngày nay gặp
phải đã đợc giải quyết từ nhiều thế kỷ trớc.
Tuy nhiên các giao dịch thuê tài sản thời cổ thuộc hình thức thuê mua kiểu
truyền thống (Traditional Lease) Phơng thức giao dịch của hình thức này tơng tự
nh phơng thức thuê vận hành ngày nay và trong suốt lịch sử hàng ngàn năm tồn tại
cuả nó, đã không có 1 sự thay đổi lớn về tinh chất giao dịch
Phải cho đến thế kỷ 19, hoạt động cho thuê đã có sự giao tăng đáng kể về số
lợng và chủng loại thiết bị, trài sản cho thuê. Đến đầu thập niên 50 của thế kỷ 20,
giao dịch cho thuê đã có những bớc phát triển nhảy vọt, nhất là tại Hoa kỳ.
Nguyên nhân của sự phát triển này là do hoạt động cho thuê đã có những thay đổi
về tính chất của giao dịch. Vào năm 1952, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài
hạn cho các doanh nghiệp, một công ty t nhân của Mỹ là Unitedstates Lrasing
Conpration đã sáng tạo ra nghiệpvụ cho thuê trung và dài hạn (Finanial Lease,
Capitl Lease). Sau đó nghiệp vụ này đã phát triển sang Châu âu và với tên gọi
"Credit Bail". Cũng năm 1960, hợp đồng cho thuê đầu tiên đợc thảo ra ở Anh có
giá trị 18000 bảng Anh.
Bớc sang thập niên 70, nghiệp vụ cho thuê tài chính đã có những bớc phát
triển mạnh mẽ ở Châu á và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cho đến nay, nó đã
trở thành hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn có tính an toàn cao, tiện lợi và hiệu
quả đối với các bêntham gia và đối với toàn xã hội.Theo một thống kê gần đây cho

thấy ngành công nghiệp cho thuê tài chính có giá trịnh trao đổi chiếm khoảng 350
tỷ USD vào năm 1996 và 450 tỷ USD vào năm 2000.

Ngày nay, hoạt động cho thuê tài chính đang phát triển rất mạnh mẽ ở các
quốc gia đang phát triển và tầm quan trọng của hình thức này ngày càng đợc
khẳng định
1.1.2 Các tiêu chuẩn xác định một giao dịch là cho thuê tài chính.
a. Theo Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC).
Hiện nay phần lớn các nớc đa ra các tiêu chuẩn dựa trên các tiểu chuẩn mà
Uỷ ban tiêu chuẩn kế troán quốc tế đã quy định để xác định một giao dịch đợc gọi
là thuê tài chính.
Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế đã đa ra 4 tiêu chuẩn mà bất cứ một giao
thuê nào thoả thuận ít nhất là 1 trong 4 tiêu chuẩn đó đều đợc gọi là thuê tài chính.
Bốn tiêu chuẩn đó nh sau:
1- Quyền sở hữu tài sản đợc giao khi hết thời hạn hợp đồng.
2- Hợp đồng có quy định quyền mặc cả mua.
3. Thời hạn hợp đồng bằng phần lớn thời hạn hoạt động của tài sản.
4. Hiệu giả của các khoản tiền thuê lớn hơn hoặc gần bằng giá trị của tài
sản.
Nguồn: Internationl Accountring Standards Conrittee, IAS 17, 1993/1994,
P236.
b. Theo Họiđồng tiêu chuẩn kế toán tài chính Mỹ (FASB)
ở Mỹ hội đồng tiêu chuẩn kế toán tài chính (FASB) đã quy định 4 tiêu
chuẩn nh sau:
1. Quyền sở hữu của tài sản thuê đợc chuyển giao cho ngời đã thuê khi
chấm dứt hợp đồng thuê
2. Hợp đồng thuê cho phép ngời đợc thuê đợc quyền lựa chọn mua tài sản
thuê với giá thấp hơn ở thời điểm nào đó hoặc đến khi chấm dứt thời hạn thuê.
3. Thời hạn thuê bằng 75% hoặc cao hơn so với đời sống hoạt động ớc tính
của tài sản thuê.
4. Hiện giá của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu là 90% hoặc hơn so
với giá trị tài sản thuê.
c. Theo quyết định 1205 - CT/CĐKT ngày 14/12/1996 của Bộ trởng Bộ Tài chính.


ở Việt Nam, theo quyết định này, một giao dịch đợc gọi là thuê tài chính
phải thoả mãn 1 trong 4 tiêu chuẩn sau:
1. Chuyển sở hữu tài sản thuê cố định thuê đợc chuyển giao cho bên đi thuê
khi hết hạn hợp đồng.
2. Hợp đồng cho phép bên đi thuê lựa chọn mua tài sản cố định thuê với giá
thấp hơn giá trị của tài sản cố định tại một thời điểm nào đó hoặc vào lúc kết thúc
hợp đồng.
3. Ký hợp đồng ít nhất phải bằng 3/4 thời gian hoạt động của tài sản thuê.
4. Giá trị tài sản cố định hiện tại của các khoản chi theo hợp đồng ít nhất
bằng 90% giá trị của tài sản cố định thuê.
Cần lu ý rằng, trong tiêu chuẩn bốn sử dụng cụm từ "giá trị tài sản cố định
hiện tại của các khoản chi" là hoàn toàn tối nghĩa mà thông thờng ngời ta dùng từ
giá trị hiện tại và gọi tắt là hiện giá (The present valuc), có nghĩa là 1 khoản tiền
trong tơng lai đợc quy đổi về hiện tại đợc tính theo lãi suất.
Trong trờng hợp thuê giá trị tơng lai (Future Value) là số tiền mà ngời đi
thuê phải trả theo hợp đồng. Hiện giá của khoản thanh toán tiền thuê đợc tính theo
công thức sau:
f f f
P = ---------- + --------- +... ... + -----------
( 1 + i) (1 + i)
1
(1 + i )
n -1
Trong đó:
p- Hiện giá
f- Giá trị tơnglai tức là tiền thuê phải trả mỗi định kỳ
n- Số định kỳ thanh toán tiền thuê.
d. Theo quy định tạm thời về hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam ban hành theo Nghị
định 64CP của CP ngày 9/10/1997.

Tại điều 1 của quy chế này đã chỉ ra: cho thuê tài chính là một hoạt động tín
dụng trung, dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản
khác. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị và động sản theo yêu cầu của
bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài
sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã đợc 2 bên thoả thuận
và không đợc huỷ bỏ hợp đồng trớc hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê đợc

chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã
thoả thuận trong hợp đồng thuê.
Cũng theo quy chế này, một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn 1
trong những điều kiện sau đây:
1. Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê đợc chuyển quyền
sở hữu tài sản thuê hoặc đợc tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên.
2. Nội dung hợp đồng thuê có quy định: Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê
đợc quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê theo giả danh nghĩa thấp hơn giá trị thực
tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại.
3. Thời hạn cho thuê 1 loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết
để khấu hao tài sản thuê.
4. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hoạt động thuê, ít nhất phải
tơng đơng với giá của tài sản đó trên thị trờng vào thời điểm ký hợp đồng.
Quốc gia
Tiêu thức
IAS Hoa kỳ Anh Hàn Quốc Indonexia Việt nam
- Chuyển giao quyền
sở hữu khi ký kết
thuê hợp đồng
có có có Không quy
định cụ
thể


- Quyền chọn mua có có Không bắt
buộc
Không bắt
buộc
có có
- Quyền huỷ ngang
hợp đồng
Không đợc Không đợc Không đợc Không đợc Không đợc Không đợc
- Thời hạn thuê tỉnh
theo đời sống hữu
dụng của tài sản
thuê
Phần lớn
15% tối
đa không
quá 30
năm
Phần lớn Tài sản ?
5 năm:
60% tài
sản 5
năm: 70%
Tài sản có
đời sống
2 năm
75%
- Hiện giá của các
khoản tiền thuê tối
thiểu so với giá trị
hợp lý của tài sản

thuê
Bằng hoặc
lớn hơn
90% 90%
Trả đủ tiền
thuê
90%
Bảng 1.1: Bảng thống kê tiêu chuẩn để đợc coi là giao dịch cho thuê tài
chính của một số nớc.

1.1.3. Những bên có liên quan trong một giao dịch cho thuê tài chính:
Trong quá trình giao dịch của nghiệp vụ cho thuê trung và dài hạn này thờng
có sự tham gia rất nhiều chủ thể. Đồng thời giữa các bên có sự liên đới trong nhiều
lĩnh vực theo những chức năng và vai trò nhất định.
Thông thờng, một giao dịch cho thuê tài chính thờng có sự tham gia của các
bên sau đây, ngời cho thuê (công ty Leasing hay nhà chế tạo có trực tiếp cho thuê
sản phẩm của họ ngời thuê (các doanh nghiệp hay thể nhân), ngời cho vay (ngân
hàng hay các chế định tài chính khác), ngời cung cấp (nhà chế tạo thiết bị hay nhà
cung cấp). Sau đây, ta sẽ đi vào xem xét từng đối tợng trên.
a. Ngời cho thuê (lessor).
Ngời cho thuê là nhà tài trợ vốn cho ngời thuê, là ngời sẽ thanh toán toàn bộ
giá trị mua bán thiết bị theo thoả thuận giữa ngời thuê và nhà cung cấp và là chủ
sở hữu tài sản về mặt pháp lý. Trong trờng hợp cho thuê tài sản của chính họ thì
ngời cho thuê cũng đồng thời là nhà cung cấp thiết bị.
Theo điều 2 của quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho
thuê tài chính tại Việt Nam thì bên cho thuê là Công ty cho thuê tài chính có t
cách pháp nhân, đợc cấp giấy phép hoạt động theo quy chế này.
Công ty cho thuê tài chính là một loại công ty tài chính, hoạt động chủ yếu
là cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác.
Công ty cho thuê tài chính đợc thành lập và hoạt động tại Việt Nam bao

gồm:
- Công ty cho thuê tài chính do ngân hàng, Công ty tài chính hoặc ngân
hàng, công ty tài chính cùng với doanh nghiệp khác của Việt Nam thành lập.
- Công ty cho thuê tài chính liên doanh giữ bên Việt Nam gồm một hoặc
nhiều ngân hàng, công ty tài chính, doanh nghiệp khác với bên nớc ngoài gồm một
hoặc nhiều ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức
tài chính quốc tế.
- Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nớc ngoài của ngân hàng công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính nớc ngoài.
b. Ngời thuê (Lessee).
Ngời thuê là khách hàng thuê thiết bị, tài sản của ngời cho thuê hay là ngời
nhận sự tài trợ tín dụng của công ty cho thuê tài chính. Ngời thuê cũng là ngời có

quyền sử dụng, hởng dụng những lợi ích do tài sản đem lại và có trách nhiệm trả
những khoản tiền thuê theo thoả thuận.
Theo quy định tại quy chế tạm thời về tổ chức hoạt động của các công ty
cho thuê tài chính ở Việt Nam, bên thuê (ngời thuê) là các doanh nghiệp đợc
thành lập theo pháp luật Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê theo mục đích
kinh doanh hợp pháp của mình, hiện nay bên thuê bao gồm doanh nghiệp nhà nớc,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài, doanh nghiệp t nhân (sau đây gọi chung là doanh nghiệp).
c. Nhà cung cấp hay nhà chế tạo (Manufacturer or Supplier).
Nhà cung cấp là ngời cung cấp tài sản, thiết bị theo thoả thuận với ngời thuê
và các điều khoản mua bán thiết bị đã ký kết với ngời cho thuê.
d. Ngời cho vay (lender).
Ngời cho vay là một định chế tài chính hay là 1 ngời nào đó cho ngời cho
thuê vay một phần của khoản tiền mua sắm thiết bị để cho thuê.
1.1.4. Những yếu tố quan trọng có ảnh hởng tới hoạt động cho thuê.
a. Môi trờng luật pháp:
- Hệ thống luật pháp: Là những văn bản luật chi phối cho hoạt động cho

thuê và các hoạt động có liên quan, quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi
của các bên trong hoạt động cho thuê. Những văn bản này tạo ra môi trờng pháp lý
để các giao dịch cho thuê hoạt động đem lại hiệu quả kinh tế xã hội.
- Các cơ quan quản lý nhà nớc:
Là các cơ quan công quyền nh Ngân hàng nhà nớc, cơ quan công chứng,
Toà án, cơ quan thuế. Những cơ quan này có trách nhiệm giám sát và kiểm soát
việc tuân thủ các quy định của pháp luật. Đồng thời công nhận tính hợp pháp của
giao dịch cho thuê, quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản và xét xử, giải quyết các
tranh chấp.
Hoạt động cho thuê cũng nh hoạt động tín dụng khác rất nhạy cảm với
những thay đổi của môi trờng pháp lý. Do đó, môi trờng pháp lý vừa có tác dụng
thúc đẩy hoạt động cho thuê, nhng đồng thời chính nó cũng có thể là nguyên nhân
ngăn cản sự phát triển của hoạt động này. Do vậy, nó có tính hai mặt, bởi vậy sau
khi công ty tài chính quốc tế (IFC) nghiên cứu cơ sở pháp lý đa đến thành công

của dịch vụ cho thuê ở một số nớc đã rút ra một số vấn đề cơ bản có tính nguyên
tắc sau:
+ Pháp luật về hợp đồng kinh tế và sở hữu tài sản:
Hệ thống luật pháp của nớc đó phải định nghĩa rõ ràng về bản chất các giao
dịch cho thuê để bảo vệ lợi ích hợp pháp của ngời thuê và ngời cho thuê. Đa ra các
phơng thức cho thuê cũng là điều cần thiết. Hơn nữa, cần phan biệt rõ ràng giữa
cho thuê với các giao dịch thơng mại và các hình thức tín dụng khác để tránh cho
hoạt động này phải tuân thủ những điều khoản bất lợi trong luật pháp điều chỉnh
các hoạt động đó.
+ Pháp luật về thuế:
Luật thuế phải có các tham chiểu và các điều khoản cụ thể về nghĩa vụ thuế
và u đãi thuế đối với cả ngời thuê và ngời cho thuê. Điều này giúp ngời thuê xác
định đợc chi phí so với việc vay vốn ngân hàng để mua tài sản. Về phía ngời cho
thuê, chi phí của họ phải đợc u đãi tơng đối mới có thể thúc đẩy các tổ chức tín
dụng đầu t vào lĩnh vực này.

+ Pháp luật về khuyến khích đầu t:
Hoạt động của công ty cho thuê làm gia tăng đáng kể đầu t trong nớc nên
luật khuyến khích đầu t nên áp dụng cho hoạt động này. Luật phải thể hiện thái độ
bình đẳng đối với việc mua máy móc, thiết bị và thuê máy móc thiết bị.
+ Pháp luật về công ty cho thuê:
Thông thờng trong giai đoạn đầu thì chỉ có việc công ty tài chính và ngân
hàng mới đợc thực hiện nghiệp vụ cho thuê. Công ty cho thuê nên là công ty độc
lập hay phụ thuộc, địa vị pháp lý của nó ra sao? ngoài ra là các quy định cụ thể về
hoạt động cụ thể của các công ty này.
Môi trờng luật pháp là nhân tố ảnh hởng quan trọng tới hoạt động cho thuê.
Những thay đổi về mặt pháp lý nh sửa đổi quy định và hợp đồng, luật thuê, các
quy định về khấu hao v.v... có thể dẫn tới phá vỡ hợp đồng hoặc đem lại sự thua lỗ
cho ngời cho thuê và cả ngời thuê.
b. Môi trờng kinh tế:
- Môi trờng kinh tế vĩ mô: Hoạt động tín dụng gắn liền với môi trờng kinh
tế vĩ mô nh chính sách tiền tệ, chính sách đầu t, sự tăng trởng kinh tế... Một thay

đổi nhỏ của môi trờng kinh tế vĩ mô có thể dẫn tới những thay đổi rất lớn trong
ngành công nghiệp cho thuê tài sản.
- Môi trờng kinh tế vi mô: Tác động chủ yếu của môi trờng kinh tế vi mô là
sự cạnh tranh trong ngành công nghiệp cho thuê tài sản. ở mức độ phát triển cao,
hoạt động cho thuê tài sản chịu sự cạnh tranh rất lớn, cạnh tranh trong nội bộ
ngành, cạnh tranh với các hình thức tài trợ khác. Tại nhiều nớc phát triển, vào
những năm mới thập kỷ 80, để duy trì khối lợng kinh doanh lớn và khả năng cạnh
tranh, nhiều công ty cho thuê đã tiến hành các giao dịch cho thuê với mức lãi suất
phi thực tế và những rủi ro tín dụng rất cao v.v.. dẫn đến hậu quả là vào những
năm đầu của thập kỷ 90, nhiều công ty đã rơi vào tình trạng phá sản.
Những rủi ro đối với hoạt động cho thuê liên quan đến môi trờng kinh tế th-
ờng xuyên xảy ra. Có thể kể tới nh:
+ Rủi ro do môi trờng kinh doanh đem lại: Do tình hình biến động xấu của

nền kinh tế dẫn tới đình trệ sản xuất và làm giảm nhu cầu thuê thiết bị, máy móc
phục vụ sản xuất.
+ Rủi ro do thay đổi tỷ giá (Exchange rate risk): Do sự thay đổi tỷ giá hối
đoái theo hởng bất lợi cho ngời cho thuê (ngời thuê) đối với loại thiết bị nhập khẩu
hay cho thuê quốc tế.
+ Rủi ro do thay đổi lãi suất (Interest rate risk): Do sự biến động lãi suất
trên thị trờng vốn dẫn đến có sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất tài
trợ, gây bất lợi cho ngời cho thuê (hay ngời thuê).
c. Môi trờng kỹ thuật công nghệ:
Một số hình thức giao dịch cho thuê chuyên biệt tơng đối nhạy cảm với
những thay đổi trong giá cả và tính năng kỹ thuật của tài sản cho thuê (máy tính,
phơng tiện giao thông v.v...). Trong hoạt động cho thuê, tài sản cho thuê thờng đợc
cung cấp thông qua nhà chế tạo hay nhà cung cấp. Vì thế, để đảm bảo cho một
giao dịch cho thuê diễn ra thuận lợi, cả ngời cho thuê và ngời đi thuê cần phải có
những kiến thức nhất định về đặc điểm kỹ thuật, công nghệ, giá cả của tài sản cho
thuê.
Những rủi ro đối với hoạt động cho thuê liên quan tới môi trờng kỹ thuật -
công nghệ có thể kể tới nh:
- Tài sản cho thuê đợc thu hồi không thể cho thuê tiếp hay bán chúng.
+ Tài sản tồn tại những khuyết tật tiềm ẩn.

+ Tài sản đã lỗi thời, không thể tái chế nâng cấp.
+ Tài sản bị h hỏng, mất phẩm chất.
- Tài sản do nhà cung cấp giao cho ngời thuê không đúng theo hợp đồng, là
tài sản không đợc phép kinh doanh.
Nhìn chung, những rủi ro liên quan đến tài sản thuê diễn ra rất đa dạng, đòi
hỏi cả ngời cho thuê và ngời thuê cần nghiên cứu, đánh giá chính xác để có biện
pháp phòng ngừa, hạn chế.

1.2. Các ph ơng thức cho thuê tài chính:

1.2.1. Cho thuê tài chính có sự tham gia của hai bên (hợp đồng cho thuê trực tiếp).
Theo phơng thức này, trớc khi nghiệp vụ cho thuê xuất hiện, tài sản đợc
dùng để tài trợ đã thuộc quyền sở hữu của ngời cho thuê bằng cách mua tài sản
hoặc tự xây dựng.
Phơng thức tài trợ này thờng do các công ty kinh doanh bất động sản và
công ty sản xuất máy móc, thiết bị thực hiện, nh các nhà đầu t xây dựng cao ốc
văn phòng, các chung c, sau đó ký các hợp đồng cho thuê với khách hàng. Các tổ
chức tài chính rất ít áp dụng phơng thức tài trợ này.
Hình thức tài trợ này có những đặc điểm căn bản sau:
- Hàng hoá thờng là những loại tài sản có giá trị không quá lớn và thuộc các
loại máy móc thiết bị.
- Chỉ có 2 bên tham gia trực tiếp vào giao dịch: Ngời cho thuê và ngời thuê.
- Vốn tài trợ hoàn toàn do ngời cho thuê đảm nhiệm.
- Ngời cho thuê có thể mua lại thiết bị khi chúng bị lạc hậu.
Phơng thức tài trợ này có sự tham gia của 2 bên đợc thực hiện nh sau:
Sơ đồ 1: Cho thuê tài chính có sự tham gia của hai bên
(2a)
(1)
(2b)
(3)
(1) Ngời cho thuê và ngời đi thuê ký hợp đồng thuê.
(2a) Ngời cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho ngời đi thuê.
(2b) Ngời cho thuê giao tài sản cho ngời đi thuê.

Ng ời cho thuê Ng ời đi thuê
(3) Theo định kỳ ngời đi thuê thanh toán tiền thuê cho ngời cho thuê.
Ngoài những đặc điểm chung của phơng thức cho thuê, loại hợp đồng này
còn có những đặc điểm chính nh sau:
Ngoài những đặc điểm chung của phơng thức cho thuê, loại hợp đồng này
còn có những đặc điểm chính nh sau:

Ngời cho thuê Ngời thuê
1. Sử dụng các loại máy móc, thiết bị
của chính họ để cho thuê
1. Thuê máy móc, thiết bị từ ngời có tài
sản đó
2. Đảm nhiệm toàn bộ vốn tài trợ 2. Ký kết với nhà cung cấp 1 phụ kiện
hợp đồng về cung cấp
3. Cung cấp các loại phụ tùng và dịch
vụ bảo tín cùng với thiết bị theo một
hợp đồng phụ.
3. Trả tiền thuê theo định kỳ và trả tiền
phụ tùng và dịch vụ
4. Nhận các khoảng tiền thuê những
khoản tiền dịch vụ thu hợp đồng phụ
4. Bán lại thiết bị khu chúng bị lạc hậu
và nhận thuê thiết bị mới
5. Nhận lại tài sản đã lỗi thời và cung
cấp thiết bị thay thế.
1.2.2. Cho thuê tài chính có sự tham gia của ba bên:
Theo hình thức này, ngời thuê sẽ thoả thuận với nhà cung ứng về các điều
khoản mua tài sản mình có nhu cầu và sau đó ngời cho thuê sẽ tiến hành mua tài
sản để cho ngời cho thuê thuê. Hình thức này thờng đợc các công ty cho thuê tài
chính sử dụng để tài trợ cho các doanh nghiệp. Rõ ràng, theo phơng thức này, ngời
cho thuê chỉ thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của ngời đi thuê và đã đợc hai
bên thoả thuận theo hợp đồng thuê. Quy trình tài trợ có sự tham gia của ba bên,
bao gồm: Ngời cho thuê, ngời đi thuê và ngời cung cấp.

Sơ đồ 3: Tài trợ cho thuê tài chính có sự tham gia của ba bên:
2c 2a 1b 1a 2d 3
1c

2b
1a. Ngời cho thuê và ngời đi thuê ký hợp đồng thuê tài sản.
1b. Ngời cho thuê và ngời cung cấp ký hợp đồng mua tài sản.
1c. Ngời cung cấp và ngời đi thuê ký hợp đồng bảo hành bảo dỡng 9có thể
ngời cho thuê ký với ngời cung cấp về việc bảo hành và bảo dỡng cho ngời đi
thuê).
2a. Ngời cung cấp lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho ngời cho thuê.
2b. Ngời cung cấp chuyển giao tài sản cho ngời đi thuê.
2c. Ngời cho thuê thanh toán tiền mua tài sản.
2d. Ngời cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho ngời đi thuê.
3. Theo định kỳ ngời đi thuê thanh toán tiền thuê cho ngời cho thuê.
Phơng thức tài trợ có sự tham gia của ba bên còn đợc gọi là phơng thức thuê
mua thuần (net lease) là phơng thức cho thuê tài chính đợc áp dụng phổ biến nhất,
vì có các u điểm sau:
- Ngời cho thuê không phải mua tài sản trớc và nh vậy sẽ làm cho vòng quay
của vốn nhanh hơn vì không phải dự trữ hàng tồn kho.
- Việc chuyển giao tài sản đợc thực hiện trực tiếp giữa ngời cung cấp và ng-
ời đi thuê và giữa họ cũng chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng hoạt động của
tài sản, cũng nh thực hiện việc bảo hành và bảo dỡng tài sản. Nh vậy ngời cho thuê
có thể trút bỏ gánh nặng về tình trạng hoạt động của tài sản.

Ng ời cho thuê
Ngời cung cấp
(Supplier)
Ngời đi thuê
( Lessee)
- Ngời cho thuê không trực tiếp nhận tài sản rồi sau đó chuyển giao cho ngời
đi thuê và nh vậy sẽ hạn chế đợc rủi ro liên quan đến việc từ chối nhận hàng của
ngời đi thuê, vì do có sự nhầm lẫn về mặt kỹ thuật.
Xuất phát từ các u điểm trên đây mà các ngân hàng và các tổ chức tài chính

đã áp dụng chủ yếu phơng thức này để tài trợ cho các doanh nghiệp, đặc biệt đối
với cho thuê thiết bị. Trên thế giới 80% hợp đồng cho thuê tài chính áp dụng theo
phơng thức này.
* Các phơng thức tài trợ cho thuê tài chính đặc biệt.
1.2.3. Tái cho thuê (lease back):
Tái cho thuê hay còn gọi là bán và thuê lại (Sale and lease back) là một dạng
đặc biệt của phơng thức cho thuê có sự tham gia của hai bên. Trong hoạt động
kinh doanh có nhiều doanh nghiệp thiếu vốn lu động để khai thác tài sản cố định
hiện có, nhng lại không đủ uy tín để vay vốn lu động ở các ngân hàng. Trong tr-
ờng hợp đó họ buộc phải bán lại một phần tài sản cố định cho ngân hàng hoặc
công ty tài chính, sau đó thuê lại tài sản đó để sử dụng và nh vậy sẽ có thêm nguồn
tài chính để đáp ứng nhu cầu vốn lu động. Đôi lúc ngâ hàng cũng áp dụng phơng
thức tài trợ này nh là 1 biện pháp giải quyết nợ quá hạn mà không cần phải dùng
đến biện pháp thanh lý tức là đề nghị tuyên bố phá sản doanh nghiệp khi lâm vào
tình trạng khó khăn tài chính. Cần lu ý rằng khu dùng phơng thức này nh là một
biện pháp giải quyết nợ quá hạn ngân hàng còn kèm theo các biện pháp nh kiểm
soát các khoản thu, khuyến cáo về việc bán các tài sản cha cần dùng, tham gia vào
quản trị doanh nghiệp.
Phơng thức tái cho thuê áp dụng trong hai trờng hợp trên đây là sự chuyển
hoá từ cho vay ngắn hạn sang tài trợ trung và dài hạn. Nhng tại sao ngân hàng lại
chấp nhận tài trợ trung và dài hạn hơn là cho vay ngắn hạn? vì cho thuê tài chính
là kỹ thuật cấp tín dụng ít rủi ro, do đó ngân hàng có thể sử dụng nó để thay thế
cho vay ngắn hạn khi mà không còn cách nào khác để giúp cho xí nghiệp có thể
giải quyết đợc khó khăn về tài chính. Nếu không giải quyết bằng cách này doanh
nghiệp sẽ lâm vào tình trạng phá sản và trong trờng hợp đó ngân hàng có thể bị
thiệt hại lớn hơn.

Sơ đồ 3: Tái cho thuê.
2a
2b

1a
1b
2c
3
1a) Ngời cho thuê (ngân hàng hoặc công ty tài chính) ký hợp đồng mua tài
sản của doanh nghiệp).
1b) Ngời cho thuê và ngời đi thuê ký hợp đồng thuê.
2a) Doanh nghiệp lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho ngân hàng.
2b) Ngân hàng lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho doanh nghiệp đ-
ợc phép sử dụng tài sản.
2c) Ngân hàng trả tiền mua tài sản cho doanh nghiệp là biện pháp giải quyết
nợ quá hạn thì khoản thanh toán này đợc thu hồi khoản nợ quá hạn.
3. Theo định kỳ doanh nghiệp thanh toán tiền thuê cho ngân hàng.
1.2.4. Hợp đồng cho thuê thực hiện kết (Syndicate Leases):
Hợp đồng cho thuê liên kết là loại hợp đồng gồm nhiều bên tài trợ cho một
ngời thuê. Sự liên kết này có thể xảy ra theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc tuỳ
theo tính chất của loại tài sản hay khả năng tài chính của các nhà tài trợ. Trong tr-
ờng hợp tài sản có giá trị lớn, nhièu định chế tài chính hay các nhà chế tạo cùng
nhau hợp tác để tài trợ cho ngời thuê tạo thành sự liên kết theo chiều ngang. Còn
đối với trờng hợp các định chế tài chính hay các nhà chế tạo lớn giao tài sản của
họ cho chi nhánh của họ thực hiện giao dịch tài trợ cho khách hàng thì hình thành
sự liên kết theo chiều dọc. Các bớc và đặc điểm trong giao dịch với ngời thuê của
loại hợp đồng này không có khác biệt lớn so với phơng thức cho thuê điển hình.

Ngời cho thuê
( NH hoặc công
ty tài chính )
Ngời đi thuê
( doanh nghiệp)
Sơ đồ 4: Hợp đồng cho thuê liên kết.

Ngời cho thuê Ngời thuê
1. Có thể là sự liên kết giữa các định
chế tài chính và các nhà sản xuất hay
giữa công ty mẹ và các chi nhánh
1. Là một doanh nghiệp nhận tài sản
thuê
2. Các loại tài sản dùng trong giao dịch
thờng là những loại có giá trị cao
2. Thực hiện các nghĩa vụ trả tiền thuê,
bảo quản tài sản, chịu rủi ro, mua bảo
hiểm... nh trong phơng thức cho thuê
3. Các công ty con chuyên doanh cho
thuê có trình độ chuyên môn cao,
chuyên sâu trong từng lĩnh vực công
nghệ hay loại thiết bị cụ thể
4. Các đặc điểm khác tơng tự phơng
thức cho thuể.
1.2.5. Hợp đồng cho thuê bắc cầu:
Đây là hình thức đặc biệt của phơng thức cho thuê tài chính, chỉ mới đợc
phổ biến trong thời gian gần đây, xuất phát từ thực tế là các công ty Leasing có
những hạn chế về nguồn vốn không đủ khả năng tự tài trợ cho khách hàng.
Theo thể thức cho thuê này, ngời cho thuê đi vay để mua tài sản cho thuê từ
một hay nhiều ngời cho vay nào đó. Theo luật pháp của 1 số quốc gia khoản tiền
vay này không đợc vợt quá 80% tăng giá trị tài sản tài trợ. Vật thế chấp cho khoản
vay này là quyền sở hữu tài sản cho thuê và các khoản tiền thuê mà ngời thuê sẽ

Các định
chế tài
chính
Các nhà

chế tạo
Các chi
nhánh
Quyền sở hữu tài
sản
Tiền thuê
Các mối quan hệ t-
ơng tự thuê mua tài
chính
Ngời thuê
trả trong tơng lai. Hình thức cho thuê này đem lại lợi nhuận và mở rộng khả năng
tài trợ ra khỏi phạm vi nguồn vốn của ngời cho thuê.
Sơ đồ 5: Thoả thuận cho thuê bắc cầu:
Ngời cho vay Ngời cho thuê Ngời thuê
1. Cấp tín dụng trung và
dài hạn cho ngời cho thuê
1. Sở hữu tài sản cho thuê
và nhận đợc sự miễn
giảm thuế
1. Trả tiền thuê tài sản
cho ngời cho thuê
2. Nhận tiền trả nợ vay
bằng tiền thuê do ngời
thuê trả theo yêu cầu của
ngời cho thuê
2. Mợn đối ứng bằng
phần lớn giá trị tài sản và
bảo đảm khoản nợ vay
bằng cả tài sản cùng với
các khoản tiền cho thuê

tài sản đó
2. Ngoài ra không có sự
khác biệt so với một giao
dịch cho thuê điển hình.
3. Khoản cho vay đợc
bảo đảm bằng tài sản và
tiền thuê
3. Trả nợ bằng tiền thuê
tài sản. Phần tiền thuê vợt
số tiền vay đợc giữ lại
Hình thức cho thuê này thờng đợc sử dụng trong những giao dịch cho thuê
đòi hỏi một lợng vốn đầu t lớn, chẳng hạn cho thuê một máy bay thơng mại hay
một tàu chở hàng hoặc 1 tổ hợp chuyên ngành lớn v.v..

Ngời cho vay
Tiền
trả
nợ
Tiền
cho
vay
Ng ời cho thuê Tài sản
Tiền thuê
Ng ời thuê
VD: Trong thời gian qua Tổng công ty hàng không Việt Nam đã thực hiện
một số hợp đồng theo phơng thức cho thuê này với các tổ chức tài chính nớc
ngoài. Năm 1989 hãng hàng không Việt Nam đã thuê mua hai máy bay hành
khách ATR 72 với giá 20 triệu USD của Công ty Stook Leasing LTD và công ty
này lại đợc 4 ngân hàng của Pháp cho vay để thực hiện hợp đồng thuê này với
hãng hàng không Việt Nam.

Cần chú ý rằng trong hình thức cho thuê này, vốn vay thờng chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng số tiền tài trợ, ngời cho thuê vẫn đóng vai trò chủ sở hữu tài sản cho
thuê và thông thờng ngời cho thuê phải thế chấp chính tài sản mà họ đã cho thuê
cho ngời cho vay. Hình thức thế chấp tài sản cho thuê này sẽ làm giảm nhẹ rủi ro
cho ngời cho vay.
1.2.6. Cho thuê giáp lng (Under lease):
Mặc dù phơng thức cho thuê có thể tài trợ đợc cho cả nhng doanh nghiệp mà
ngân hàng hoặc công ty tài chính cha có độ tin tởng cao, nhng không có nghĩa là
tài trợ cho bất cứ ai. Vì vậy trong nhiều trờng hợp ngời cần tài sản muốn đi thuê
nhng không thể thực hiện trực tiếp từ những ngời cho thuê chuyên nghiệp. Lý do
có thể rất nhiều, có thể là ngời đó đã không thực hiện những hợp đồng kinh tế
trong quá khứ (hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng thu mua), có thể là hoạt động
yếu kém theo cách đánh giá của các tổ chức tài chính hoặc đơn giản là vì doanh
nghiệp đó cha có đợc ngời cho thuê biết đến, nh những công ty cho thuê nớc ngoài
họ chỉ chấp nhận tài trợ cho những công ty lớn của Việt Nam. Trong những trờng
hợp nh thế đòi hỏi phải áp dụng phơng thức cho thuê giáp lng.
Cho thuê giáp lng là phơng thức mà trong đó, thông qua sự đồng ý của ngời
cho thuê, ngời đi thuê thứ nhất cho ngời đi thuê thứ hai thuê lại tài sản đó. Trên
thực tế thực chất ngời đi thuê thứ nhất chỉ là ngời trung gian giữa ngời cho thuê và
ngời đi thuê thứ hai, nhng về mặt pháp lý thì ngời đi thuê thứ nhất phải chịu trách
nhiệm về việc thực hiện hợp đồng với ngời cho thuê. Với phơng thức cho thuê này,
mặc dù doanh nghiệp không đủ điều kiện để trực tiếp thuê mua với ngời cho thuê,
vẫn có thể thuê đợc tài sản để sử dụng cho sản xuất kinh doanh.
Sơ đồ 6: Cho thuê giáp lng.
3b 1a 2

Ng ời cho thuê
3a
1b
1a) Ngời cho thuê và 1 ngời đi thuê I ký hợp đồng thuê mua.

1b) Ngời đi thuê thứ I và ngời đi thuê thứ II ký hợp đồng thuê mua.
2. Ngời cho thuê chuyển giao tài sản cho ngời đi thuê thứ II.
3a) Ngời đi thuê thứ II trả tiền thuê cho ngời thuê thứ I.
3b) Ngời đi thuê thứ I trả tiền thuê cho ngời thuê.
Cần lu ý rằng tiền thuê mà ngời đi thuê thứ hai phải trả thờng cao hơn tiền
thuê mà ngời đi thuê thứ nhất trả cho ngời cho thuê. Phần chênh lệch giữa hai
khoản tiền thuê đó ngời đi thuê thứ I đợc hởng, coi nh là hoa hồng trách nhiệm.
Ngoài ra, thê giáp lng cũng áp dụng trong trờng hợp ngời đi thuê thứ I đã thuê tài
sản và sử dụng tài sản đó, nhng sau đó không có nhu cầu sử dụng thì tài sản đó,
nhng sau đó không có nhu cầu sử dụng thì có thể cho ngời khác thuê lại với sự
đồng ý của ngời cho thuê.
1.3. Phân biệt cho thuê tài chính với thuê vận hành, tín dụng ngân hàng và
mua trả góp.
1.3.1. Phân biệt cho thuê tài chính và cho thuê vận hành:
Cho thuê tài chính và cho thuê vận hàng đều là các hình thức của hoạt động
cho thuê tài sản. Hai hình thức này đều nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu về máy
móc, thiết bị mà không cần bên thuê phải bỏ ra toàn bộ số tiền mua ngay lập tức.
Nhng xét về bản chất hai hình thức cho thuê tài sản này có sự khác biệt rõ ràng.
- Thời gian cho thuê vận hành thờng rất ngắn so với toàn bộ đời sống hữu
ích của tài sản và khi ngời thuê muốn chấm dứt hợp đồng thuê, họ chỉ cần báo trớc
với ngời cho thuê. Trong khi đó, thời gian cho thuê tài chính chiếm phần lớn đời
sống hữu ích của tài sản thuê đồng thời hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng
không đợc huỷ ngang.
- Phí thuê vận hành thờng lớn hơn phí thuê tài chính do trong thuê vận hành
ngời cho thuê phải chịu mọi chi phí vận hành, chi phí về rủi ro liên quan đến tài
sản mà không phải do bên thuê gây ra.

Ng ời đi thuê II
- Đối với cho thuê vận hành thông thờng ngời đi thuê chỉ đợc lựa chọn tài
sản thuê trên cơ sở những tài sản mà bên cho thuê có sẵn. Nhng đối với cho thuê

tài chính, ngời thuê có thể tự ý mình lựa chọn những tài sản thuê theo nhu cầu của
mình rồi sau đó thoả thuận với ngời cho thuê.
-Theo hình thức cho thuê vận hành, tài sản thuê không đợc ghi chép vào sổ
sách kế toán của ngời thuê mà đợc ghi nh một khoản chi phí bình thờng khác.
Trong hợp đồng cho thuê vận hành không quy định về chuyển giao quyền sở hữu
tài sản khi kết thúc thời hạn thuê nó không phải là một giải pháp tài trợ cho việc
mua tài sản trong tơng lai. Do vậy thuê vận hành không đợc coi là hình thức tài trợ
tín dụng cho các doanh nghiệp để nâng cao năng lực sản xuất. Nhng đối với cho
thuê tài chính trong hợp đồng quy định khi kết thúc thời hạn theo giá trị hợp lý
hay giá tợng trng tuỳ theo sự thoả thuận đủ dự liệu trớc trong hợp đồng hoặc ngời
thuê cũng có thể tiếp tục thuê tài sản hay làm đại lý bán tài sản đó theo sự uỷ
quyền của ngời cho thuê. Cho nên, cho thuê tài chính đã trở thành một hình thức
tài trợ tín dụng trung và dài hạn cho các doanh nghiệp. Nh vậy, ta có thể thấy cho
thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp có thể lựa chọn đợc công nghệ mà mình
mong muốn, để từ đó nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Bảng 1.2: Sự khác nhau giữa cho thuê tài chính và cho thuê vận hành.
Cho thuê tài chính Cho thuê vận hành
1. Thời hạn thuê:
Cho thuê tài chính có thời hạn dài so
với thời gian hữu dụng của tài sản,
thông thờng bằng 2/3 thời gian hữu
dụng của tài sản.
- Thời hạn cho thuê ngắn chiếm 1 tỷ lệ
nhỏ so với thời gian hữu dụng của tài
sản.
2. Mức thu hồi vốn của một hợp đồng
thuê:
- Thông thờng mức vốn gốc đợc thu hồi
gần bằng với giá trị tài sản (tổng số tiền
tài trợ), đặc biệt đối với thuê động sản.

- Mức vốn đợc thu hồi nhỏ hơn nhiều
so với giá trị tài sản.
3. Sự huỷ ngang:
- Hợp đồng thuê tài chính thờng không
đợc phép huỷ ngang.
- Hợp đồng thuê vận hành có thể đợc
phép huỷ ngang
4. Trách nhiệm bảo d ỡng, bảo hiểm và

đóng thuế tài sản
- Ngời đi thuê phải thanh toán tiền bảo
dỡng, đóng bảo hiểm và thuế tài sản
- Ngời cho thuê thanh toán tiền bảo
hiểm, bảo dỡng và thuế tài sản
5. Chuyển quyền sở hữu hoặc bán tài
sản:
- Trong hợp đồng cho thuê tài chính hai
bên có thể thoả thuận sẽ chuyển quyền
sở hữu tài sản hoặc bán lại tài sản sau
khi kết thúc hợp đồng.

- Không có thoả thuận chuyển quyền sở
hữu hoặc bán lại tài sản trong hợp đồng
thuê thông thờng.
6. Trách nhiệm về rủi ro liên quan đến
tài sản:
- Ngời đi thuê chịu phần lớn các rủi ro,
kể cả những rủi ro không phải do mình
gây ra.
- Ngời cho thuê chịu phần lớn rủi ro chỉ

trừ những rủi ro do lỗi của ngời đi thuê
gây ra.
7. Cung ứng tài sản thuê:
- Tài sản thuê thờng do ngời thuê đặt
hàng, giao nhận và sử dụng.
- Tài sản thuê thờng do ngời cho thuê
cung ứng.
Những điểm khác biệt trên đây thực chất là khác biệt mang tính phổ biến
của hai phơng thức cho thuê nói trên. Tuy nhiên, trong đời sống thực tế, ngời ra có
thể vận dụng hết sức linh hoạt và đa dạng. Điều đó phụ thuộc vào các điều kiện
chủ quan và khách quan của các chủ thể tham gia vào các giao dịch thuê tài sản.
Chính vì vậy, đôi lúc cũng khó phân biệt đợc 1 giao dịch, gọi là thuê thông thờng
hay thuê tài chính, hay nói cách khác ranh giới giữa chúng cũng không ít trờng
hợp mập mờ.

1.2.3. Phân biệt cho thuê tài chính với tín dụng ngân hàng:
Thực chất cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn nh-
ng so với hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng cho thuê tài chính
vẫn mang những điểm khác biệt.
- Trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng tài trợ cho doanh
nghiệp trực tiếp bằng tiền và doanh nghiệp sẽ sử dụng số tiền đó để mua máy móc
thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Nhng đối với cho thuê tài chính, bên
cho thuê tài trợ cho doanh nghiệp vằng các tài sản nh máy móc, thiết bị...
Nh vậy, so với tài trợ tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng, cho thuê tài
chính đảm bảo cho bên tài trợ là khoản tiền đã bỏ ra đợc sử dụng đúng mục đích.
- Phí cho thuê đối với hoạt động cho thuê tài chính thờng cao hơn so với lãi
suất cho vay trung và dài hạn do phí cho thuê đợc tính trên cơ sở lãi suất cho vay
trung và dài hạn cộng với chi phí phát sinh đối với tài sản và chi phí quản lý của
công ty cho thuê tài chính.
- Trong giao dịch cho thuê tài chính, ngoài sự tham gia của bên thuê và bên

cho thuê còn có sự tham gia của nhà cung cấp, ngời cho vay v.v.. còn đối với hoạt
động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng chỉ có sự tham gia của hai bên là
ngời vay và ngân hàng.
- Ngoài ra, hoạt động cho thuê tài chính đảm bảo an toàn đối với nhà tài trợ
so với tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng. Trong tín dụng ngân hàng, khi ng-
ời đi vay đã đợc ngân hàng cho vay thì ngân hàng thờng rất khó kiểm soát việc sử
dụng tiền vay nếu nh họ không đủ tinh thần trách nhiệm hay dự án của họ gặp khó
khăn. Nhng trong cho thuê tài chính, thì bên cho thuê giữ quyền sở hữu đối với tài
sản thuê nên khi bên thuê có những biểu hiện vi phạm hợp đồng nh không thanh
toán tiền thuê, hoặc có dấu hiệu thua lỗ, giải thể thì bên cho thuê có thể thu hồi tài
sản cho thuê về ngay lập tức.
Nh vậy, hoạt động cho thuê tài chính có u điểm hơn so với tín dụng trung và
dài hạn của ngân hàng. Nó giúp cho các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc
tiếp cận với các nguồn vốn trung và dài hạn đồng thời nó có độ an toàn hơn xét
trên phơng diện nhà tài trợ.

Bảng 1.3: Sự khác nhau giữa cho thuê tài chính và tín dụng ngân hàng
Tiêu thức
Thuê tài chính
Vay vốn trung, dài hạn
của ngân hàng
- Hình thức tài trợ Bằng hiện vật Bằng tiền
- Đối tợng Các loại động sản Động sản và bất động sản
- Quyền sở hữu Do bên cho thuê chiếm
giữ cho đến khi quyền
mua của bên thuê đợc
thực hiện
Bên đi vay chiếm giữ
ngay từ đầu
1.3.3. Phân biệt cho thuê tài chính và hình thức bán hàng trả góp:

Mua (bán) hàng trả góp là một hình thức mua (bán) hàng trong đó ngời mua
tiến hành trả tiền mua hàng trong một khoảng thời gian từ 1 đến 5 năm, đợc áp
dụng đối với trờng hợp ngời mua có thế chấp và cả không có thế chấp.
Khi một doanh nghiệp mua tài sản theo hình thức này, họ sẽ tiến hành thiết
lập hợp đồng với chủ tài sản - là nhà chế tạo hay định chế tài chính. Thoả thuận
này cho phép công ty thanh toán tiền mua thiết bị làm nhiều kỳ, vào những thời
điểm đợc ấn định trớc và mỗi lần trả 1 phần giá trị của tài sản cùng tiền lãi. Nếu
công ty tuân thủ hoàn tất các điều khoản của hợp đồng thì vào thời điểm kết thúc,
chủ tài sản sẽ chuyển giao quyền sở hữu cho ngời mua.
Thông thờng, khi hợp đồng có hiệu lực ngời mua phải trả ngay cho nhà tài
trợ một khoản tiền chiếm từ 25% đến 30% giá trị của tài sản, phần còn lại sẽ trả
góp theo quy định.
Hình thức tài trợ này có nguồn gốc từ những biện pháp khuyến mại của các
công ty chế tạo lớn nhằm đẩy mạnh việc bán sản phẩm của họ. Trong giai đoạn
đầu, ngời bán thờng giao quyền sở hữu tài sản cho ngời mua ngay khi hợp đồng có
hiệu lực. Nhng biện pháp này đem lại cho ngời bán quá nhiều rủi ro, nên sau này
ngời bán thờng giữ lại quyền sở hữu đối với thiết bị, thay vì nhân vật thế chấp của
ngời mua và hình thức bán trả góp trở thành khá tơng đồng với thuê tài chính.

×