Trở thành Winston Churchill trong
kinh doanh
Một trong những nhà lãnh đạo, nhà thực thi chiến dịch và nhà quản lý vĩ
đại nhất trong lịch sử nhân loại chắc chắn là Winston Churchill. Với thuật hùng
biện bay bổng và ý chí rắn thép, Churchill đã khiến cả nước Anh tin rằng họ có
thể chiến thắng trong thế chiến thứ hai và thuyết phục nước Mỹ vốn biệt lập lúc đó
tham gia vào cuộc chiến chống Adolf Hitler, đồng ý bán, cho mượn và cho thuê vũ
khí chiến đấu của mình. Trong kinh doanh, còn gì hơn nếu một nhà quản lý có thể
trở thành một Winston Churchill thứ hai.
Việc động viên và khích lệ thành công mọi người thực thi một chiến dịch –
cho đù đó là giải cứu thế giới hay cải thiện tính cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ -
luôn là một công cụ lãnh đạo quan trọng.
Không phải bàn cãi, Churchill luôn là một trong những nhà thực thi chiến
dịch vĩ đại nhất. Rất ít người trong chúng ta có thể học hỏi được cách thức ông sử
dụng từ ngữ hay hy vọng rằng những từ ngữ của mình có thể mang lại những kết
quả to lớn như những gì Churchill làm được với các chiến dịch vận động của
mình.
Tất cả mọi mục tiêu, mọi chiến dịch - cả trong nước lẫn nước ngoài - mà
Churchill đều thắng lợi nhờ các bài diễn thuyết và kỹ năng xây dựng mối quan hệ
của ông. Cho đến ngày nay, chúng vẫn là chủ đề hấp dẫn các nhà nghiên cứu, nhà
phân tích kinh doanh nhằm minh chứng rõ nét cho sức mạnh và tầm ảnh hưởng
trong lãnh đạo.
Những mục tiêu khả thi
Ở đây chúng ta sẽ không giả định rằng mỗi nhà quản lý có thể trở thành
một Churchill trong công ty. Việc tiến hành một chiến dịch hoàn toàn khác với
việc hướng tới một dự án hay một giải pháp. Nó là một quan niệm khá mạnh mẽ
và rõ ràng.
Bản thân từ "chiến dịch" đã bổ sung thêm tầm quan trọng và độ tín nhiệm
cho một nỗ lực nào đó. Nó nâng tầm một nỗ lực theo cách thức cho phép và động
viên nhiều người hơn cùng quy tụ một nơi để hành động nhanh chóng.
Ngoài ra, từ "chiến dịch" đã truyền tải bản chất bên trong là mọi nỗ lực
nhằm đạt được một điều gì đó quan trọng – chẳng hạn như có được thị phần vượt
trội so với đối thủ, thành công tung ra thị trường một sản phẩm mới nổi bật, thực
hiện một cuộc cải tổ sâu rộng trong toàn công ty.
Các chiến dịch sẽ chuyển mục tiêu thành hành động, tập trung các nỗ lực
của mọi người lên những gì cần được thực hiện và biến nỗ lực đó thành các kết
quả; đó là bản chất của công việc lãnh đạo. Các chiến dịch còn là sự nối tiếp của
những hành động - chứ không phải là một quyết định hay dự án đơn lẻ - được thiết
kế để xác định rõ các mục tiêu trong một khung thời gian cụ thể với các nguồn lực
cụ thể. Những mục tiêu này là khả thi, chi tiết và có giới hạn nhưng có ý nghĩa
quan trọng chiến lược.
Một chiến dịch có thể được hướng trực tiếp tới việc lấp một lỗ hổng nào đó
khi một vấn đề gì đó bị phá vỡ; thực hiện một thay đổi lớn về chính sách khi định
hướng có thay đổi; hay đơn giản nỗ lực duy trì vị thế dẫn đầu hiện tại. Trái ngược
với kế hoạch hành động, chiến dịch là form mẫu của sự ứng biến có chỉ dẫn, được
gắn chặt với nhau bởi một chủ đề nhất định. Và một chuỗi các chiến dịch, được
thực hiện theo cách thức có dự tính, có thể dẫn tới một sự biến đổi toàn diện của
công ty.
Trong bất cứ chiến dịch nào, công việc đầu tiên của các nhà quản lý đó là
khiến mọi người xung quanh nghĩ về và quyết định những gì công ty hay bộ phận
cần làm. Ví dụ, các công ty phải bảo vệ hay tạo ra các lợi thế cạnh tranh. Cách
thức bảo vệ một lợi thế cạnh tranh có thể khá rõ nét. Nhưng một lợi thế của công
ty có thể thay đổi cùng với thời gian mà nhà quản lý không đánh giá đầy đủ được
nó. Như thế, một chiến dịch có thể cần được phân tích và nhận ra các "thành phần
chủ động" - lợi thế kinh doanh. Đây là phần "suy nghĩ" trong quản lý.
Tập hợp nhân lực
Nhiệm vụ thứ hai của nhà quản lý đó là để mọi người hiểu được và trợ giúp
cho mục tiêu chung của công ty. Các nhà quản lý không nên hướng tới một số đối
tượng nhân viên nào đó, mà thay vào đó nên tạo dựng một tình cảm được chia sẻ
chung cho mục tiêu.
Những nỗ lực nghèo nàn nhằm bắt chước Churchill sẽ có hại nhiều hơn là
có lợi. Trên cương vị của mình, các nhà quản lý cần giữ vững sự thành thực với
bản thân, sử dụng những kỹ năng mình có được. Các nhà quản lý hàng đầu sẽ cần
bảo trợ cho một chiến dịch nhằm phát triển hay tinh lọc lại nhãn hiệu, đặc tính của
công ty. Đây là phần "truyền cảm hứng" trong quản lý.
Công việc thứ ba của nhà quản lý là tuyển dụng và phát triển nhân lực cho
chiến dịch, cũng như bố trí họ tại những vị trí thích hợp. Theo nghiên cứu của
hãng tư vấn nhân lực Towers Perrin, ba phần tư các nhà tuyển dụng lớn phải thừa
nhận rằng họ thường không thành công trong việc tuyển dụng những nhân viên tài
năng hay nhận ra một cách hiệu quả những nhân viên tốt nhất và nhân viên yếu
kém nhất.
Vấn đề thực sự luôn là bao nhiêu sự gắn kết và sức lực mà một cá nhân đem
lại cho công việc của mình và sự hợp tác, phối kết hợp công việc giữa mọi người
tốt ở mức độ nào. Đây là phần "huy động" trong quản lý.
Trang bị cho tập thể
Và cuối cùng, công việc của một nhà quản lý là trang bị cho mọi người
những gì cần thiết để họ thực hiện tốt nhiệm vụ của họ trong một chiến dịch. Điều
đó thường bao hàm việc hàn gắn một vài khiếm khuyết nào đó, từ trách nhiệm giải
trình không rõ ràng cho tới thiết kế thông tin nghèo nàn. Mục tiêu luôn là đưa cho
mọi người tất cả các nguồn lực và tài sản cần thiết để chiến thắng.
Đây chính là phần "trang bị" trong quản lý. Một chiến dịch hành động nên
ngắn hợp lý, thường là từ ba đến sáu tháng, tối đa là một năm. Các nhà quản lý
kinh doanh sẽ muốn đảm bảo rằng mục tiêu của chiến dịch không trở nên lỗi thời
và rằng tất cả các thành viên tham gia có thể tập trung cho toàn bộ thời gian của
chiến dịch.
Không phải tất cả các chiến dịch đều được tạo dựng như nhau. Khi cố gắng
thoát ra khỏi một lỗ sâu, nhà quản lý trước tiên vào gắn kết với một chiến dịch suy
nghĩ và sau đó nhà quản lý phải truyền cảm hứng. Một khi thành công, nhà quản lý
phải tái xác định tái xác định lại các khả năng có thể và rồi huy động toàn thể mọi
người xây dựng các nguồn lực thích hợp với những mơ ước mới.
Như Churchill đã từng nói, "Chúng ta luôn có trước mặt một cơ hội lớn,
một cơ hội vàng, lấp lánh ánh sáng nhưng rất ngắn ngủi. Cơ hội chúng ta là trong
tầm tay vào thời điểm này. Cơ hội ở đó; động cơ ở đó, mọi người ở đó". Các nhà
quản lý hãy nhắc nhở tập thể nhân viên của mình rằng họ có một cơ hội để nắm
lấy cho dù cơ hội là thế nào trước mặt họ.