Tải bản đầy đủ (.pdf) (4 trang)

Tài liệu MỸ THUẬT KHẢM XÀ CỪ TRUYỀN THỐNG pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (136.66 KB, 4 trang )

MỸ THUẬT KHẢM XÀ CỪ
TRUYỀN THỐNG



Việt Nam có hơn ba nghìn cây số bờ biển. Vì vậy, vật liệu dùng cho nghề
khảm xà cừ là vỏ ốc và vỏ trai biển không hiếm, nếu không nói là rất sẵn. Nghề
khảm xà cừ cùng với nghề chạm khắc gỗ, đá, đồng đã ra đời ở Việt Nam từ rất
sớm. Nền mĩ thuật đồ đồng Đông Sơn, mĩ thuật chạm khắc đá, gỗ thời Đại Việt,
thời Hậu Lê là những dẫn chứng lịch sử tự hào.
Những thuyết nói về nguồn gốc và ông tổ các nghề mĩ thuật thủ công truyền
thống Việt Nam, trong đó có nghề khảm xà cừ, người ta thường có thói quen định kiến
sai lầm là của người Trung Hoa du nhập vào Việt Nam; hoặc người Việt “đi xứ Tầu”
học được nghề rồi mang về truyền cho đồng bào mình, là những thuyết vốn nặng đầu
óc “phục Hoa”, là căn bệnh nặng, luôn coi văn hóa Hán - Trung Hoa là chuẩn mực, là
trung tâm (Sinocentresme) - “dĩ Hoa vi Trung”.
Lịch sử Việt Nam cho ta biết, nghề khảm xà cừ đã phát triển mạnh vào thời Hậu
Lê, thế kỷ 18. Một trong những làng nghề nổi tiếng ở nước ta là vùng Chuôn-Tre,
huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông cũ (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Nghệ nhân được
xem như người có công đầu đưa trình độ khảm trai lên cao nổi tiếng, đó là ông
Nguyễn Kim. Cũng từ đấy, Phú Xuyên có số học trò được ông truyền nghề đã ra Hà
Thành lập phường Nghề ở Cửu Lâu (nay là phố Tràng Tiền - Hàng Khay, Hà Nội).
Ngoài ra cũng còn một số quy tụ ở một số nơi trong thành phố như ngõ 381 Bạch Mai;
ngõ Mai Hương, Hà Nội... Một phân số khác đem theo nghề làm ăn nơi xa rồi định cư
luôn ở đó. Các thế hệ thợ được nhân lên theo nhu cầu của thị trường tiêu dùng. Dần dà
phát triển rộng ra khắp đất nước. Nhưng tập trung nhất bao giờ cũng là các tỉnh đồng
bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ; rồi đến Kinh đô Huế, và tiến sâu vào Sài Gòn, Tây Ninh,
Thủ Dầu Một...
Loại ốc và trai tốt ở nước ta thường tập trung ở hai nơi là vùng biển Quảng
Bình và Quảng Trị. Nhưng sau này khi nghề đã phát triển mạnh-từ Bắc vào Nam, thì
thợ khảm Việt Nam đã mua ốc của Singapore nhập vào. So với ốc Việt Nam, ốc


Singapore có phần đẹp và giàu sắc độ hơn về mảng màu nghệ thuật. Đó là thứ vật
phẩm được xem là hàng “vân mẫu”. Vân mẫu qua khúc xạ ánh sáng tạo ra nhiều màu
sắc hư ảo, rực rỡ: hồng, tím, xanh da trời, lam nhạt, vàng tươi, da cam...
Nghệ nhân khảm xà cừ được xem là điêu luyện, thuần thục, phải có đôi tay
vàng, đôi mắt tinh, khối óc sáng tạo. Người thợ khảm có tay nghề cao phải hoàn thành
tốt được 3 dây chuyền lao động: vẽ mẫu trên giấy, khắc màu trên gỗ; lựa màu trai ốc
cho tạo hình chi tiết và bố cục tổng thể, sao cho đẹp, hài hòa, ổn định hấp dẫn. Vì sản
phẩm đích thực là một “bức tranh cắt dán, gọt giũa” trên mặt phẳng của không gian hai
chiều hội họa. Đó là tranh khảm các đề tài - như chân dung, phong cảnh, lịch sử, hoặc
đơn thuần chỉ là một đồ án trang trí gồm các hồi văn, rồng phượng, chim muông, hoa
lá v.v..
Để hoàn thành nghệ thuật phẩm, ngoài thị hiếu tốt và kỹ thuật giỏi, người thợ
khảm còn phải có một bộ đồ nghề hoàn hảo. Đó là những chiếc giũa, chiếc cưa dùi,
dao trổ, đá mài, giấy ráp nước... đủ số, đủ cỡ, để thi công họa phẩm. Người tinh, chỉ
cần xem qua thao tác và đồ nghề của người thợ khảm, là nhận biết được trình độ tay
nghề hoàn thành tác phẩm của anh ta ở cung bậc nào.
Nền cho bức khảm thường dùng các loại gỗ quý - như vàng tâm, dổi, cẩm lai,
trắc, gụ, lát, cũng có khi là những tấm vóc sơn mài đen đỏ, nâu cánh gián đã được
chuẩn bị sẵn. Gần đây, nghệ nhân còn khảm cả trên kính màu. Keo dán trai ốc là sơn ta
được xem có độ bền lý tưởng.
Vật dụng khảm thường dùng là đồ thờ, đồ gia dụng - như hoành phi, câu đối sập
gụ, tủ chè, khung tranh, khảm thờ, khay, tráp, hộp, bàn cờ... Vì là sản phẩm quý hiếm,
đắt tiền nên những đồ khảm thường có cỡ kích vừa phải, không mang tính phổ cập như
nghệ thuật chạm khắc gỗ trang trí trên kiến trúc với không gian rộng lớn.
Trong thực tế người ta đã nghĩ đến việc làm giàu bảng màu cho nghệ thuật
khảm xà cừ, bằng cách phối hợp giữa nó với những thứ kim loại quý - như vàng, bạc,
đồng... nhưng xem ra hiệu quả vẻ đẹp nghệ thuật không đạt được theo ý muốn trong
việc hòa nhịp, hòa sắc của chúng. Đó là chưa nói đến sự “vi phạm” tới thế giới cái đẹp
của trai, ốc, làm hỗn tạp bảng màu nghệ thuật.
Suy cho cùng, vẻ đẹp của mĩ thuật thủ công Việt Nam nói chung và khảm xà cừ

nói riêng, nó chỉ đẹp và trường tồn khi biết bảo lưu được truyền thống qua cái nhìn và
thi công chất liệu đúng với thuộc tính của chính nó.

×