Tải bản đầy đủ (.pdf) (64 trang)

Tài liệu Luận văn "“Thực trạng thu - chi quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ (Nam Định)”" doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (960.83 KB, 64 trang )

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Thực trạng thu - chi quỹ BHXH tại
phòng BHXH huyện Giao Thuỷ (Nam Định)”


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU...............................................................................................1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH..........................3
I. Sự cần thiết phải có BHXH.....................................................................3
1 – Sự ra đời của BHXH................................................................................3
2 – Sự cần thiết phải có BHXH.....................................................................4
II. Vai trò và những nguyên tắc của BHXH.............................................5
1 – Vai trò của BHXH...................................................................................5
2 – Những nguyên tắc của BHXH.................................................................7
III. Quỹ BHXH...........................................................................................12
1 – Vai trò của quỹ BHXH..........................................................................12
2 – Nguồn quỹ BHXH.................................................................................13
3 – Mục đích sử dụng quỹ BHXH...............................................................14
CHƯƠNG II. TÌNH HÌNH THU CHI QUỸ BHXH TẠI PHỊNG BHXH HUYỆN
GIAO THUỶ................................................................................18
I. Vài nét giới thiệu về BHXH huyện Giao Thuỷ....................................18
II. Tình hình thu BHXH huyện Giao Thuỷ.............................................19
1 – Thu BHXH.............................................................................................19
2 – Những nguồn thu BHXH.......................................................................22
3 – Những nguyên tắc trong thu BHXH......................................................23
4 – Tổ chức quản lý thu BHXH...................................................................24
III. Tình hình chi BHXH...........................................................................30
1 – Những vấn đề chung về chi BHXH.......................................................30
2 – Công tác chi BHXH tại BHXH huyện Giao Thuỷ................................31
3 – Những nguyên tắc trong chi BHXH......................................................33
4 – Quản lý chi BHXH................................................................................34


IV. Đánh giá công tác quản lý thu chi quỹ BHXH tại BHXH huyện Giao
Thuỷ...................................................................................................40
1 – Thực trạng công tác quản lý thu chi quỹ BHXH...................................40
2 – Những kết quả đạt được của BHXH huyện Giao Thuỷ........................41
3 – Những hạn chế trong công tác quản lý thu chi quỹ BHXH..................44
CHƯƠNG III. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HỒN THIỆN CƠNG TÁC THU
CHI QUỸ BHXH Ở BHXH HUYỆN GIAO THUỶ...45
I. Đối với cơ quan BHXH nói chung........................................................45
1 – Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về BHXH, xây dựng luật
BHXH..........................................................................................................45
2 – Có chương trình đào tạo và sử dụng cán bộ..........................................46
3 – Mở rộng nguồn thu BHXH....................................................................47
4 - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về BHXH...........................................48


5 – Hoàn thiện việc quản lý thu chi, kết hợp vi tính hố trong cơng tác quản lý thu chi
quỹ BHXH...................................................................................50
II. Đối với BHXH huyện Giao Thuỷ........................................................52
1 – Về công tác thu......................................................................................52
2 – Về công tác chi......................................................................................54
KẾT LUẬN..................................................................................................57
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................57


LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra
đời sớm ở nước ta. Đây là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, nó ít mang tính
chất kinh doanh thương mại mà chủ yếu là tính nhân dạo và nhân văn cao
cả.
Kể từ khi ra đời đến nay, nó đã góp phần làm ổn định đời sống cho cán

bộ công nhân viên chức Nhà nước, quân nhân, những người lao động làm
việc trong các thành phần kinh tế của đất nước; ổn định chính trị – xã hội,
thúc đẩy quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc.
Hiện nay, được sự quan tâm của Nhà nước mà chính sách BHXH ngày
càng được thực hiện tốt và hiệu quả hơn với các đối tượng tham gia nói
trên. Để việc thực hiện BHXH tồn tại và phát huy được tác dụng của nó
cần phải có một quỹ BHXH và quỹ đó phải hoạt động đúng mục đích tức là
cơ quan BHXH phải thực hiện tốt công tác thu – chi quỹ BHXH.
Qua thời gian thực tập tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ em thấy
BHXH huyện Giao Thuỷ đã đạt được những kết quả thiết thực về hoạt
động thu – chi quỹ BHXH như: Chi đúng người, đúng đối tượng, kịp thời;
thu quỹ BHXH ngày càng tăng v.v…Tuy nhiên bên cạnh dó vẫn cịn một
số tồn tại nhất định như: Thu BHXH chưa dứt điểm, số nợ đọng vẫn còn,
một vài cơ sở còn trốn nộp BHXH làm cho hoạt động quỹ BHXH tại phòng
BHXH huyện Giao Thuỷ chưa đạt được kết quả cao, tăng gánh nặng cho
ngân sách nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý
thu – chi quỹ BHXH như vậy, em đã chọn đề tài : “Thực trạng thu - chi
quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ (Nam Định)” với mong

1


muốn được góp phần nhỏ bé của mình nhằm hồn thiện công tác quản lý
thu – chi quỹ BHXH tại phịng BHXH huyện Giao Thuỷ nói riêng và trong
hệ thống BHXH Việt Nam nói chung.
Trong q trình hồn thành chun đề, do thời gian và nhận thức còn
nhiều hạn chế nên khơng thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được
sự chỉ bảo của các thầy cô giáo. Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới thầy
giáo PGS.TS Hồ Sĩ Sà đã tận tình giúp đỡ em hồn thành chuyên đề này.
Hà Nội ngày 15 tháng 4 năm 2004

Sinh viên: Trần Văn Phác

2


CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ BHXH
1 – Sự ra đời của BHXH
Nền sản xuất hàng hố càng phát triển thì vấn đề thuê mướn nhân
công diễn ra càng phổ biến, mâu thuẫn giữa chủ và thợ ngày càng gia tăng.
Đặc biệt khi người lao động không may gặp rủi ro, sự cố như: ốm đau,
bệnh tật, tai nạn lao động, mất việc làm…phải nghỉ việc. Khi rơi vào
những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết khơng những khơng mất đi
mà cịn tăng lên, thậm chí cịn phát sinh ra nhiều nhu cầu mới như: cần
được khám chữa bệnh, điều trị khi ốm đau; cần người ni dưỡng, chăm
sóc khi gặp tai nạn, thương tật… Tổng thời gian nghỉ việc người chủ
không trả lương, làm cho người lao động càng gặp nhiều khó khăn hơn và
khơng n tâm làm việc. Vì vậy, lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công
lao động nhưng sau đó đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người lao
động có một số thu nhập nhất định để họ trang trải khi khơng may gặp
những khó khăn đó.
Trong thực tế, nhiều khi các rủi ro trên không xẩy ra và người chủ
không phải chi ra đồng nào nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ
phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn mà họ khơng muốn. Do đó mâu thuẫn
chủ thợ càng trở nên vô cùng gay gắt. Khi những mâu thuẫn này kéo dài
Nhà nước phải đứng ra can thiệp bằng cách: buộc giới chủ phải có trách
nhiệm hơn đối với người lao động mà mình sử dụng, thể hiện ở việc phải
trích ra một phần thu nhập của mình để hình thành quỹ. Sau đó dùng

nguồn quỹ này để trợ cấp cho người lao động và gia đình họ, khi người lao
động không may gặp những rủi ro và sự cố bất ngờ. Đồng thời Nhà nước

3


đứng ra bảo trợ cho quỹ. Bằng cách đó cả chủ và thợ đều thấy mình có lợi
và tự giác thực hiện, cuộc sống của người lao động được đảm bảo.Người
chủ được bảo vệ việc sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được
những xáo trộn khơng cần thiết.
Mối quan hệ ba bên nêu trên được thế giới quan niệm là BHXH cho
người lao động. Như vậy BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người lao
động, bằng cách thơng qua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ
sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động (nếu có), sự tài
trợ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia
đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp các rủi ro ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động theo
quy định của pháp luật hoặc tử vong…
2 - Sự cần thiết phải có hệ thống BHXH
Trong cuộc sống cũng như trong các hoạt động sản xuất hàng ngày,
mặc dù không muốn nhưng người lao động không thể tránh khỏi hết những
rủi ro bất ngờ xảy ra như: ốm đau; bệnh tật, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp…Tất cả những ngun nhân đó xảy ra đều ít nhiều làm ảnh hưởng
đến đời sống vật chất và tinh thần cho bản thân cũng như gia đình; người
thân của họ.
Muốn khắc phục được khó khăn do các rủi ro nêu trên gây ra, người
lao động cần phải được sự bảo trợ của tập thể số đông. Đặc biệt để người
lao động yên tâm tham gia sản xuất tạo điều kiện phát triển kinh tế đất
nước thì nhà nước cần phải can thiệp vào nhằm làm giảm bớt những khó
khăn cho người lao động trong các trường hợp: ốm đau, thai sản, tai nạn

lao động – bệnh nghề nghiệp, chết, mất việc làm khi về già…Từ đó BHXH

4


được ra đời như một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội
đều cảm thấy cần phải tham gia hệ thống BHXH này.
II . VAI TRÒ VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA BHXH
1 – Vai trò của BHXH
1.1) Đối với người lao động
Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hồn thiện q
trình cơng nghiệp hố- hiện đại hố thì những "rủi ro" như ốm đau, tai nạn
lao động- bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm…lại diễn ra một cách
thường xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro
này xảy ra sẽ gây khó khăn cho người lao động vế cả vật chất lẫn tinh thần,
ảnh hưởng không tốt cho cả cộng đồng.
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà
nước, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những người lao động gặp
phải rủi ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế,
những điều kiện lao động thuận lợi…giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm
công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai. Từ đó góp phần quan trọng
vào việc tăng năng suất lao động cũng như chất lượng công việc cho xí
nghiệp nói riêng và cho tồn xã hội nó chung.
1.2) Đối với người sử dụng lao động
Để có được sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của con người và sự phát
triển của xã hội thì cần phải có người tạo ra sản phẩm và nhờ vào quá trình
lao động sản xuất để tạo ra sản phẩm cần thiết cho con người, cho xã hội.
Những người biết vận dụng sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, đó chính
là những người chủ sử dụng lao động. Muốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh được đảm bảo thì người chủ phải tạo được mối quan hệ tốt với

người lao động, giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của
mình đối với người lao động thật tốt để họ yên tâm lao động sản xuất và có

5


niềm tin vào cuộc sống từ đó họ lao động sản xuất hăng hái hơn, tạo ra
nhiều sản phẩm tốt hơn làm cho quá trình sản xuát kinh doanh của người
chủ sử dụng lao động hoạt động đạt kết quả cao. Muốn vậy người chủ sử
dụng lao động phải tham gia đóng BHXH cho những người lao động của
mình để có thể đảm bảo những khoản chi trả cần thiết, kịp thời đến người
lao động khi họ gặp những rủi ro bất chắc. Việc tham gia đóng góp BHXH
cho người lao động của người chủ sử dụng lao động là góp vào q trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn,
nâng cao năng suất, hiệu quả lao động sản xuất của doanh nghiệp cũng như
nâng cao thu nhập cho người lao động và góp vào việc phát triển nền kinh
tế của đất nước.
1.3) Đối với xã hội
Thứ nhất, cần phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt
động dịch vụ, cơ quan BHXH là một “doanh nghiệp” sản xuất ra những
dịch vụ “ bảo hiểm” cho người lao động, một loại dịch vụ mà bất cứ ai
cũng cần đến (không phải chỉ cán bộ, công nhân viên chức mới cần). Nếu
các doanh nghiệp này càng sản xuất ra nhiều loại bảo hiểm (đáp ứng đa
dạng các nhu cầu) thì giá trị của những sản phẩm dịch vụ này cũng được
tính trực tiếp vào tổng sản phẩm xã hội.
Thứ hai, với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của
Nhà nước, BHXH sẽ “ bảo hiểm” cho người lao động, hoạt động BHXH sẽ
giải quyết những “ trục trặc”, “ rủi ro” xảy ra đối với những người lao
động, góp phần tích cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả
năng sáng tạo của sức lao động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến

việc nâng cao năng suất lao động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực của
mình vào việc nâng cao năng suất lao động xã hội. Với sự trợ giúp của
người lao động khi gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay thế thì

6


BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự
tiêu dùng cho xã hội.
Thứ ba, với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh
mẽ tới hệ thống tài chính ngân sách Nhà nước, tới hệ thống tín dụng tiền tệ
ngân hàng. Chính vì vậy, đặt ra một u cầu cho quỹ BHXH phải tự bảo
tồn và phát triển quỹ bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình
thức đầu tư phát triển phần “ nhàn rỗi” của quỹ. Phần này có tác động
khơng nhỏ tới sự phát triển đất nước, góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất
kinh doanh mới, việc làm mới góp phần quan trọng trong việc tạo ra việc
làm cho người lao đông. Từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp
của đất nước, góp phần tăng thu nhập cá nhân cho người lao động nói riêng
và tăng tổng sản phẩm quốc nội cũng như tổng sản phẩm quốc dân nói
chung.
Thứ tư, BHXH góp phần vào việc thực hiện cơng bằng xã hội, là công
cụ phân phối lại thu nhập giữa những nguời tham gia BHXH. Sự phân phối
lại thu nhập này được tiến hành thông qua hai cách: Phân phối lại theo
chiều ngang giữa người khoẻ và người già, người đang làm việc với người
đã nghỉ hưu, người trẻ tuổi với người lớn tuổi, giữa nam với nữ, người
đang hưởng trợ cấp với người chưa hưởng trợ cấp; phân phối lại theo
chiều ngang là mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế xã hội, giữa
những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp. BHXH khơng bao
hàm ý phân phối bình qn, cũng khơng hàm ý lấy của người giàu chia cho
người nghèo một cách võ đoán. Ý tưởng của BHXH nhiễu điều phủ lấy giá

gương, là đoàn kết tương trợ, phát huy tính tự thân, sống hồ nhập có tình
có nghĩa giữa các nhóm, các giới bạn trong cùng cộng đồng với nhau mà
vốn là tiềm lực của dân tộc ta đã được lịch sử chứng minh.

7


2 – Những nguyên tắc của BHXH
2.1) Mọi ngưòi lao động trong mọi trường hợp bị giảm hoặc mất khả
năng lao động hoặc mất việc làm đều có quyền được BHXH .
Quyền đựơc BHXH của người lao động là một trong những biểu hiện
cụ thể của quyền con người. Nhưng khi muốn xây dựng hệ thống BHXH
thì đầu tiên Nhà nước phải tạo điều kiện và môi trường kinh tế xã hội, về
chính sách và luật pháp, về tổ chức và cơ chế quản lý cần thiết. Đồng thời,
những người sử dụng lao động và người lao động phải thực hiện trách
nhiệm đóng góp tài chính của mình. Khơng phải là cái có sẵn nên trước hết
phải tìm cách tạo ra nó. Ở mỗi nước khơng có sự đóng góp này thì chính
sách BHXH có hay đến mấy cũng khơng bao giờ có BHXH trong thực tiễn.
Vì vậy, thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính BHXH là điều kiện cơ
bản nhất để người lao động được hưởng quyền BHXH.
2.2) Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải BHXH
đối với người lao động, người lao động cũng phải tự bảo hiểm cho mình.
Đây là mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường, trong đó Nhà
nước có vai trị quản lý vĩ mơ mọi hoạt động kinh tế xã hội trên phạm vi cả
nước. Với vai trị này Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của
toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi cơng cụ cần thiết để thực hiện vai trị
của mình. Cùng với sự tăng trưởng sự phát triển kinh tế xã hội, cũng có
những kết quả bất lợi không mong muốn. Những kết quả bất lợi này trực
tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho người lao động. Khi xảy ra
tình trạng như vậy nếu khơng có BHXH thì Nhà nước vẫn phải chi Ngân

sách để giúp đỡ người lao động dưới một dạng khác. Sự giúp đỡ đó chẳng
những làm cho đời sống người lao động ổn định mà còn làm cho sản xuất
kinh tế xã hội của đất nước ổn định. Vì vậy, khi trong xã hội loài người
xuất hiện BHXH – một dạng đảm bảo đời sống tiến bộ hơn đối với người

8


lao động- so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì Nhà nước càng có điều
kiện và càng có trách nhiệm tổ chức và tham gia dạng hoạt động đó.
Đối với người sử dụng lao động, mọi khía cạnh đặt ra cũng tương tự
như trên nhưng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp. Ở đó giữa người
lao động và người sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Người sử
dụng lao động muốn ổn định và sản xuất kinh doanh thì ngồi việc chăm lo
đầu tư để có máy móc thiết bị hịên đại, cơng nghệ tiên tiến còn phải chăm
lo tay nghề và đời sống của người lao động mà mình sử dụng. Khi người
lao động làm việc bình thường thì phải trả lương (trả công) thoả đáng cho
người lao động. Khi họ gặp rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp.. trong đó có rất nhiều trường hợp gắn với q trình lao động, với
những điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì phải có trách nhiệm
BHXH cho họ. Chỉ có như vậy người lao động mới n tâm tích cực lao
động sản xuất góp phần tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế cho
doanh nghiệp.
Đối với người lao động khi gặp những rủi ro không muốn và khơng
phải hồn tồn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro
của bản thân. Vì thế, nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác
hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì tự
mình phải gánh chịu trực tiếp và trước hết đã...Điều đó có nghĩa là bản thân
người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho
mình.

2.3) BHXH phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình
thành lên quỹ BHXH
Ở nguyên tắc trên đã thấy rõ tính khách quan của trách nhiệm phải
tham gia BHXH đối với người lao động của cả ba bên (Nhà nước, người sử
dụng lao động và người lao động) trong nền kinh tế thị trường. Biểu hiện

9


cụ thể của trách nhiệm này là đóng phí BHXH đầu kỳ. Nhờ sự đóng góp đó
mà phương thức riêng có của BHXH là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo
điều kiện để phân phối thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang mới
được thực hiện. Hơn nữa nó cịn tạo ra mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ
giữa trách nhiệm với quyền lợi góp phần phịng chống những hiện tượng
nhiễu trong hệ thống hoạt động mang lại nhiều lợi ích cho mọi người có
liên quan này.
2.4) Phải tuân theo quy luật số lớn
BHXH là một trong các nguyên tắc, các cơ chế an toàn xã hội, trước
hết là sự trợ giúp cho người lao động trong các trường hợp bị giảm hoặc bị
mất thu nhập tạm thời khi họ bị ốm đau, thai sản… hoặc hết tuổi lao động
theo quy định của pháp luật. Trong cả cuộc đời của người lao động thường
thì thời gian lao động dài hơn thời gian người lao động bị tạm thời mất khả
năng lao động hoặc thời gian từ khi hết tuổi lao động đến lúc chết. Vả lại
tất cả những người tham gia BHXH cùng một lúc có nhu cầu bảo hiểm, vì
vậy nguyên tắc trước hết của BHXH là lấy số đơng bù số ít, lấy qng đời
lao động có thu nhập để bảo hiểm cho khi giảm hoặc mất khả năng lao
động.
2.5) Kết hợp giữa các loại lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng
nhu cầu BHXH
Trong BHXH cả ba bên tham gia: Người sử dụng lao động, người lao

động và Nhà nước đều nhận được nhiều lợi ích. Nhưng lợi ích nhận được
khơng phải ln luôn như nhau, thống nhất với nhau mà trái lại có lợi ích
có lúc lại mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng
thời hạn nghỉ làm việc và hưởng trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho người lao
động nhưng lại gây khó khăn cho người chủ sử dụng lao động, nếu giảm

10


hậu quả bất lợi cho người sử dụng lao động thì Nhà nước lại phải gánh
chịu.
2.6) Mức trợ cấp BHXH phải đảm bảo thấp hơn tiền lương khi đang đi
làm, nhưng cũng phải lớn hơn mức lương tối thiểu
Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lương như
trợ cấp ốm đau, thai sản, hưu trí tuổi già chứ khơng phải là trợ cấp bù đắp
hoặc trợ cấp BHXH. Như đã biết, tiền lương là khoản tiền mà người sử
dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện công việc nhất định.
Nghĩa là, chỉ người lao động có sức khoẻ bình thường, có việc làm bình
thường và thực hiện cơng việc nhất định mới có tiền lương. Khi đã bị ốm
đau, tai nạn hay tuổi già không thực hiện được công việc nhất định hoặc
khơng việc làm mà trước đó có tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH
và trợ cấp đó khơng thể bằng tiền lương tạo ra được. Cịn nếu cố tìm cách
trả trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lương thì khơng một người lao
động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lương mà
ngược lại họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản để hưởng trợ cấp. Hơn nữa cách
lập quỹ, phương thức dàn trải rủi ro của BHXH cũng không cho phép trả
trợ cấp BHXH bằng tiền lương lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền
lương thì chẳng khác gì bị rủi ro đem rủi ro của mình dàn trải hết cho
những người khác.
Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang

đi làm. Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức
trợ cấp thấp nhất cũng khơng thể thấp hơn mức sống tối thiểu hàng ngày.
Chỉ khi đó BHXH mới có tính nhân văn cao cả.
2.7) Kết hợp giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội áp dụng hình thức bắt buộc để đảm bảo quy luật số
lớn và số có hệ số an toàn cao nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao

11


động. Tuy nhiên, có những trường hợp, người lao động muốn hưởng trợ
cấp hưu trí ở mức cao hơn mức được hưởng dưới hình thức bắt buộc, hoặc
khi cân nhắc thấy họ đóng thêm vào BHXH cũng là một hình thức gửi tiền
tiết kiệm, và có khi cịn lợi hơn gửi vào ngân hàng, thì họ sẽ có nhu cầu
đóng phí BHXH nhiều hơn mức quy định. Chính vì vậy, khi đáp ứng nhu
cầu đó cũng thực hiện được đảm bảo tốt hơn cuộc sống cho người lao
động đồng thời quy luật số lớn vẫn được tôn trọng.
2.8) Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cả nước, đồng
thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành
Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành.
Trong đó bộ phận lớn nhất do Nhà nước tổ chức và bảo hộ đặc biệt bao
trùm toàn bộ những người hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước và những
người lao động thuộc những khu vực kinh tế quan trọng của đất nước. Các
bộ phận nhỏ hơn do các đơn vị kinh tế và tư nhân tổ chức ra để bảo hiểm
cho một số đối tượng hạn chế do pháp luật quy định. Trong bộ phận do
Nhà nước tổ chức cịn có thể có một số bộ phận BHXH chuyên ngành như:
BHXH đối với công chức, BHXH đối với quân nhân hưởng lương và một
số bộ phận BHXH theo ngành kinh tế có tính chất đặc thù (đường sắt, khai
thác mỏ...). Các bộ phận BHXH đựơc tổ chức như thế nào, nhiều hay ít là
do đi ều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và do Nhà nước quy định. Ở nước ta

do những diều kiện kinh tế xã hội chưa cho phép các tổ chức và cá nhân
thực hiện BHXH mà chỉ có BHXH của Nhà nước.
Để BHXH hoạt động có hiệu quả nhất thiết phải bảo đảm tính thống
nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh tuỳ tiện, tính cục bộ
hoặc những mâu thuẫn nảy sinh. Đồng thời cũng phải có cơ chế để mỗi bộ
phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp,
bổ xung những ưu điểm cho nhau.

12


2.9) BHXH phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều
kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể
BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều
kiện kinh tế xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý đặc biệt là với sự điều
chỉnh, sự đồng bộ của nền pháp chế của nước đó. Trong tình hình nước ta,
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh
tế xã hội đang chuyển động mạnh. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển
BHXH phải bảo đảm chắc chắn, tính tốn thận trọng và có bước đi phù
hợp.
III. QUỸ BHXH
1 – Vai trò của quỹ BHXH
Trong đời sống kinh tế xã hội, có rất nhiều loại quỹ khác nhau như:
quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lương, quỹ tiền
thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ tiết kiệm...Tất cả các loại quỹ này đều có một
điểm chung là tập hợp các phương tiện tài chính cho những hoạt động nào
đó theo mục tiêu định trước. Quỹ lớn hay quỹ nhỏ biểu thị khả năng về mặt
phương tiện và vật chất để thực hiện công việc cần làm.
Tất cả các quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lượng tĩnh tại một
thời điểm mà luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và giảm

đi ở đầu ra với các khoản chi như một dòng chảy liên tục. Để đảm bảo cho
đầu ra ổn định, người ta thiết lập một lượng dự trữ. Bởi vậy, để nắm và
điều hành được một quỹ nào đó thì khơng phải chỉ nắm được khối lượng
của nó tại một thời điểm nhất định, mà quan trọng hơn là phải nắm được
lưu lượng của nó trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo những quan niệm về quỹ nói chung như trên, thì quỹ BHXH là
tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH hình

13


thành một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nước
để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.
Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự
phịng, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều
kiện hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH
tồn tại và phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết
những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp
cho việc dàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời
gian, đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao
động, tiết kiệm chi cho cả ngân sách Nhà nước và ngân sách gia đình.
2 – Nguồn quỹ BHXH
Quỹ BHXH tập trung những đóng góp bằng tiền của những người
tham gia BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những
người được hưởng BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu
nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.
Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự
phịng; nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều

kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống
BHXH tồn tại và phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo khả năng giải quyết những
rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho
việc giàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời
gian, đồng thời giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao
động, tiết kiệm chi cho cả Ngân sách nhà nướcvà ngân sách gia đình.

14


Quỹ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:
- Thứ nhất, đó là phần đóng góp của người sử dụng lao động, người lao
động và Nhà nước, đây là nguồn chiếm tỉ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ.
- Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ được
tổ chức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lời.
- Thứ ba, là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm
luật lệ về BHXH. Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được
hình thành từ các nguồn nêu trên. Tuy nhiên phương thức đóng góp và mức
đóng góp của các bên tham gia có khác nhau.
2 - Mục đích sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho hai mực đich sau đây:
- Chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH
được sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn định
cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tượng tham gia BHXH gặp
rủi ro. Thực chất là trợ cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lên trong
công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ:
1. Chăm sóc y tế

2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế

15


9. Trợ cấp cho người còn sống ( trợ cấp mất người ni dưỡng)
9 chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH . Tuỳ điều kiện
kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến
nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được ba chế độ.
Trong đó, ít nhất phải có một trong năm chế độ: (3), (4), (5), (8), (9). Mỗi
chế độ trong hệ thống trên khi xây dựng đều dựa trên những cơ sở kinh tế
xã hội tài chính, thu nhập, tiền lương .v.v…Đồng thời tuỳ từng chế độ khi
xây dựng cịn phải tính đến các yếu tố sinh học; tuổi thọ bình quân của
quốc gia, nhu cầu dinh dưỡng; xác suất tử vong…
Tuy nhiên, cơ sở để xác định điều kiện hưởng BHXH phải tính đến
một loạt các yếu tố liên quan đến toàn bộ hệ thống các chế độ cũng như
từng chế độ BHXH cụ thể. Chẳng hạn khi xác định điều kiện hưởng trợ cấp
BHXH tuổi già phải dựa vào cơ sở sinh học là tuổi đời và giới tính, của
người lao động là chủ yếu. Bởi vì tuổi già để hưởng trợ cấp hưu trí của mỗi
giới, mỗi vùng, mỗi quốc gia có những khác biệt nhất định. Do đó, co
những nước quy định: Nam 60 tuổi và Nữ 55 tuổi sẽ được nghỉ hưu. Nhưng
cũng có những nước quy định: Nam 65 tuổi và Nữ 60 tuổi.v.v…Hoặc khi
xác định điều kiện hưởng trợ cấp cho chê độ tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp phải tính đến các yếu tố như: Điều kiện và môi trường lao động;

bảo hộ lao động v.v…Các yếu tố này thường có quan hệ và tác động qua
lại với nhau ít nhiều ảnh hưởng đến điều kiện BHXH của từng chế độ và
toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH.
Thời gian hưởng trợ cấp và mức hưởng trợ cấp BHXH nói chung phụ
thuộc vào từng trường hợp cụ thể và thời gian đóng phí BHXH của người
lao động trên cơ sở tương ứng giữa đóng và hưởng. Đồng thời mức trợ cấp
cịn phụ thuộc vào khả năng thanh toán chung của từng quỹ tài chính
BHXH; mức sống chung của các tầng lớp dân cư và người lao động.

16


Nhưng về nguyên tắc, mức trợ cấp này không cao hơn mức tiền lương hoặc
tiền công khi người lao động đang làm việc và nó chỉ bằng một tỷ lệ phần
trăm nhất định so với mức tiền lương hay tiền công. Ở các nước kinh tế
phát triển do mức lương cao nên tỷ lệ này thường thấp và ngược lại ở
những nước đang phát triển do mức tiền lêong còn thấp nên phải áp dụng
một tỷ lệ khá cao. Ví dụ, ở pháp mức trợ cấp hưu trí chỉ bằng 50% mức
lương cao nhất ( với điều kiện đóng BHXH đủ 37,5 năm ), ốm đau được
hưởng trợ cấp bằng 50% tiền lương, thời gian nghỉ ốm được hưởng trợ cấp
không quá 12 tháng. Sinh con được hưởng trợ cấp BHXH bằng 90% tiền
lương trong vòng 16 tuần v.v…Còn ở Philipin, mức trợ cấp hưu trí từ 42%
đến 102%, tuỳ thuộc từng nhóm lương khác nhau, ốm đau được hưởng
65%, sinh con được nghỉ 45 ngày và được trợ cấp bằng 100% tiền lương
v.v…
Tuy vậy, việc các nước quy định trợ cấp BHXH bằng tỷ lệ phần trăm
so với tiền lương hay tiền công thường dẫn đến bội chi quỹ BHXH. Vì vậy,
một số nước đã phải tìm cách khắc phục như: trả ngay 1 lần khi nghỉ hưu,
hoặc suốt đời đóng theo tỷ lệ phần trăm của một mức thu nhập quy định và
hưởng cũng theo tỷ lệ phần trăm của mức quy định.

Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn
được sử dụng cho chi phí quản lý như: Tiền lương cho những người làm
việc trong hệ thông BHXH; khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và
một số khoản chi khác… Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lợi.
Mục đích đầu tư quỹ BHXH là nhằm bảo tồn và tăng trưởng nguồn quỹ.
Quá trình đầu tư quỹ BHXH phải đảm bảo ngun tắc: an tồn, có lợi
nhuận, có khả năng thanh tốn và đảm bảo lợi ích kinh tế- xã hội.

17


CHƯƠNG II

TÌNH HÌNH THU CHI QUỸ BHXH
TẠI PHỊNG BHXH HUYỆN GIAO THUỶ
I . VÀI NÉT GIỚI THIỆU VỀ BHXH HUYỆN GIAO THUỶ
Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 9
năm 1995 cùng với sự chia cắt hành chính của huyện Xuân Thuỷ thành huyện Xuân
Trường và huyện Giao Thuỷ. Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ chủ yếu thực hiện việc
thu – chi thuần tuý mà khơng kinh doanh loại hình bảo hiểm nào.

18


Phịng BHXH huyện Giao Thuỷ có tất cả 7 cán bộ viên chức, trong đó ơng
Nguyễn Cơng Hoan là Giám Đốc, bà Chu Thị Vân Ánh là Kế toán kiêm bộ phận chi,
bà Đặng Thị Dung phụ trách bộ phận hành chính, bà Phạm Thị Vóc và ơng Nguyễn
Thành Lý phụ trách bộ phận thu, ông Trần Hải Triều phụ trách bộ phận chính sách,
ơng Trần Mạnh Hùng phụ trách bộ phận y tế tự nguyện.
BHXH huyện Giao Thuỷ chịu sự quản lý trực tiếp của BHXH tỉnh Nam Định, có

con dấu và tài khoản riêng.
Sơ đồ vị trí của BHXH huyện Giao Thuỷ:
BHXH
Việt Nam

BHXH
Nam Định

BHXH
Giao Thuỷ
BHXH huyện Giao Thuỷ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ BHXH
tỉnh Nam Định giao cho gồm:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch cơng tác năm trình Giám đốc BHXH
tỉnh Nam Định phê duyệt và tổ chức thực hiện;
- Theo dõi, đốc thu BHXH 20% so với tổng quỹ lương (hiện nay là 23%
do y tế nhập vào 3%) trong đó thu 15% của chủ sử dụng lao động (hiện nay
là 17%) và 5% của người lao động (hiện nay là 6%);
- Chi trả các chế độ nghỉ ốm, thai sản cho đối tượng tham gia đóng góp
BHXH;

19


- Tổ chức việc chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH, cả việc chi pháp lệnh
người có cơng;
- Theo dõi tăng, giảm hàng tháng để lập danh sách chi trả lương hưu và trợ
cấp theo quy định;
- Tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo về chế độ, chính sách BHXH để giải
quyết theo thẩm quyền hoặc báo cáo với BHXH tỉnh xem xét giải quyết;
- Tiếp nhận, báo cáo kịp thời với BHXH tỉnh Nam Định các trường hợp

hưởng lạc trợ cấp BHXH, điều chỉnh lương hưu.
- Đối chiếu tờ khai với hồ sơ gốc để triển khai cấp sổ BHXH.
Hiện nay BHXH huyện Giao Thuỷ do có sự sáp nhập của BHYT nên
có một số nhiệm vụ và quyền hạn của BHYT như: cấp thẻ BHXH, tuyên
truyền, vận động, điều hành…
II. TÌNH HÌNH THU BHXH HUYỆN GIAO THUỶ
1 - Thu BHXH
1.1) Những vấn đề chung về thu quỹ BHXH
Thu quỹ BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH cùng với sự phối
hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở các quy định của pháp luật
nhằm tạo ra các nguồn tài chính tập trung (quỹ BHXH tập trung), từ việc
đóng góp của các bên tham gia BHXH và những nguồn tài chính bổ xung
khác.
Thu quỹ BHXH là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động
BHXH nói chung, nó đảm bảo cho sự tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ
tập trung và tạo ra nguồn tài chính để có thể tiến hành các hoạt động
BHXH. Do đó mà việc đóng góp vào BHXH của các bên tham gia BHXH
là sự tất yếu trong hoạt động BHXH, vì những lý do sau:

20


- Việc đóng góp quỹ BHXH đánh dấu sự đóng góp của những người
tham gia BHXH, là cơ sở để đo sự đóng góp của các bên tham gia BHXH.
- Tạo ra được nguồn tài chính tập trung từ đó có thể tiến hành thống nhất
các hoạt động BHXH.
- Nguồn thu của BHXH được hình thành từ ba nguồn chủ yếu: đóng góp
của người lao động, người sử dụng lao động và phần hỗ trợ từ Ngân sách
Nhà nước; nguồn thu này phản ánh rõ nét quan hệ ba bên trong BHXH, là
cơ sở để tạo ra các quan hệ khác trong BHXH.

- Thực chất, quan hệ ba bên trong BHXH là mối quan hệ về lợi ích do sự
đóng góp vào BHXH của các bên tham gia là mối quan hệ về lợi ích, từ
việc tham gia đóng góp BHXH các bên tham gia BHXH đều tìm kiếm
được lợi ích cho mình, người sử dụng lao động tìm kiếm lợi ích từ việc họ
sẽ bỏ ra ít chi phí hơn khi người lao động không may gặp phải những rủi
ro, người lao động được tìm kiếm lợi ích từ việc họ được hưởng các quyền
lợi khi họ không may gặp phải những rủi ro, Nhà nước đạt được mục tiêu
ổn định được xã hội, ổn định được mối quan hệ lợi ích giữa người lao động
và người sử dụng lao động trong xã hội để người lao động yên tâm tham
gia sản xuất thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển.
Từ đó có thể nói rằng, thu BHXH là một phần quan trọng không thể
thiếu được của hoạt động BHXH.
1.2) Công tác thu BHXH tại BHXH huyện Giao Thuỷ
Giao Thuỷ là một huyện có địa hình rất phức tạp: một mặt giáp với
biển, một mặt lại giáp với Sông Hồng nên ở đây tồn tại nhiều ngành nghề
khác nhau như: làm nông nghiệp (phần lớn), khu vực giáp với biển thì nhân
dân lại đánh bắt và ni thuỷ sản xuất khẩu (nhưng chưa có đủ quy mơ lớn
để trở thành công ty hay doanh nghiệp, mà hầu hết là tư nhân tự đứng ra

21


làm lấy với số lao động là con em trong gia đình họ) hoặc kinh doanh du
lịch; bãi tắm (Quất Lâm), làm muối…
Trên địa bàn huyện Giao Thuỷ hiện nay chưa có khu cơng nghiệp nào
mà chỉ có một vài xí nghiệp; cơng ty có quy mơ đủ lớn (đi th lao động)
ngồi các doanh nghiệp nhà nước có trên địa bàn, đó là: Xí nghiệp muối
Bạch Long, Cơng ty cổ phần xây dựng đường biển Hồng Hà, Công ty cổ
phần xây dựng đường biển Trường Giang. Các xí nghiệp hay công ty này
nằm rải rác trong huyện Giao Thuỷ mà không tập trung một chỗ.

Công tác thu BHXH ở BHXH huyện Giao Thuỷ ít nhiều gặp phải khó
khăn do địa hình phức tạp và mức độ tập trung của các nhà máy; xí nghiệp
này. Hơn thế nữa trụ sở của BHXH huyện Giao Thuỷ lại đặt ở đầu huyện,
nên bước đầu cơng tác thu BHXH cịn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là đội
ngũ cán bộ chun mơn cịn q ít hoặc nếu có thì trình độ chưa thực sự
tốt. Tuy vậy BHXH huyện Giao Thuỷ vẫn cố gắng hoàn thành các chỉ tiêu
về thu BHXH mà BHXH tỉnh Nam Định giao phó. BHXH huyện Giao
Thuỷ đã tiến hành lập danh sách chi tiết từng đơn vị; cơ quan tham gia
BHXH, từng cá nhân. Bên cạnh đó BHXH huyện Giao Thuỷ còn lập bảng
lương chi tiết của từng cá nhân, quỹ lương của từng cơng ty hay xí nghiệp
để làm căn cứ thu quỹ BHXH. Tại mỗi xã trong huyện, BHXH huyện Giao
Thuỷ đặt một ban có trách nhiệm thu – chi và báo cáo các trường hợp có sự
thay đổi mức đóng góp hay mức hưởng BHXH. Gần đến mỗi kỳ báo cáo;
tổng kết, BHXH huyện Giao Thuỷ đã cử cán bộ đến các cơ sở còn nợ đong
tiền BHXH hoặc dùng các biện pháp thông tin khác như: gọi điện thoại,
nhắn tin qua đài truyền thanh huyện Giao Thuỷ để đơn đốc, thu kịp thời,
tránh tình trạng nợ đọng lâu dài.
Vì vậy BHXH huyện Giao Thuỷ đã đạt được các chỉ tiêu về thu
BHXH, mức thu tăng nhanh rõ rệt, như năm 1995 chỉ có 633.124.098

22


×