Tải bản đầy đủ (.doc) (100 trang)

Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na butyrate vào khẩu phần ăn để cải thiện trạng thái chức năng của đường tiêu hoá và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt ở hát lót mai sơn sơn la

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (601.28 KB, 100 trang )

1

MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn ni lợn là một ngành có tầm quan trọng rất lớn trong đời sống xã
hội nói chung và ngành chăn ni nói riêng ở Việt Nam. Đây là nguồn cung
cấp một lượng lớn thực phẩm với chất lượng tốt, đảm bảo cho nhu cầu và đời
sống của con người. Nguyễn Thanh Sơn (2010) [...] tính tới thời điểm tháng 4
năm 2010 cả nước ta có 27,3 triệu đầu lợn. Trong đó có 4,18 triệu lợn nái.
Tổng sản lượng thịt ước tính trong 6 tháng đầu năm 2010 đạt 1,77 triệu tấn,
tăng hơn cùng kỳ năm 2009 khoảng 3,5%. Kết quả đạt được ở trên là có sự
đóng góp lớn của những tiến bộ kỹ thuật về giống, thức ăn dinh dưỡng.
Sơn La là một tỉnh có tiềm năng lớn về nguồn thức ăn nguyên liệu cho
chăn nuôi đặc biệt là ngô sản lượng ngô đạt 135,8 ngàn tấn /năm, Niên giám
thống kê Việt Nam (2007)[2] và cũng là một thị trường có tiềm năng tiêu thụ
lớn các sản phẩm về chăn nuôi nói chung và thịt lợn nói riêng (nhu cầu thực
phẩm cho nhân dân trong tỉnh và cung cấp cho hàng vạn công nhân công
trường thủy điện Sơn La). Giá thịt lợn tại thị trường Sơn La thường cao hơn
so với thị trường Hà Nội cùng thời điểm 10-15%. Tuy nhiên chăn nuôi lợn tại
đây phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường, nguồn con
giống và thịt lợn cịn phụ thuộc vào thị trường ngồi… và đây là một trong
những trở ngại lớn, nó khơng chỉ làm tăng giá sản phẩm mà còn là nguy cơ
làm lây lan dịch bệnh. Thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh đã nhập về một số
lượng lớn lợn nái ngoại, lợn nái lai, lợn đực giống ngoại và lợn đực lai như
lợn Landrace, Yorkshire, Duroc và lợn lai F1 (Landrace x Yorkshire), F1
(Pietrain x Duroc)…
Để phát huy hết khả năng sản xuất và chất lượng thịt của các giống lợn
này, ngoài việc cung cấp đầy đủ nhu cầu về các chất dinh dưỡng như: Protein,


2



axít amin, enzyme, vitamin… Ta thường phải sử dụng kháng sinh để phòng,
chống các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm khuẩn đường tiêu hố, đồng thời
để kích thích sinh trưởng ở lợn thịt. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong
chăn ni lợn sẽ gây tích lũy kháng sinh trong thịt gây ra tình trạng nhờn
thuốc, có hại cho sức khoẻ của con người. Hiện nay thế giới cũng như trong
nước đang có xu hướng hạn chế dần, tiến tới xố bỏ việc sử dụng kháng sinh
trong chăn ni và người ta đi tìm các sản phẩm thay thế kháng sinh, gồm
nhiều loại như: Probiotic, enzym, các axit hữu cơ, để vừa đạt được mục tiêu
của chăn nuôi lại vừa an tồn đối với vật ni và con người, cải thiện được
các chức năng tiêu hóa, phục hồi được tế bào ruột bị tổn hại, ức chế được vi
khuẩn gây bệnh, tăng chiều dài của lông tơ biểu mô đến 30% và tăng cường
khả năng miễn dịch ở gia súc, không để lại tồn dư và đảm bảo vệ sinh, an tồn
thực phẩm cho con người.
Chế phẩm axít hữu cơ: Na butyrate do Công ty Singao (Trung Quốc)
sản xuất đã được khuyến cáo là mang lại hiệu quả kinh tế cao và có ý
nghĩa lớn trong việc thay thế kháng sinh. Để khẳng định khả năng thay thế
kháng sinh của chế phẩm này trong điều kiện chăn nuôi nông hộ, trang trại
ở Sơn La, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ
sung Na butyrate vào khẩu phần ăn để cải thiện trạng thái chức năng của
đường tiêu hố và hiệu quả chăn ni lợn thịt ở Hát Lót - Mai Sơn - Sơn
La”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung Na butyrate, tới trạng thái chức
năng của đường tiêu hố theo hướng có lợi làm tăng sức hấp thu dinh dưỡng.
- Xác định được ảnh hưởng tốt của việc bổ sung Na butyrate, tới tốc độ
sinh trưởng nói riêng, hiệu quả chăn ni lợn thịt nói chung.


3


1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học:
Đề tài nghiên cứu được ảnh hưởng của chế phẩm Na butyrate đến trạng
thái, chức năng của đường tiêu hoá đến sinh trưởng, sức sản xuất thịt của đàn
lợn thịt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm môi
trường.
Những kết quả nghiên cứu này sẽ đóng góp vào kết quả nghiên cứu về
ứng dụng các chế phẩm Na butyrate, trong chăn nuôi lợn thịt hiện nay trên
địa bàn, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy,
học tập của ngành chăn ni thú y. Ngồi ra, đây còn là cơ sở khoa học cho
những nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao khả năng ứng dụng các chế
phẩm trong chăn nuôi lợn thịt.
*Ý nghĩa thực tiễn trong chăn nuôi lợn của tỉnh Sơn La
- Cung cấp chế phẩm Na butyrate, để mở rộng phát triển chăn nuôi
lợn thịt hướng nạc trong điều kiện hiện nay trên địa bàn tỉnh, góp phần vào
cơng tác chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi lợn
nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt theo hướng tạo ra sản phẩm chăn
ni an tồn.


4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá của lợn
2.1.1.1. Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa của lợn
Theo Hồng Tồn Thắng và cs (2006) [3] cho biết dạ dày lợn là dạ dày
trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần như: dạ dày đơn

vùng thực quản (nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị và
vùng hạ vị. Vùng thực quản khơng có tuyến, vùng manh nangvà thượng vị có
tuyến tiết ra dịch nhầy khơng có pepsin và HCl.
Theo Nguyễn Thiện và cs, (1998) [4], ruột non của lợn dài gấp 14 lần
chiều dài cơ thể gồm 3 phần: Phần tá tràng, khổng tràng và hồi tràng. Ruột
già dài khoảng 4 - 5 m gồm 3 đoạn: manh tràng, kết tràng và trực tràng.
Hệ tiêu hoá của lợn thay đổi khối lượng, kích thước và thể tích tuỳ
theo giống, thức ăn, phương thức chăn nuôi. Lợn nuôi theo hướng mỡ, chăn
thả, quảng canh ăn nhiều thức ăn thơ thì bộ máy tiêu hố to hơn, dài hơn so
với lợn hướng nạc. Do đặc điểm cấu tạo tiêu hố mà lợn có các đặc điểm tạp
ăn, chịu đựng kham khổ và có khả năng lợi dụng thức ăn thơ xanh cao, nhất
là nơi các giống lợn ít được chon lọc. Do ăn nhiều thức ăn thô xanh nên ruột
già của lợn tồn tại hệ vi kháng sinh vật có khả năng tiêu hố một phần
celluloza.
Đặc điểm của hoạt động thần kinh và thể dịch mà lợn có khả năng
tiêu hoá thức ăn cao. Để sản xuất ra một khối lượng cơ thể, lợn chỉ sử dụng
hết 4 - 6 kg thức ăn, trong khi đó bị phải ăn hết 8 - 12 kg và dê cừu phải ăn
hết 6 - 10 kg.
Dựa vào các đặc điểm sinh học của hệ tiêu hố nói trên chúng ta có
thể nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hoá của lợn,


5

để nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn.
2.1.1.2. Sinh lý tiêu hóa của lợn
Để nâng cao khả năng sinh trưởng, năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn
thịt, bên cạnh các biện pháp chọn giống, lai tạo giống thì việc tìm hiểu nắm
bắt các đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn để tác động các biện pháp kỹ thuật
chăm sóc ni dưỡng, chế biến thức ăn… là một vấn đề quan trọng. Ta biết

rằng lợn là loài gia súc ăn tạp, dạ dày của chúng có cấu tạo trung gian giữa dạ
dày đơn và dạ dày kép.
Trong quá trình phát triển các đặc điểm cấu tạo và chức năng của dạ
dày lợn hoàn thiện dần ngay từ trong bào thai và tiếp tục phát triển cho đến ra
ngoài mơi trường.
Theo A.V.Kvasnhiski (1951), cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển hơn
các cơ quan khác, khi còn ở trong bào thai bộ máy tiêu hóa đã hình thành đầy
đủ, song dung tích cịn nhỏ bé.
Bộ máy tiêu hóa của lợn bao gồm: Miệng, hầu, thức quản, dạ dày, ruột
non, ruột già.
Ở miệng trong nước bọt tiết ra có men tiêu hóa aminaza để tiêu hóa
tinh bột, vì lợn ăn nhanh nuốt liên tục nên tiêu hóa ở miệng rất ít mà chủ yếu
là tẩm ướt thức ăn rồi đẩy xuống dạ dày, ruột để tiêu hóa.
Dạ dày tiết ra dịch vị, các men tiêu hóa, khi thức ăn xuống dạ dày cơ
trơn nhào trộn thức ăn, cùng với đó là các men tiêu hóa thấm vào thức ăn.
Men trypsinogen nhờ tác dụng của axit HCL trở thành trypsin hoạt động,
men này thủy phân protid thành axit amin và peptid để dạ dày và ruột non
hấp thu. Ở dạ dày lợn nhu động yếu nên thức ăn có hiện tượng xếp lớp do
vậy những thức ăn bên ngoài được tiêu hóa trước. Hàm lượng HCL trong
dịch vị tăng dần để đạt tới sự ổn đinh gắn liền với sự hoàn chỉnh về cấu tạo
và chức năng của dạ dày lợn.Ở lợn con hàm lượng HCl là 0,05-0,15%, lợn 90


6

ngày tuổi 0,2-0,25 % còn ở lợn trưởng thành hàm lượng HCl là 0,35-0,40 %
(Nguyễn Thiện và cs (1998)[5]
Ruột non của lợn dài 14-18 m, tiêu hóa ở ruột non là nhờ tác dụng của
các dich tiêu hóa như: Dịch tụy, dịch ruột, dịch mật và các dịch tiết từ các cơ
quan tiêu hóa phía trên đưa xuống. Lợn có khối lượng 100 kg tiết 8 lít dịch

tụy trong một ngày đêm và sự phân tiết này còn phụ thuộc vào các loại thức
ăn, cách chế biến và cách cho ăn…
Theo A.V.Kvasnhiski (1951) lợn con 20- 30 ngày tuổi, dich tụy phân
tiết trong một ngày đêm 150-300 ml và sự phân tiết này tăng dần theo lứa
tuổi: 3 tháng tuổi là 3,5 lít và từ 7 tháng tuổi trở lên là 10 lít/ ngày đêm. Sự
biến đổi khả năng phân tiết dịch tụy theo tuổi trái với sự biến đổi của dịch vị.
Trong thời kỳ thiếu HCl trong dịch vị, hoạt tính của dịch tụy rất cao để bù lại
khả năng tiêu hóa kém của dạ dày. Ở lợn trưởng thành dịch vị dạ dày phân
tiết có tính liên tục nhưng không đều, khi ăn tiết nhiều, không ăn tiết ít hơn,
buổi sáng tiết ít hơn buổi chiều.
Các nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm phân tiết các loại dịch tiêu hóa,
các nhân tố ảnh hưởng… đã được tiến hành bởi các tác giả: Trần Cừ và cs
(1975) [6] và đi tới các nhận xét có ý nghĩa ứng dụng là: Số lượng và chất
lượng các loại dịch tiêu hóa ở đường tiêu hóa của lợn thay đổi phụ thuộc vào
loại thức ăn, phương pháp cho ăn và nhất là phương pháp chế biến thức ăn.
Nếu thức ăn được chế biến tốt sẽ nâng cao được hiệu suất tiêu hóa, tỷ lệ lợi
dụng thức ăn từ đó nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn.
Phần cuối cùng của bộ máy tiêu hóa là ruột già, ruột già dài khoảng 4
-5 m bao gồm manh tràng, kết tràng và trực tràng. Ở ruột già chủ yếu xảy ra
q trình tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải tạo ra sản
phẩm chính là axit lactic có tác dụng ức chế vi khuẩn gây thối và các vi sinh
vật có hại khác. Ruột già chủ yếu hấp thu nước và chất khoáng. Với protein


7

cịn lại trong thức ăn chưa được tiêu hóa hết, đến ruột già được vi khuẩn vật
gây thối ở ruột già phân giải thành các chất Crerol, Indon có tính độc, chúng
được hấp thu vào máu và được giải độc ở gan. Phần cặn bã đi vào kết tràng,
trực tràng và tạo thành phân đưa ra ngoài.

2.1.1.3. Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn
Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn con có vai trị nâng cao
sức sử dụng thức ăn đồng thời nâng cao sức đề kháng của cơ thể lợn. Sự phát
triển mạnh của vi khuẩn sinh axit và vi khuẩn tổng hợp các chất có hoạt tính
sinh học, đồng thời ức chế vi khuẩn gây thối là một q trình có lợi cho cơ thể
(Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [].
Ở dạ dày và ruột của động vật mới sinh ra chưa có vi khuẩn, sau vài
giờ thấy một vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đầu sinh sản dần. Hàng
ngày, một số loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sơi nảy nở
ở đó, chúng có thể bị biến đổi ít nhiều nhưng căn bản vẫn sống cho đến khi
con vật chết. Thành phần và số lượng của hệ vi sinh vật thay đổi tùy theo loại
thức ăn, nếu thức ăn nhiều gluxit thì vi khuẩn tạo axit trong ruột rất phát triển.
Có thể chia vi sinh vật thành 2 loại “ vi sinh vật tùy tiện” thay đổi tùy
theo loại thức ăn và loại “vi sinh vật bắt buộc” là loại vi sinh vật thích nghi
ngay được với môi trường đường ruột và dạ dày trở thành loại định cư vĩnh
viễn. Hệ vi sinh vật bắt buộc gồm: Steptococcus, lactic, lactobacterium, acid
ophilum, trực khuẩn lactic, E.coli (trực khuẩn ruột già), trực khuẩn đường
ruột. Trong đường ruột và dạ dày là một mơi trường có độ ẩm, dinh dưỡng
thuận tiện cho vi sinh vật phát triển, tuy nhiên sự phát triển của chúng có giới
hạn vì trong đường ruột và trong dạ dày có những chất kìm hãm sự phát triển
của vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn gây thối như mật, dịch vị và tác động
đối kháng của các vi khuẩn khác nhau.
* Hệ vi sinh vật ở khoang miệng


8

Khoang miệng là bộ phận đầu tiên của đường tiêu hóa, tiếp xúc với
thức ăn, nước uống và mơi trường sống bên ngồi, do đó có sự cảm nhiễm vi
sinh vật từ các nguồn trên. Trong nước bọt và dịch bài tiết của niêm mạc có

men kháng khuẩn lisozyme có tác dụng tiêu diệt một số vi sinh vật.
* Hệ vi sinh vật ở dạ dày
Trong dạ dày có một lượng axit HCL rất lớn (0,2%). Axit trong dịch vị
dạ dày có tác dụng ức chế với nhiều loại vi sinh vật, do vậy phần lớn vi sinh
vật từ thức ăn, nước uống đưa vào đều bị tiêu diệt. Số lượng vi khuẩn ở dạ
dày rất ít do tác dụng diệt khuẩn của axit dạ dày gồm các vi khuẩn lên men
(Saccharomyces minor, vidiumlactic) trực khuẩn lactic (Lacto bacillus
beljerincke…). Ngoài ra cịn có trực khuẩn phó thương hàn đi qua dạ dày
xuống ruột.
* Hệ vi sinh vật của ruột non
Ruột non chiếm 2/3 đến 3/5 chiều dài ruột nhưng lượng vi khuẩn lại
rất ít. Khi dịch vị dạ dày vào ruột non vẫn cịn tác dụng sát khuẩn, ngồi ra
dịch do niêm mạc bài tiết ra cũng có tác dụng sát khuẩn…, ở ruột non chứa
một số ít vi khuẩn có trong dạ dày xuống. Trong ruột non chủ yếu là E.coli,
cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí có nha bào, Aerobacter aerogenes. Ở
gia súc non có thêm Steptococcus lactic, trực khuẩn lactic Lactobacterium
bulgaricum, từ hồi tràng số lượng vi khuẩn bắt đầu tăng lên.
* Hệ vi sinh vật của ruột già
Số lượng vi sinh vật ở ruột già tăng hơn nhiều so với ruột non do tác
dụng khử trùng của ruột đã khơng cịn, mà các điều kiện về dinh dưỡng, độ
ẩm, nhiệt độ lại thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật.
Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn có nha bào
entrococcus. Gia súc trưởng thành E.coli chiếm 75% trở lên. Trong ruột già
của động vật ngoài hệ vi sinh vật hoại sinh cịn có hệ vi sinh vật gây bệnh


9

nhưng chưa thể hiện bằng triệu chứng lâm sàng: Vi khuẩn phó thương hàn, vi
khuẩn brucella, uốn ván (Nguyễn Vĩnh Phước, 1980) [].

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995) [] trong hệ tiêu hóa của động vật, hệ
vi sinh vật luôn luôn ổn định đảm bảo cân bằng cho hệ tiêu hóa, khi đó phần
lớn các vi khuẩn có lợi là vi khuẩn lactic, vi khuẩn này chiếm 90% và hoạt
động hữu ích cho đường ruột. Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ thì những vi
khuẩn có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn đường tiêu hóa, gây tiêu chảy
(nhất là lợn con theo mẹ), loại vi khuẩn thường gặp là E.coli và samonella…
2.1.2. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng ở lợn thịt
2.1.2.1. Cơ sở di truyền học của sự sinh trưởng
Một số tính trạng năng suất của lợn đều có chung bản chất di truyền
như với các giống gia súc khác, nhưng những biểu hiện cụ thể về giá trị kiểu
hình của các tính trạng ấy lại mang các đặc thù riêng do các gen quy định về
di truyền của từng loài. Theo Nguyễn Ân và cs, 1983 [7], 1994 [2]; Trần Đình
Miên và cs, (1995)[8]; Nguyễn Văn Thiện và cs 1995 [9] , 1998 [10]: hầu hết
các tính trạng về năng suất hay tính trạng có giá trị kinh tế của gia súc như:
khả năng cho thịt, khả năng sinh sản, sinh trưởng, cho sữa, cho lơng, cho da…
đều là các tính trạng số lượng. Ở các tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình
(Phenotype Value – P) của tính trạng do giá trị kiểu gen (Genotyp value – G)
và sai lệch môi trường (Environmental deviation – E) quy định. Quan hệ này
được biểu thị bằng công thức P = G + E.
Khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng
do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gene) cấu tạo thành. Đó là gen mà hiệu
ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có
ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là hiện
tượng đa gen (Polygene). Các minor gen này tác động lên tính trạng theo 3


10

phương thức: cộng gộp, trội và át gen. Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể
hiện qua công thức: G = A + D + I. Trong đó:

A: là giá trị cộng gộp hay giá trị giống (Additive value or Breeding
value)
D: là sai lệch trội (Dominance deviation)
I: là sai lệch tương tác (Interaction deviation)
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác
định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trị
quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thấp nhất con
đường thực nghiệm.
Các tính trạng số lượng cịn chịu ảnh hưởng của sai lệch mơi trường (E)
gồm có 2 loại:
- Sai lệch mơi trường chung (Eg): (General Environmental deviation) là
sai lệch do các nhân tố môi trường tác động thường xuyên lên tính trạng một
cách lâu dài. Các yếu tố đó là: thức ăn, khí hậu, chế độ chăm sóc… tác động
lên một nhóm cá thể hay một quần thể gia súc (Nguyễn Văn Thiện và cs
1995, 1996 [11], [50, 3 – 798]).
- Sai lệch môi trường riêng (Es): (Special Environmental deviation) là
sai lệch do các nhân tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể riêng biệt
trong nhóm vật ni, hoặc một vài bộ phận riêng biệt của một cá thể nào đó
trong quần thể trong một thời gian ngắn và không thường xuyên, [12].
Như vậy khi giá trị kiểu hình của một tính trạng nào đó chi phối bởi từ
2 locus trở lên thì giá trị ấy được biểu thị như sau: P = G + E = A + D + I +
Eg + Es.
Từ những phân tích ở trên cho thấy, các tính trạng năng suất ở lợn cũng
như ở các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các
yếu tố môi trường. Các vật nuôi khác nhau đều nhận được từ bố mẹ chúng


11

một vốn di truyền nhất định. Nhưng tiềm năng di truyền ấy thể hiện cao hay

thấp phụ thuộc rất lớn vào môi trường sống của chúng, đặc biệt là các yếu tố:
khí hậu, thức ăn, ni dưỡng, chăm sóc quản lý. Vì thế trong cơng tác giống
lợn, chúng ta muốn cải tiến các đặc điểm di truyền của giống lợn địa phương
nhằm nâng cao năng suất, cần thiết phải thay đổi kiểu gen (G) qua việc tiến
hành chọn lọc chặt chẽ giá trị gây giống (A), lai tạo để có những tổ hợp gen
mới (D và I), kết hợp với việc cải tiến và tăng cường các biện pháp tác động:
thức ăn, ni dưỡng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ… để khai thác tốt tiềm năng
di truyền và khả năng sản xuất của mỗi phẩm giống.
2.1.2.2.Sự sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng ở lợn
-Khái niệm về sự sinh trưởng
Trong quá trình sinh trưởng sự tăng số lượng tế bào và tăng thể tích tế
bào do kết quả của q trình đồng hóa là quan trọng nhất (Trần Đình Miên và
cs, 1975, 1992 [13], 48 – 79.
Quá trình phát triển của cơ thể là quá trình đồng hóa các vật chất dinh
dưỡng, các chất dinh dưỡng lấy vào cơ thể vừa là điều kiện để tế bào sinh sơi,
nảy nở, vừa là cơ sở để hình thành chất trong tế bào và giữa các tế bào, đó là
protein, lipit, gluxit và các chất khống…Đàm Văn Tiện và cs (1992) [14].
Chambers, 1990 [15], cũng cho rằng: quá trình sinh trưởng là sự tổng hợp sự
sinh trưởng của các phần cơ thể như thịt, xương, da, mỡ…
Về mặt sinh học, sinh trưởng ở lợn được xem là sự tăng cường tổng
hợp protein trong các mơ bào, vì thế thường lấy việc tăng khối lượng và kích
thước các chiều làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Quá trình này thể
hiện ở ba mặt:
Phân chia tế bào để làm tăng số lượng tế bào.
Tăng thể tích của mỗi tế bào.
Tăng thể tích giữa các tế bào.


12


Người ta biết rằng sinh trưởng của gia súc là một q trình mang 3 đặc
tính: tốc độ, thời gian và tính chất diễn biến. Tốc độ sinh trưởng biểu thị sự
tăng khối lượng, thể tích, kích thước các chiều cơ thể trong một khoảng thời
gian nhất định. Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian xác định để cân đo
và tính tốc độ sinh trưởng nói trên (Trần Đình Miên và cs, 1975 [16]). Một số
tác giả như G.A.Clayton, T.C.Powell, (1979) [17] và A.S.Marco, 1982 cho
biết: tốc độ sinh trưởng là tính trạng có hệ số di truyền cao (h 2 = 0,4 – 0,5) và
liên quan chặt chẽ tới các đặc điểm trao đổi chất đặc trưng cho từng dòng,
giống, cá thể. Từ tất cả các quan điểm trên, có thể rút ra bản chất sinh học về
sự sinh trưởng ở lợn cũng như các gia súc như sau: sinh trưởng là một q
trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều dài,
chiều cao, bề ngang, thể tích, khối lượng các cơ quan bộ phận và toàn bộ cơ
thể con vật trên cơ sở các tính chất di truyền từ đời trước truyền lại (Trần
Đình Miên và cs, 1975 [20]).
- Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng
Trong chăn nuôi lợn và các gia súc, gia cầm người ta thường dùng 3 chỉ
tiêu đánh giá tốc độ sinh trưởng là sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối
và sinh trưởng tương đối.
Sinh trưởng tích lũy: Là sự tăng lên về khối lượng cơ thể, kích thước
theo thời gian khảo sát
Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, thể tích và kích
thước các chiều cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát (TCVN,
1977) [18], đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn có dạng Parabol.
Tốc độ sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối
lượng, thể tích và kích thước các chiều cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc
đầu khảo sát (TCVN, 1977) [19]. Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn có
dạng Hyperbol, tốc độ sinh trưởng tương đối giảm dần theo tuổi của gia súc.


13


- Các chỉ tiêu đánh giá năng suất thịt
Khối lượng sống: là khối lượng giết mổ của lợn sau khi cho nhịn ăn 24
giờ.
Khối lượng thịt móc hàm (kg) và tỷ lệ thịt móc hàm (%)
Khối lượng thịt móc hàm là khối lượng thịt lợn sau khi đã chọc tiết, cạo
lơng, mổ lấy hết cơ quan nội tạng.
Tỷ lệ móc hàm là tỷ lệ giữa khối lượng móc hàm và khối lượng sống.
Khối lượng thịt xẻ (kg) và tỷ lệ thịt xẻ (%)
Khối lượng thịt xẻ là khối lượng móc hàm trừ đi khối lượng đầu, 4
chân, đuôi và hai lá mỡ.
Tỷ lệ thịt xẻ là tỷ lệ giữa khối lượng thịt xẻ và khối lượng sống.
Tỷ lệ nạc (%)
Thịt nạc là thành phần quan trọng nhất có giá trị trong thịt xẻ. Tỷ lệ nạc
càng cao thì chất lượng thịt càng cao và ngược lại. Tỷ lệ nạc của các giống
cao sản như Yorkshire, Landrace, Pietrain… từ 55 - 64%. Hiện nay chúng ta
đang cố gắng nâng cao tỷ lệ nạc của các giống lợn trong nước bằng cách cho
lai với các giống lợn cao sản.
Tỷ lệ mỡ, tỷ lệ da và tỷ lệ xương (%)
Mỡ lợn ít được dùng làm thực phẩm ở những nước phát triển, tuy
nhiên ở các nước đang phát triển, mỡ lợn rất cần thiết cho nhu cầu con
người vì đó là nguồn cung cấp năng lượng cao. Xu hướng hiện nay người
ta đang cố gắng giảm dần tỷ lệ mỡ của lợn xuống do nhu cầu về thịt nạc
của người tiêu dùng ngày càng cao.
Tỷ lệ xương và da phụ thuộc vào giống lợn. Các giống lợn nội có tỷ lệ
xương thấp hơn các giống lợn đã được cải tiến, tỷ lệ xương biến động trong
khoảng 9 - 12%.
Tỷ lệ lệ hao hụt (%)



14

Tỷ lệ hao hụt của thịt xẻ thể hiện tỷ lệ nước chứa trong thịt cao hay
thấp, nói lên chất lượng thân thịt, chế độ nuôi dưỡng và thời tiết khí hậu làm
thí nghiệm. Nhìn chung tỷ lệ hao hụt càng nhỏ càng tốt.
2.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
2.1.3.1 Yếu tố bên trong
* Ảnh hưởng di truyền của dịng, giống cá thể
Trong chăn ni gia súc, dịng, giống có thể có ảnh hưởng rất lớn tới sự
sinh trưởng. Con sinh ra tiếp thu từ bố mẹ và truyền lại cho đời sau khả năng
sinh trưởng mang tính đặc thù của dịng, giống. Tính di truyền về khả năng
sinh trưởng ảnh hưởng tới năng suất vật nuôi. Ảnh hưởng của dòng, giống
đến sự sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu và khẳng định trên các loại
gia súc gia cầm.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [26] cho biết: Yếu tố di truyền là
một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh
trưởng phát dục của lợn. Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các
quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau. Do
ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự
khác nhau giữa các giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã được cải tiến
cũng như các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn. Sự
khác nhau này không những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà
cịn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã
hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợn
hướng nạc, hướng mỡ.
Nguyễn Thiện và cs (2005) [27] cho rằng: Giống cũng là một yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất
thịt. Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những
giống lợn ngoại nhập nội. Lợn Ỉ, Móng Cái ni 10 tháng tuổi trung bình



15

đạt khoảng 60 kg. Trong khi đó các giống lợn ngoại (Landrace,
Yorkshire…) ni tại Việt Nam có thể đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi.
*Điều khiển quá trình trao đổi chất của các hormone
Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và
giữ cân bằng các chất trong máu. Trong thời kỳ đầu tiên của q trình sống,
kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của
tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng. Về sau điều khiển q
trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên. Hormon của thuỳ trước
tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho
sinh trưởng của cơ thể. Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [28]:
STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể
bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát
triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài). Khi thiếu hoặc thừa loại
hormon này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé (nanismus) hoặc quá to
(gigantismus). Vào thời kỳ thành thục về tính, các hormon sinh dục như hormon
của dịch hoàn và buồng trứng (androgen và oestrogen) tham gia vào quá trình
điều khiển hoạt động sinh dục của cơ thể và hình thành nên các đặc tính sinh dục
thứ cấp. Hormon sinh dục của con cái tạo ra từ buồng trứng cũng có tác động
đáng kể đến sinh trưởng của lợn. Ngoài ra các loại hormon của các tuyến như
tuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia điều tiết sự phát triển của bộ
xương và cơ.
2.1.3.2. Yếu tố bên ngồi
Trong chăn ni lợn ngồi việc cải tiến giống thì thức ăn dinh dưỡng là
một yếu tố quyết định đến khả năng sinh trưởng và phát triển.
*Vai trò và nhu cầu về protein, axit amin đối với lợn nuôi thịt.
Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [29]: Protein là nhóm chất
hữu cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ. Protein đảm nhiệm nhiều chức



16

năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào. Quá trình sinh
trưởng của lợn là quá trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng protein
trong cơ thể rất cao. Các cơ quan bộ phận khác nhau có hàm lượng protein
khơng giống nhau. Protein có nhiều nhất trong cơ từ 30 – 35% so với tổng
lượng protein trong cơ thể.
Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích lũy
protein lớn, do đó địi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao. Nếu trong khẩu
phần thiếu protein thì sinh trưởng của lợn con sẽ giảm hoặc ngừng, khả năng
sống kém. Nhu cầu protein trong thức ăn bổ sung cho lợn là 16- 18%. Trong q
trình chăn ni thâm canh người ta đề nghị hàm lượng protein trong khẩu phần
là 22- 24%.
Axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein. Theo Từ Quang
Hiển và cs (1995) [30] vai trò của các axit amin trong cơ thể rất đa dạng, nó là
thành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ thể chính là nhu cầu
về axit amin. Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo mức
cân đối các axit amin trong thức ăn, nhưng axit amin nào nằm ngoài cân đối
sẽ bị oxy hóa cho năng lượng. Do vậy, nếu cung cấp axit amin theo tỷ lệ cân
đối sẽ nâng cao hiệu quả lợi dụng protein, tiết kiệm được protein thức ăn.
Một thí nghiệm của Metz nghiên cứu trên lợn sinh trưởng cho biết, với
yêu cầu tăng trọng 585g/con/ngày, nếu khẩu phần cân bằng các axit amin thì
protein thơ cần 11- 12%, nhưng nếu khẩu phần mất cân đối axit amin thì cần
20- 22% protein thơ.
Trong các loại thức ăn hàm lượng các loại protein rất khác nhau. Một
số loại giàu protein động vật như cá, bột cá, bột thịt, bột máu, tôm, cua,
trứng sữa...Một số loại protein thực vật như các loại đậu, đỗ và sản phẩm
phụ của nó.



17

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [...] cho biết: nói chung lợn con tiêu
hóa protein một cách dễ dàng, nhưng do nguồn gốc của thức ăn (động vật hay
thực vật) và bản chất protein khác nhau nên sự tiêu hóa có những đặc điểm
khác nhau quan trọng.
Nhu cầu protein và axit amin cho lợn thịt qua các giai đoạn tuổi
Khối lượng(kg)

Giai đoạn

Giai đoạn

10- 35 (kg)
16
0,70
0,20
0,50
0,60
0,45
0,70
0,45
0,12
0,50

Chỉ tiêu
Protein thô (%)
Lizin

(%)
Arginine
(%)
Izoloxin
(%)
Loxin
(%)
Methionin
(%)
Phenyalanin (%)
Treonin
(%)
Triptophan (%)
Valin
(%)

Giai đoạn

10- 35 (kg)
14
0,61
0,18
0,44
0,52
0,40
0,61
0,39
0,11
0,44


10- 35 (kg)
13
0,57
0,16
0,41
0,48
0,30
0,57
0,37
0,10
0,41

*Vai trò và nhu cầu về năng lượng đối với lợn nuôi thịt
Song song với việc cung cấp đầy đủ nhu cầu về protein và axit amin thì
chúng ta cần cung cấp đầy đủ và cân bằng về năng lượng.
Năng lượng có ảnh hưởng quyết định đến việc sử dụng vật chất dinh
dưỡng trong thức ăn phù hợp với từng loài, giống, tuổi, chức năng sản xuất.
Năng lượng trong thức ăn được sử dụng cho các hoạt động sống của cơ
thể và hình thành nên các hợp chất hữu cơ của tế bào. Chất cung cấp năng
lượng chu yếu là gluxit như: Tinh bột, đường, xơ....Hàng ngày gluxit đảm bảo
từ 70-80% nhu cầu dinh cầu vềdưỡng của lợn. Nếu thiếu lợn sẽ gầy yếu, còi
cọc, chậm lớn.
Nhu cầu về năng lượng của lơn thịt
Chỉ tiêu

Lợn con

Lợn choai

Lợn vỗ béo



18

(10-20) kg
(20-25) kg
(50-90) kg
Nội Lai
Ngoại Nội
Lai Ngoại Nội Lai
Ngoại
NLTĐ
(Kcalo/kg) 3000
15
Protein
thô (%)
Lyzin (%)

0,9

3200
17

3200
19

2800
12

2900

15

3000
17

2800
10

2900
12

3000
14

1,0

1,1

0,6

0,7

0,8

0,5

0,6

0,7


*Vai trị và nhu cầu về khống chất đối với lợn nuôi thịt.
Theo Từ Quang Hiển và cs (2003) [32] gia súc non cần được cung cấp
đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các q trình xảy ra
trong cơ thể. Nếu tính theo mức tăng trọng thì khống chất chiếm 3 - 4% khối
lượng cơ thể tăng. Nếu so với bộ xương thì khoáng chất chiếm 26% khối lượng
xương tăng.
Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơn
gia súc trưởng thành. Q trình trao đổi khống mà chủ yếu là trao đổi canxi
và phot pho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non. Khi gia súc còn non khả năng tích
luỹ canxi, phot pho cao. Tuổi càng tăng, khả năng tích luỹ giảm. Nhìn chung,
gia súc non yêu cầu can xi lớn hơn phot pho, càng lớn và trưởng thành nhu
cầu can xi giảm, nhu cầu phot pho tăng lên. Để đảm bảo cho q trình tiêu
hố hấp thu và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh được hiện tượng còi
xương. Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đối
với gia súc non tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,5-2/1).
* Vai trò và nhu cầu về vitamin đối với lợn ni thịt
Vitamin là loại vi chất dinh dưỡng, nó rất cần thiết để xúc tác cho mọi
quá trình trao đổi chất cho sinh trưởng của động vật.
Trong các loại Vitamin thì, Vitamin A và Vitamin D là hai loại
Vitamin quan trọng nhất cho sinh trưởng.Trong đó Vitamin A xúc tiến q
trình sinh trưởng, nếu thiếu vitamin A có thể dẫn đến mù lòa, tốc độ sinh


19

trưởng giảm, lơng xù, gầy cịm, năng suất sinh sản thấp, gây bệnh bần huyết
ở lợn con, xù lông, da khô ở lợn sinh trưởng. Vitamin D cần thiết cho sự trao
đổi can xi, phốt pho để phát triển bộ xương. Nhu cầu của lợn thịt về Vitamin
A và D theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm 1995 là: tiêu chuẩn của Tây
Đức (DLG) cho kết quả tốt hơn cả gồm vitamin A = 2000 UI/kg thức ăn,

vitamin D = 2500 UI, vitamin E = 10- 15mg.
Nhu cầu Vitamin của lợn được thỏa mãn từ nguồn rau xanh, ngũ cốc
và Vitamin được tổng hợp bổ sung vào thức ăn ở dạng Premix.
- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường: Nhiệt độ mơi trường khơng chỉ ảnh
hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát
triển của cơ thể. Nếu nhiệt độ mơi trường khơng thích hợp thì sẽ khơng thể
đảm bảo q trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt
của cơ thể lợn. Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loại lợn
khác nhau phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng. Một số cơng
trình nghiên cứu chứng minh rằng khi nhiệt độ ni trường xuống thấp (dưới
5,5oC) thì lợn con bú sữa có nhu cầu về vitamin B2 cao hơn rất nhiều khi nhiệt
độ môi trường là 29oC.
Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp, lợn sẽ thất thốt nhiệt rất nhiều, vì lẽ đó
ở lợn con và lợn ni thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng lượng
tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng. Nhiệt độ thích hợp cho lợn nuôi
béo từ 15 - 18oC, cho lợn sinh sản khơng thấp hơn 10 - 11 oC. Nhìn chung, khi
lợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết thân nhiệt càng hoàn
thiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt càng giảm xuống.
Nhiệt độ chuồng ni có liên quan mật thiết với ẩm độ khơng khí, ẩm
độ khơng khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%.
- Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của
lợn. Khi nghiên về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng ánh


20

sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị
và lợn sinh sản hơn là đối với lợn vỗ béo. Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh
hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao đổi khoáng.
Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu khơng đủ ánh sáng thì tốc độ tăng

khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so với lợn con
được vận động dưới ánh sáng mặt trời.
Đối với lợn vỗ béo nhu cầu về ánh sáng thấp hơn, đặc biệt sau khi lợn ăn
xong. Trong thực tế ở một số trang trại, người ta đã giảm cường độ chiếu sáng
xuống mức tối thiểu cho lợn vỗ béo, đặc biệt cho các giống lợn cao sản (do các
giống lợn sinh sản sinh trưởng nhanh, thời gian ni ngắn) và cũng khơng có
một phát hiện nào về ảnh hưởng của thiếu ánh sáng đối với lợn vỗ béo.
Việc đảm bảo đủ ánh sáng đối với lợn sinh sản gồm cả lợn đực và lợn
nái đều có ý nghĩa rất quan trọng, khơng chỉ đối với q trình trao đổi các
chất khống trong cơ thể mà còn đối với các chức năng sinh sản như biểu hiện
động dục, sự phát triển của phôi ở lợn nái, việc sinh tinh và các phản xạ nhảy
giá của lợn đực. Trong chăn nuôi công nghiệp khi thiết kế chuồng trại cần chú
ý đảm bảo đủ ánh sáng theo nhu cầu của các loại lợn, đặc biệt đối với lợn con
và lợn sinh sản.
- Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát
triển lợn đã nêu trên cịn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc,
ni dưỡng, tiểu khí hậu chuồng ni như khơng khí, tốc độ gió lùa, nồng độ
các khí thải... Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của
từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa.


21

2.2. Một số nét chính về tiêu chảy, nguyên nhân gây tiêu chảy
2.2.1. Hội chứng tiêu chảy ở lợn
Tiêu chảy là một hội chứng lâm sàng của hội chứng bệnh lý đặc thù của
đường tiêu hoá. Hiện tượng lâm sàng xuất phát từ nguyên nhân, triệu chứng, đặc
điểm và tính chất của bệnh và được gọi với nhiều tên khác nhau.
- Tên chung nhất: Hội chứng tiêu chảy (Dyspepsia)
- Bệnh tiêu chảy không nhiễm trùng

- Bệnh phân sữa (Milk- Scours)
Tiêu chảy là triệu chứng của bệnh truyền nhiễm như: Phó thương hàn,
E.coli, viêm dạ dày ruột truyền nhiễm, dịch tả, Rotavirus.
Tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn ni, xuất hiện ở 3 giai
đoạn chính (chia theo lứa tuổi)
Giai đoạn 1: sơ sinh tới vài ngày tuổi
Giai đoạn 2: lợn con theo mẹ
Giai đoạn 3: lợn con sau cai sữa
Ở nước ta bệnh tiê

×