MỤC LỤC
Trang
Mục lục 01
PHẦN MỞ ĐẦU 02
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI 05
1.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI NGOÀI TRIẾT HỌC
MÁC – LÊ NIN 06
1.2. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN VỀ BẢN CHẤT
CON NGƯỜI 07
1.2.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với mặt xã
hội 08
1.2.2. Con người là chủ thể của lịch sử, mục tiêu của sự phát triển xã hội
09
1.2.3. Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội 12
1.3. CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (CNXH) LÀ SỰ PHÁT TRIỂN TOÀN
DIỆN CỦA CON NGƯỜI 13
CHƯƠNG 2 – ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON
NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 15
2.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ NHÂN
TỐ CON NGƯỜI 15
2.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT
NAM HIỆN NAY 15
2.2.1. Trên phương diện con người là động lực của sự phát triển xã hội- -15
2.2.2. Trên phương diện con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội- -16
2.3. NHỮNG NHIỆM VỤ CƠ BẢN ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 18
2.3.1. Xây dựng tư tưởng đạo đức và lối sống 18
2.3.2. Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo 20
2.3.3. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 22
2.3.4. Xây dựng môi trường văn hóa 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong triết học, con người là một đề tài lớn, nghiên cứu vấn đề con
người có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của thế giới, là vấn đề được
các nhà triết gia của mọi thời đại bao gồm cả phương Đông và phương Tây
quan tâm nghiên cứu. Trong các hệ thống tư tưởng đó, vấn đề con người
trong triết học Mác – Lê nin được nghiên cứu và trình bày một cách bao
quát, đặc sắc và mang tính khoa học nhất. Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã kết
luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng
vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà con người
còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của sự tiến bộ xã hội. Đặc biệt khi xã
hội loài người ngày càng phát triển và đạt đến trình độ văn minh cao cấp
như hiện nay.
Đối với một quốc gia bất kỳ, trong các điều kiện và nguồn lực để phát
triển kinh tế - xã hội. Nhân tố con người (nguồn nhân lực) luôn giữ một
vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển đó. Nguồn nhân lực có dồi
dào, có đủ mạnh về tri thức… để thúc đẩy sự phát triển hay không? Trên
thế giới, các quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh như Hoa Kỳ, Nhật
Bản, các nước Tây Âu… Đều là những quốc gia có nhân tố con người có
trình độ tri thức rất cao để đáp ứng nhu cầu phát triển công ngiệp và hiện
đại hóa đất nước. Với các quốc gia chậm phát triển và đang phát triển thì
nhân tố con người càng có vai trò quan trong hơn nữa trên tiến trình CNH
– HĐH đất nước.
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và đang thực hiện mạnh mẽ
quá trình CNH và HĐH đất nước. Với đà phát triển như vậy thì việc chú
trọng nghiên cứu nhân tố con người là một yêu cầu và nhiệm vụ cấp bách
mà Đảng và Nhà nước ta phải thực hiện. Con người Việt Nam với rất
2
nhiều tố chất và năng lực tốt đẹp đã được chứng minh trong lịch sử dân tộc
và cho đến ngày nay. Với những lý luận về vấn đề con người được trình
bày khoa học trong triết học Mác – Lê nin và được đúc kết sâu sắc trong tư
tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề đặt ra là phát huy nhân tố con người Việt
Nam hiện nay.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Với việc nghiên cứu đề tài tiểu luận triết hoc: “Vấn đề con người
trong triết học Mác – Lênin và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp
công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” nhằm đạt những mục đích sau:
• Đối với cá nhân tôi:
- Củng cố những kiến thức triết học thời đại học của mình .
- Rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học dựa trên việc tìm kiếm và
tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau.
• Đối với nội dung đề tài:
- Tìm hiểu khái quát những quan điểm về vấn đề con người được đề
cập trong triết học Mác – Lê nin.
- Quan điểm của Đảng ta về nhân tố con người
- Tìm hiểu cách phát huy yếu tố con người việt nam hiện nay.
- Những nhiệm vụ cơ bản xây dựng con người việt nam hiện nay.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích của đề tài này, tác giả cần thực hiện những
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tham khảo và chọn lọc tài liệu từ nhiều nguồn.
- Nghiên cứu lý luận về vấn đề con người trong triết học Mác - Lê
nin
- Vận dụng lý luận về con người trong triết học Mác – Lênin để xây
dựng mục đích phát triển con người Việt Nam hiện nay.
3
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề hoàn thành đề tài tiểu luận triết học này tôi đã sử dụng một số
phương pháp sau:
• Phương pháp sưu tầm và tổng hợp tài liệu: Đây là phương pháp
được vận dựng nhiều nhất khi thực hiện đề tài này. Tác giả đã tham khảo rất
nhiều nguồn tài liệu như các loại sách có liên quan, các bài báo, bài viết trên
tập chí và trên mạng internet. Từ các nguồn tài liệu tham khảo tác giả đã trích
dẫn và tổng hợp thành một bài hoàn chỉnh.
• Phương pháp luận vấn đề: Đây là một phương pháp vô cùng quan
trọng trong nghiên cứu triết học và cả với các lĩnh vực khoa học khác. Với đề
tài này, từ việc nghiên cứu những quan điểm chung nhất của Triết học Mác –
Lê nin về vấn đề con người. Cùng với việc xem xét những quan điểm chỉ đạo
Của Đảng ta, tác giả phân tích đến vai trò, vị trí của con người Việt Nam hiện
nay. Cuối cùng, tác giả luận vấn đề đưa ra những nhiệm vụ cụ thể cho sự phát
triển con người. Tức là từ những triết lý chung nhất và phố biến nhất, tìm hiểu
đến những cái riêng và chi tiết của vấn đề nghiên cứu.
• Phương pháp tư duy biện chứng: Trên cơ sở tìm hiểu những quan
điểm triết học Mác – Lê nin về vấn đề con người tôi đã vận dụng và quán triệt
các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật để tìm
hiểu vai trò của nhân tố con người trong sự nghiệp CNH – HĐH ở nước ta, để
từ đó vận dụng những quan điểm triết học Mác – Lê nin đưa ra nhiệm vụ xây
dựng con người Việt Nam phù hợp với giai đoạn hiện nay.
5. KẾT CẤU TIỂU LUẬN
Phần mở đầu:
Chương 1 Cơ sở lí luận về vấn đề con người
1.1. Một số quan niệm về con người ngoài triết học Mác – Lênin.
1.2. Quan niệm của triết học Mác – Lê nin về bản chất con người
4
Phần vận dụng :
Chương 2 Định hướng phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay
2.1. Quan điểm của đảng ta về vấn đề con người
2.2. Định hướng phát triển nhân tố con người Việt Nam hiện nay
2.3. Những nhiệm vụ cơ bản định hướng phát triển nhân cách con người
Việt Nam hiện nay
5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI
1.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI NGOÀI TRIẾT HỌC
MÁC – LÊNIN
Trong lịch sử triết học, con người là một đề tài được các triết gia triết
học phương Đông và phương Tây quan tâm nghiên cứu. Có rất nhiều quan
điểm khác nhau về con người đã được đưa ra, có thể chú ý đến những quan
điểm sau:
Quan điểm triết học trước Mác, coi con người là một thực thể tự nhiên
– thực thể xã hội. Song họ cũng không vượt qua tính chất siêu hình và thậm
chí còn là duy tâm. Theo triết học Phương Đông với sự chi phối bởi thế giới
quan duy tâm hoặc duy vật chất phác thơ ngây. Điều này được biểu hiện trong
tư tưởng triết học Phật giáo, Nho Giáo, Lão Giáo, quan niệm về bản chất con
người củng thể hiện một cách phong phú. Chẳng hạn như Khổng Tử quy tính
thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng bởi phong tục, tập
quán xấu mà bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt đẹp. Cũng như Khổng Tử, Mạnh
Tử cho rằng phải lấy lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con người
hường tới các giá trị đạo đức tốt đẹp. Tuân Tử cho rằng bản chất con người
khi sinh ra là ác nhưng có thể cải biến được, qua một quá trình chống lại cái
ác ấy thì con người mới tốt được. Lão Tử cho rằng con người sinh ra từ “
Đạo”. Do vậy con người cần phải sống theo lẽ tự nhiên thuần phát, không
hành động một cách giả tạo, gò ép trái với quy luật tự nhiên.
Cũng như triết học phương Đông, triết học phương Tây cũng có nhiều
quan niệm khác nhau về con người. Đặc biệt là Kitô giáo, họ nhận thức con
người trên cơ sở thế giới quan duy tâm và thần bí. Triết học Hy Lạp cổ đại
bước đầu cũng đã có sự phân biệt con người với giới tự nhiên, nhưng cũng chỉ
là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người. Triết học thời kỳ phục hưng cận
6
đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con người là một
thực thể có trí tuệ.
Nói chung nền triết học thời bấy giờ, vấn đề con người vẫn chưa được
nhận thức đầy đủ cả về bản chất, về mặt sinh học và xã hội. Con người mới
chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể, mà xem nhẹ mặt xã hội. Bởi vì họ đã quy
đặc trưng bản chất con người theo khuynh hướng tuyệt đối hoá những thuộc
tính tự nhiên hoặc thuộc tính xã hội, mà không thấy được vai trò của thực
tiễn. Chẳng hạn, khi phê phán quan điểm duy tâm của Hêghen thì Phơbách
cho rằng vấn đề giữa tư duy và tồn tại là vấn đề bản chất của con người. Vì
chỉ có con người mới có tư duy và sự tồn tại của con người cũng như tư duy
của con người không thể tách khỏi quá trình tâm sinh học. Tuy nhiên,
Phơibách đã mắc phải sai lầm khi ông tuyệt đối hoá mặt sinh học của con
người hoặc tách con người ra khỏi quan hệ hiện thực của xã hội hoặc ông quy
bản chất con người vào tính tộc loại, mà đặc trưng của nó là tình cảm đạo
đức, tôn giáo và tình yêu.
Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học
trước Mác, dù đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận
hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản chất con người. Họ đều
xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hoá về mặt tinh thần hoặc
thể xác con người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên – sinh học mà không thấy được
mặt xã hội trong đời sống con người. Tuy vậy cũng không thể phủ nhận hết
những thành tựu trong việc phân tích, quan sát con người, đề cao lý tính, xác
lập các giá trị về nhân bản học để hướng con người tới tự do. Đó là những
tiền đề có ý nghĩa quan trọng cho việc hình thành tư tưởng về con người của
triết học Macxít sau này.
1.2. QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN VỀ BẢN CHẤT
CON NGƯỜI
7
1.2.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học với mặt
xã hội
Kế thừa các quan điểm tiến bộ trong lịch sử triết học, dựa trên những
thành tựu của khoa học tự nhiên, trực tiếp là thuyết tiến hóa và thuyết tế bào,
triết học Mác đã khẳng định con người vừa là sản phẩm phát triển lâu dài của
giới tự nhiên, vừa là sản phẩm hoạt động của chính bản thân con người. Con
người là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học với yếu tố xã hội – là thực thể
sinh vật – xã hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của
giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học,
tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự
tồn tại của con người. Vì vậy giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”.
Con người là một bộ phận của tự nhiên.
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố
duy nhất quy định bản chất của con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt
của con người với thế giới loài vật là mặt xã hội . Tính xã hội của con người
biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất. Thông qua hoạt động lao động
sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ nhu cầu
cuộc sống của mình; Hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; Xác lập
quan hệ xã hội. Bởi vậy lao động chính là yếu tố quyết định bản chất xã hội
của con ngươi, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã
hội. Theo Mác, xã hội suy cho cùng là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa
người với người. Con người tạo ra xã hội, là thành viên của xã hội. Mọi biểu
hiện sinh hoạt của con người là biể hiện và là khẳng định của xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát
triển, con người luôn phải chịu sự tác động của ba hệ thống quy luật khác
nhau, nhưng thống nhất với nhau. Bao gồm: Hệ thống quy luật tự nhiên chịu
8
sự quy định của mặt sinh học, hệ thống quy luật tâm lý ý thức hình thành và
vận động trên nền tảng sinh học của con người , hệ thống quy luật xã hội quy
định các quan hệ giữa người với người trong xã hội.
1.2.2. Con người là chủ thể của lịch sử, mục tiêu của sự phát triển xã hội
1.2.2.1. Con người là chủ thể của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại
con người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài
của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là: Con người luôn luôn là
chủ thể của lịch sử - xã hội. C.Mác đã khẳng định “ Cái học thuyết duy vật
chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và giáo dục
cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và
bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”. Trong tác phẩm “Biện
chứng của tự nhiên”, Ph.Ăngghen cũng cho rằng : “ thú vật cũng có một lịch
sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng
lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự
vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và
không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật,
hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm
ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu”.
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực
tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận
động phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện
có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của
mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai
theo mục đích của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của
mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch
9
sử của chính bản thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều
kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời
sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con
người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ
thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có
hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó,
không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi
giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người trong
mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động, biến đổi cũng
không phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ
thống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con
người. Mặc dù là “tổng hoà các quan hệ xã hội”, con người có vai trò tích cực
trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất
con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận
động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khắp)
với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải
làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó
chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo
khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có
ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh
một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác
nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển
của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con
người tới hoạt động vật chất. Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con
người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người
10
1.2.2.2. Con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội
Từ khi xuất hiện đến nay, loài người luôn cháy bỏng hoài bão được
sống tự do, hạnh phúc và không ngừng đấu tranh để hoài bão đó được trở
thành hiện thực. Trong các chế độ xã hội dựa trên quyền sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất (chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản). Các
giai cấp thống trị luôn dùng mọi thủ đoạn để tước đoạt hoặc hạn chế quyền tự
do và hạnh phúc của số đông quần chúng lao động. Cho nên loài người không
ngừng đấu tranh chống lại sự áp bức bất công đó.
Xã hội ngày càng văn minh, đó là xu hướng chủ yếu của xã hội.
Nhưng cho đến nay, bước tiến của nền văn minh vẫn chứa đựng những yếu tố,
những khuynh hướng đi ngược lại lợi ích chung của loài người, nhiều thành
tựu của khoa học – kỹ thuật được sử dụng để huỷ diệt con người. Công
nghiệp hoá học tạo ra năng suất, chất lượng lao động cao, nhưng lại gây ô
nhiễm môi trường, máy móc thay thế sức người nhưng lại đẩy hàng chục triệu
người vào thất nghiệp, xu thế hội nhập mở cửa tạo ra cơ hội phát triển cho
mỗi người, cho các quốc gia nhưng lại nảy sinh những biểu hiện tiêu cực về
lối sống làm mất bản sắc văn hoá dân tộc Ông Nobel đã phát minh ra thuốc
nổ và nhờ thuốc nổ trở thành giàu có. Nhưng bản thân ông lại không ngờ
thuốc nổ lại sử dụng rộng rãi trong chiến tranh, tàn sát hàng chục triệu người
vô tội. Ân hận về điều đó, ông đã để lại di chúc, đề nghị sử dụng gia tài mà
ông có được do phát minh thuốc nổ, làm giải thưởng cho những ai có công
trình khoa học đem lại hạnh phúc cho con người. Như vậy, Nobel đã đề xuất
một tư tưởng: Văn minh phải hướng tới nhân đạo.
Thế kỷ XXI chắc chắn sẽ có nhiều biến đổi to lớn, khoa học và công
nghệ sẽ có những bước tiến bất ngờ. Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho mỗi người,
mỗi quốc gia là phải làm chủ được các thành tựu của văn minh. Vậy con
người là chủ thể của lịch sử nên chính con người chứ không phải đối tượng
11
nào khác, phải loại trừ những yếu tố ngăn cản tự do, hạnh phúc của con
người, đồng thời thúc đẩy làm biến đổi xã hội theo chiều hướng ngày càng tốt
đẹp hơn. Thế giới hiện nay còn chứa đựng những yếu tố khác đe doạ tự do và
hạnh phúc của con người như đói nghèo, dịch bệnh, thất học, ô nhiễm môi
trường, bất bình đẳng xã hội, nguy cơ khủng bố, chiến tranh…. Do đó mọi
chủ trương chính sách, mọi hành động của cộng đồng quốc tế, của các quốc
gia và hành động của mỗi cá nhân phải nhằm bảo vệ con người, vì tự do hạnh
phúc của con người.
Vì con người là chủ thể của lịch sử nên con người cần được tôn trọng,
cần phải đảm bảo các quyền chính đág của mình, phải là mục tiêu của mọi
tiến bộ xã hội. Chủ Nghĩa Tư bản hiện đại vẫn đang còn sự phát triển. Nhưng
theo qui luật tiến hoá của lịch sử, tương lai sẽ thuộc về một xã hội tốt đẹp
hơn. Một xã hội không có tình trạng áp bức, bóc lột, một xã hội thống nhất và
văn minh với nhân đạo, một xã hội mà trong đó mọi người có cuộc sống tự
do, hạnh phúc, và xã hội đó chỉ có thể là XHCN.
1.2.3. Bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội
Con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực lượng đối
lập với giới tự nhiên, sự tác động qua lại giữa cái sinh học và cái xã hội tạo
thành bản chất của con người. Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con
người, C.Mác đã nêu lên luận điểm nổi tiếng Luận cương về Phoiơbắc: “Bản
chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng
biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan
hệ xã hội”.
Theo luận đề trên thì không có con người trừu tượng, thoát ly mọi
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lịch sử và xã hội. Luận đề đã khẳng định bản
chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con
người. Trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và giới
12
động vật trước hết là bản chất xã hội và đó cũng là để khắc phục sự thiếu sót
của những nhà triết học trước Mác, không thấy được bản chất xã hội của con
người. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, là cái mang tính
quy luật. Vì vậy cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đa
dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng
xã hội.
Con người là sản phẩm của giới tự nhiên, song con người không hoàn
toàn phụ thuộc vào giới tự nhiên mà đã vươn lên, tách xa thế giới động vật,
trở thành con người của xã hội, sáng tạo ra lịch sử. Với vai trò là chủ thể của
lịch sử con người phải được tự do, hạnh phúc, phải được phát triển các khả
năng của mình. Nhưng không phải lúc nào và ở đâu con người cũng có đủ
điều kiện để phát triển toàn diện. Vì vậy, một vấn đề đã và đang đặt ra là các
quốc gia nói riêng, nhân loại nói chung, phải coi con người là mục tiêu của sự
phát triển của xã hội.
1.3. CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (CNXH) LÀ SỰ PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
CỦA CON NGƯỜI
Xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mọi người có
cuộc sống tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân là mục
tiêu cao cả của XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “tôi chỉ có một
ham muốn, ham muốn tột bật là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân
tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng
được học hành”.
Chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội đã trải qua bước phát triển quanh co, đầy
thử thách của lịch sử, nhưng đang vững bước đi lên và đạt nhiều kết quả trong
mục tiêu vì sự phát triển toàn diện của con người.
Nước ta là một nước nghèo đang trong giai đoạn quá độ đi lên Chủ
Nghĩa Xã Hội. Tuy vậy, Đảng và nhà nước luôn coi trọng con người, coi con
13
người là mục tiêu của sự phát triển của xã hội, thể hiện ở các nhiệm vụ phát
triển sau:
- Đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói nghèo, kém phát triển, nâng cao
rõ rệt đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.
- Thực hiện công bằng trong phân phối, thực hiện bình đẳng trong các
quan hệ xã hội.
- Bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Phát
triển kinh tế phù hợp với các vùng, miền nhiều khó khăn, thực hiện chương
trình xoá đói giảm nghèo.
- Thực hiện đồng bộ chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ của
nhân dân.
- Đẩy mạnh hoạt động của thể dục thể thao, nâng cao thể trạng tầm
vóc của con người Việt Nam.
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phấn đấu vì sự công bằng
xã hội. Trong giáo dục, thực hiện: giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành
một xã hội văn minh.
Những mục tiêu trên đang được Đảng và nhân dân ta thực hiện nhằm
xây dựng một xã hội: dân giàu nước mạnh ,xã hội công bằng, dân chu, văn
minh.
14
CHƯƠNG 2 : ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON
NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI
Ngay từ những ngày đầu xây dựng CNXH, Đảng ta đã khẳng định
“Con người là vốn quý nhất” và “Muốn xây dựng thành công XHCN thì phải
có con người XHCN”.
Đảng ta đã đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển
kinh tế - xã hộ, nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và
lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, lợi ích riêng và lợi ích chung.
Đại hội lần thứ VII của Đảng: “Mục tiêu và động lực chính của sự
phát triển là vì con người, do con người, trước hết là người lao động”.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng: “Lấy việc phát huy yếu tố con người là
nhân tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.
Đại hội lần thứ IX của Đảng: “Nguồn lực con người – yếu tố cơ bản
của sự phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm xây
dựng và phát huy nguồn lực con người. Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng đã
nêu: “Moi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển
toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo,
có tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức tự cường dân tộc,
trách nhiệm cao trong lao đông, có lương tâm nghề nghiệp, có tác phong công
nghiệp, có ý thức cộng đồng, tôn trọng nhân nghĩa, có lối sống văn hóa, quan
hệ hài hòa trong gia đình và cộng đồng xã hội”.
2.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT
NAM HIỆN NAY
.
2.2.1. Trên phương diện con người là động lực của sự phát triển xã hội
15
Với nền kinh tế bao cấp đã kìm hãm sự phát triển đất nước. Năm 1986, Đảng
ta đã thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, đổi mới cơ chế quản lý hành
chính nhà nước từ quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường nên đã phát huy
được tính năng động, sáng tạo của mỗi người. Nền kinh tế thị trường đang
thúc đẩy sự phát triển của sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra cơ sở
vật chất và văn hóa tinh thần ngày càng đa dạng và phong phú. Lợi ích cá
nhân ngày càng được chú ý, tạo ra cơ hội mới cho đà phát triển cá nhân.
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu ra: “Động lực chủ yếu để phát
triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cở sở liên minh giữa công nhân,
nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo. Kết hợp hoài hòa các lợi ích cá nhân,
tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần
kinh tế, của toàn xã hội” để xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ và văn minh”.
2.2.2. Trên phương diện con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn chủ nghĩa cộng sản thực hiện
được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát
triển hết khả năng của mình”. Đó chính là mục tiêu mà chủ nghĩa xã hội
hướng tới: giải phóng con người nhằm phát triển mọi tiềm năng, giá trị nhân
cách của con người. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng Cộng Sản Việt
Nam xác định: “Phát triển con người, với tư cách vừa là động lực, vừa là mục
đích của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới đất nước”. Đây cũng là mục tiêu
nhân văn của nền văn hoá tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc: “Nội dung cốt lõi
là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự
phát triển phong phú, tự do và toàn diện của con người”.
Con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh và của Đảng ta không
phải là con người trừu tượng mà là những cá nhân, những tập thể, những tầng
16
lớp người cụ thể. Vì hạnh phúc của mỗi người “dân” của “đồng bào” và của
cả dân tộc Việt nam là mục tiêu phấn đấu của Hồ Chí Minh và của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Hiện nay, trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước để đi
lên Chủ Nghĩa Xã hội, mục tiêu xây dựng con người được đặt ra một cách
thiết thực và trực tiếp. Vấn đề con người là mục tiêu của sự nghiệp phát triển
kinh tế, xã hội ở nước ta là một vấn đề có tính chiến lược. Đại hội của Đảng
đã đề ra đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội: Xuất phát từ tình
hình hiện nay và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới, đường lối
kinh tế của Đảng ta được xác định là đẩy mạnh CNH – HĐH, xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ đưa nước ta thành môt nước công nghiệp, ưu tiên phát
triển lực lượng sản xuất phù hợp theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, phát
huy cao nội lực. Đồng thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững. Tăng
trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện cơ sở vật chất
và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và
cải thiện môi trường. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc
phòng, an ninh và trật tự xã hội.
Đây là con đường phát triển bền vững đất nước, con đường phát triển
nhắm tới một mục tiêu kép: vừa phát triển kinh tế, vừa phát triển con người và
xã hội, vừa phấn đấu để dân giàu, nước mạnh, công bằng xã hội và dân chủ,
văn minh.
Lấy phát triển con người làm mục tiêu chiến lược, chúng ta cần chú ý đến
những vấn đề sau:
- Cần quan tâm đến lợi ích của con người bao gồm lợi ích vật chất và
lợi ích tinh thần, trước hết là lợi ích vật chất. Hồ Chí Minh cho rằng: “Không
có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét lợi ích cá nhân đúng đắn và
17
bảo đảm cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ
nghĩa”.
- Cần bảo đảm và phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong đời
sống xã hội bắt đầu từ cơ sở trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hôi. Đặc
biệt phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới CNH –
HĐH. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu
quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân”.
- Cần bảo đảm và thực hiện sự bình đẳng giữa những cá nhân, nhóm
cộng đồng về cơ hội phát triển, tạo điều kiện cho mọi người và các nhóm,
cộng đồng có điều kiện phát triển ngang nhau, được hưởng lợi ích công bằng
phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cụ thể.
- Cần phát huy sức mạnh của nhân dân, của khối đoàn kết toàn dân
tộc, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Phát triển kinh tế đi đôi với
bảo vệ Tổ Quốc vì hạnh phúc của nhân dân.
2.3NHỮNG NHIỆM VỤ CƠ BẢN ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN
CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.3.1. Xây dựng tư tưởng đạo đức và lối sống
Nghị quyết hội nghị lần thứ V Ban Chấp Hành Trung Ương khóa VIII
về xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân ta đã chỉ rõ: “Tư tưởng,
đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa được coi là những lĩnh vực quan trọng
nhất hiện nay cần đặc biệt quan tâm”. Định hướng xây dựng con người, yếu tố
tư tưởng, đạo đức lối sống là yếu tố cơ bản nhất trong phẩm chất tinh thần của
con người Việt Nam hiện nay. Trong đó, “Hệ tư tưởng là cốt lõi của văn hóa,
là định hướng cơ bản cho đời sống tinh thần xã hội”. Theo quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam đó là tư tưởng: Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ
Nghĩa Xã Hội dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
18
Minh. Nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển
phong phú tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá
nhân và xã hội, giữa cộng đồng và tự nhiên. Do vậy, nhiệm vụ đặt ra là:
- Cần nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào
hoàn cảnh nước ta trong giai đoạn hiện nay và trước những biến đổi sâu rộng
của thời đại mới. Tuyên truyền giáo dục cho nhân dân hiểu biết đầy đủ sâu
sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, củng cố lòng tin của nhân dân va tư tưởng Hồ Chí
Minh đã lựa chọn.
- Khắc phục những biểu hiện dao động, hoài nghi về con đường đi lên
CNXH; Phủ nhận những thành quả của CNXH hiện thực trên thế giới; Phủ
nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta; Phủ nhận lịch sử Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Đảng, sự mơ hồ, bàn quan mất cảnh giác trước những luận điệu
xuyên tạc, bôi nhọ chế độ ta của các thế lực thù địch. Đồng thời đấu tranh phê
phán chống lại những tư tưởng phản động, chống phá cách mạng nước ta và
sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng.
- Xây dựng tinh thần yêu nước có ý chí xây dựng đất nước vì mục
tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Biến tinh thần
đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây thành tinh thần phục hưng đất nước
trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước hiện nay. Quyết tâm xây dựng và bảo vệ
Tổ Quốc Việt Nam XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc và của
mỗi con người.
- Xây dựng đạo đức và lối sống mới phấn đấu vì lợi ích con người với
tư cách là mỗi cá nhân và cả cộng đồng, gắn lợi ích của cá nhân với lợi ích
của cộng đồng, ở từng cơ sở, từng địa phương và trong cả nước. Hình thành
lối sống mới, lối sống văn minh tác phong công nghiệp, trật tự kỷ cương và
trách nhiệm. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đẹp đẽ và
19
“những thuần phong mỹ tục” của dân tộc, của từng địa phương. Phê phán lối
sống thực dụng, chạy theo đồng tiền hay quan liêu, cửa quyền, cục bộ mà ở
nhiều địa phương đã trở thành hiện tượng nổi cộm trong đời sống xã hội hiện
nay.
- Cần nêu gương người tốt, việc tốt những cá nhân đơn vị, tập thể tiêu
biểu có những phẩm chất tốt đẹp của con ngườiViệt Nam hiện nay. Cần phát
huy sức mạnh của dư luận và sức mạnh của luật pháp để lên án và trừng phạt
thích đáng những kẻ cố tình vi phạm pháp luật, quấy rối mất trật tự, an toàn
xã hội, những kẻ gây nên những tội ác, gieo rắc những tư tưởng xấu hay
những tệ nạn xã hội….Công tác tư tưởng phải tạo ra sự nhất trí về tinh thần,
sự đoàn kết dân tôc, phấn đấu cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước và hình
thành những con người hiện đại, con người Việt Nam với những phẩm chất
mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nêu ra.
2.3.2. Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Để thực hiên chiến dịch con người và nguồn nhân lực, nhân tố quyết
định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước cần tạo
sự chuyển hướng căn bản , toàn diện về giáo dục và đào tạo. Chiến lược phát
triển kinh tế xã hội đến năm 2020 của Đảng đã xác định nhiệm vụ phát triển
sự nghiệp giáo dục và đào tạo như sau:
- Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và
tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp
luật, tinh thần hiếu học chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn.
Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề
nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn
lên vì khoa học và công nghệ. Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các
chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hóa.
20
- Nhà kinh doanh, nhà quản lý phải có chính sách sử dụng lao động
và nhân tài phải tận dụng mọi nhân lực, phát huy mọi tài năng của các tập thể
và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dụng và bảo vệ đất nước.
- Phát triển giáo dục mầm non, củng cố vững chắc kết quả xóa mù
chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tiến hành phổ cập trung học cơ sở trong cả
nước, phần lớn thanh thiếu niên trong độ tuổi ở thành thị và vùng nông thôn,
đồng bằng được học hết trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp hoặc
đào tạo nghề. Tạo mọi điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập
thường xuyên suốt đời .
- Điều chỉnh hợp lý cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng
trong hệ thống giáo dục và đào tạo phù hợp với yêu cầu học tập của nhân dân,
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và các mục tiêu của chiến lược. Chú trọng
giáo dục hướng nghiệp thiết thực trong trường phổ thông. Mở rộng đào tạo
công nhân, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ. Phát
triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học, sau đại học, tập trung xây dựng
một số trường đại học trọng điểm quốc gia mang tầm khu vực, tiến tới đạt
trình độ quốc tế. Phát triển giáo dục thường xuyên và đào tạo từ xa. Nhà nước
dành ngân sách đưa người giỏi đi đào tạo ở các nước phát triển, khuyến khích
tạo thuận lợi cho việc học tập và nghiên cứu nước ngoài. Coi trọng đào tạo
đội ngũ công nhân tay nghề cao, có kỹ thuật thực hành và nhà kinh doanh
giỏi. Ưu tiên đào tạo nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn,
miền núi, xuất khẩu lao động, một số nghành mũi nhọn. Phát triển và nâng
cao chất lượng các trường dân tộc nội trú, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ dân tộc thiểu số.
- Khẩn trương điều chỉnh và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước
chương trình đào tạo đại học và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu
cầu phát triển mới. Ngoài tiếng phổ thông, các dân tộc có chữ viết riêng được
21
khuyến khích học chữ dân tộc. Đổi mới chương trình đào tạo đại học, trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề theo hướng thiết thực, hiện đại. Chú trọng
trang bị và năng cao kiến thức tin họ, ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên.
- Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng
lực đào tào của người học, coi trọng thực hành thực nghiệm, ngoại khóa làm
chủ kiến thức tránh nhồi nhét, học vẹt, học chạy. Đổi mới và thực hiện
nghiêm chỉnh chế độ thi cử. Đề cao tính tự chủ của trường học. Phát triển đội
ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm, cải thiện chế độ đãi
ngộ. Bảo đảm về cơ bản đội ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc gia và tỷ lệ giáo
viên so với học sinh theo yêu cầu của từng cấp học. Có cơ chế chính sách bảo
đảm đủ giáo viên cho miền núi, hải đảo.
- Tăng cường cơ sở vật chất và từng bước hiện đại hóa nhà trường
(lớp học, sân chơi, bãi tập, phòng thí nghiệm, thiết bị giảng dạy hiện đại, thư
viện, kí túc xá… ). Phấn đấu đến năm 2020, phần lớn các trường phổ thông
có đủ điều kiện cho học sinh học tập và hoạt đông cả ngày tại trường.
- Tăng cường đầu tư cho ngân sách nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa
giáo dục – đào tạo. Khuyến khích mạnh mẽ các thành phấn kinh tế đầu tư
phát triển giáo dục ở tất cả các cấp học đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.
Ngân sách nhà nước tập trung nhiều hơn cho các bậc giáo dục phổ cập, cho
vùng nông thôn, miền núi cho đào tạo trình độ cao và những nghành khó thu
hút đầu tư ngoài ngân sách nhà nước; Bảo đảm điều kiện học tập cho con em
người có công với cách mạng và gia đình nghèo. Tăng cường quản lý nhà
nước đặc biệt là hệ thống thanh tra giáo dục, thiết lập kỷ cương, đẩy lùi các
hoạt động tiêu cực. Tăng cường quản lý và giúp đỡ người đi học tập và
nghiên cứu ở nước ngoài.
2.3.3. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
22
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế của xã hội. Nghị quyết hội nghị lần năm ban chấp hành
trung ương khóa VIII đã chỉ rõ vai trò của văn hóa nhiệm vụ xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc: Chăm lo văn
hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần
tiến bộ, lành mạnh không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển
kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế
bền vững.
Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì con
người phát triển toàn diện. Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động
lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với
đời sống và hoạt động trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật
pháp, kỉ cương… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển
đất nước.
Để phát huy vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội và con
người. Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng đã đặt ra các nhiệm vụ xây
dựng và phát triển nền văn hóa giai đoạn 2011 – 2020 như sau:
- Thứ nhất, cần tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển
về thể lực, trí lực và tình cảm, có lý tưởng và nhiệt tình cách mạng, trung
thành với sự nghiệp đổi mới, có kỹ năng lao động và sáng tạo, có ý chí và bản
lĩnh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đáp ứng được yêu
cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, phấn đấu vì xã
hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các phẩm chất cơ
bản của con người cần xây dựng là con người công dân, con người khoa học
và con người nhân văn. Đề cao việc xây dựng ý thức công dân, tinh thần tôn
trọng và làm theo hiến pháp và pháp luật; Nâng cao trình độ khoa học, kỹ
thuật và công nghệ; Đề cao các giá trị nhân văn, hướng tới cái đúng, cái tốt và
23
cái đẹp trong hoạt động thực tiễn của mọi người. Tăng cường giáo dục lý
tưởng chính trị, đạo đức xã hội và bản lĩnh văn hóa cho thanh niên, học sinh,
sinh viên. Thực hiện tốt cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh.
- Thứ hai, cần nâng cao chất lượng toàn diện của việc xây dựng đời
sống văn hóa và môi trường văn hóa thông qua đẩy mạnh phong trào thi đua
yêu nước và cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.
Đẩy mạnh việc xây dựng môi trường văn hóa trong tổ chức Đảng và cơ quan
Nhà nước, các Đoàn thể chính trị xã hội, trong các doanh nghiệp, trong gia
đình và trong cộng đồng dân cư Xây dựng nếp sống văn minh trong xã hội,
nhất là nơi công cộng.
- Thứ ba, cần mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp và dịch
vụ văn hóa, gắn kết chặt chẽ văn hóa với nhiệm vụ phát triển kinh tế, khai
thác tài nguyên văn hóa một cách hợp lý để phát triển du lịch dịch vụ. Đa
dạng hóa các ngành nghề sáng tạo và sản xuất các sản phẩm văn hóa, nâng
cao sức cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân
tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
- Thứ tư, là đảm bảo tự do và dân chủ trong hoạt động sáng tạo văn
học, nghệ thuật, báo chí xuất bản, phát huy vai trò tích cực của các lĩnh vực
này trong việc xây dựng môi trường văn hóa tinh thần lành mạnh. Đồng thời
nâng cao trách nhiệm của đội ngũ văn nghệ sĩ, đội ngũ những người làm báo
đối với nhân dân, dân tộc và thời đại, nâng cao chất lượng đào tạo ở các
trường, các viện về văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản. Phát huy vai trò
của các hội văn học, nghệ thuật và báo chí từ trung ương đến địa phương.
- Thứ năm, bên cạnh việc tiếp tục đầu tư, tôn tạo, bảo tồn và phát
huy các di tích lịch sử văn hóa, cần chú trọng xây dựng các công trình văn
hóa trọng điểm quốc gia và khu vực. Đặc biệt, Nhà nước quan tâm tới đầu tư
24
xây dựng đời sống văn hóa ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng miền
núi, biên giới và hải đảo, xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn, ở các khu
công nghiệp, khu chế xuất tập trung đông công nhân.
- Thứ sáu, cần nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng,
quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa - thể thao - du lịch. Xây dựng cơ
chế, chính sách chế tài ổn định phù hợp với yêu cầu quản lý văn hóa trong
thời kỳ mới.
- Thứ bảy, đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao, nâng cao thể trạng
và tầm vóc của người Việt Nam. Phát triển phong trào thể dục, thể thao quần
chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp. Đào tạo, bồi dưỡng vận động viên thể
thao có thành tích cao, đưa thể thao Việt Nam lên trình độ chung trong khu
vưc Đông Nam Á và có vị trí cao trong nhiều bộ môn. Đẩy mạnh xã hội hóa,
khuyến khích nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực, có hiệu lực các
hoạt động văn hóa thể thao. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và bảo trợ
các hoạt động văn hóa, thể thao. Phát triển thị trường sản phẩm về dịch vụ
văn hóa, thể thao phong phú, lành mạnh.
- Thứ tám, tăng đầu tư ngân sách cho văn hóa tương ứng với tăng
trưởng kinh tế. Tập trung xây dựng một số trung tâm văn hóa lớn gắn kết với
văn hóa, thể thao, du lịch như làng văn hóa các dân tộc việt Nam, trung tâm
thể thao quốc gia và các trung tâm đào tạo về văn hóa, thể thao ngang tầm khu
vực.
- Thứ chín, mở rộng giao lưu văn hóa, thể thao quốc tế. Đầu tư thích
đáng cho việc truyền bá ở trong các nước giá trị văn hóa của loài người và
giới thiệu đất nước, văn hóa con người Việt Nam với thế giới.
2.3.4. Xây dựng môi trường văn hóa
Xây dựng môi trường văn hóa và đời sống văn hóa ở cơ sở. Nói đến
môi trường văn hóa là nói đến những quan hệ vô cùng rộng lớn của con người
25