Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Tài liệu Ung thư lưỡi: Dịch tễ,chẩn đoán và điều trị docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (345.21 KB, 9 trang )

Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

UNG THƯ LƯỢI: DỊCH TỄ, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
Nguyễn Hữu Phúc*, Nguyễn Chấn Hùng**, Trần Văn Thiệp*
TÓM TẮT
Nghiên cứu hồi cứu 310 trường hợp bệnh nhân ung thư lưỡi được điều trò tại Bệnh Viện Ung bướu
trong thời gian 3 năm (từ 1/1999-12/2001). Tuổi trung bình 57,9 tuổi, tỷ lệ nam/nữ =1,7/1.Triệu chứng
lâm sàng thường gặp là bướu lưỡi: 49%, vết loét lưỡi: 42,2%. Sang thương ở bờ lưỡi chiếm 80,6%. Bệnh
nhân thường nhập viện giai đoạn muộn (giai đoạn III,IV) 61,6%. Vi thể thường gặp là carcinôm tế bào
gai:99,8%. 27,9% bệnh nhân không có hạch sờ thấy trên lâm sàng. Tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 3 năm là
47,2%, đối với T1,T2: 70,4%,T3,T4: 17,7%, giai đoạn I,II: 70,9%, giai đoạn III,IV: 28,8%.các tác giả đ62
nghò nên nạo hạch cổ trên cơ vai móng cho tất cả các trường hợp bao gồm những bệnh nhân không có
hạch trên lâm sàng.
SUMMARY
MOBILE TONGUE CANCER: EPIDEMIOLOGY, DIAGNOSIS AND TREATMENT
Nguyen Huu Phuc, Nguyen Chan Hung, Tran Van Thiep
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 9 * Supplement of No 1 * 2005: 199 – 207
A retrospective study of 310 cases with tongue cancer had been treated in HCMC cancer hospital in 3
years from Jan 1999 to Dec 2001. The mean age was 57.9; male/female=1.7/1.
Prelimenary symtoms were the tumor of the tongue (49%) and tongue ulceration (42.2%). 80.6% of
lessions was in lateral tongue. Almost of the lession was diagnosis in advanced stage (stage III, IV: 61.6%).
Squamous cell carcinoma accounted for 99.8%. 27.9% of cervival clinical non-papable node were
pathological metastasis. Overall 3-year survival was 47.2%. Survival rate for T1T2 was70,4%, for T3T4
was 17,7%, 3-year survival rate for satge I, II and stage III, IV was 70,9% and 28,8% respectively.The
authors recommended that supraomohyoid cervical dissection should be performed in all cases, including
clinical non-papable node patients.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư lưỡi (2/3 trước) là bệnh phát sinh do tăng
sinh ác tính của niêm mạc hoặc mô liên kết của lưỡi.


Tại Việt Nam, ở Hà Nội xuất độ chuẩn theo tuổi ung
thư lưỡi ở nam là 2,1/100000 dân, ở nữ là 1,3/ 100000
dân(1993-1997). Ở thành phố Hồ Chí Minh, xuất độ
chuẩn theo tuổi ở nam là 2/100000 dân, ở nữ là
0,6/100000 dân (1993-1998).
Lưỡi là cơ quan nằm ở vò trí dễ với tới nên ung
thư của cơ quan này có thể được phát hiện và chẩn
đoán sớm. Phẫu trò và xạ trò là hai mô thức điều trò
chủ yếu trong ung thư lưỡi. Hạch vùng là một yếu tố
tiên lượng trong ung thư lưỡi. Đối với những bệnh
nhân có di căn hạch, thời gian sống còn giảm đi một
nữa. Chỉ đònh điều trò bướu nguyên phát đã rõ ràng,
nhưng việc điều trò di căn hạch cổ âm thầm (nạo
hạch cổ phòng ngừa) vẫn đang được bàn cãi.
Trong những năm gần đây, tại Hà Nội và Thành
Phố Hồ Chí Minh có nhiều công trình nghiên cứu về
bệnh lý này. Các công trình nghiên cứu này chưa
phản ánh các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trò,
về lợi ích của việc nạo hạch cổ phòng ngừa trong ung
thư lưỡi. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm
* Bộ môn Ung thư học, ĐH Y Dược TPHCM
** Bệnh Viện Ung Bướu, Bộ môn Ung thư học ĐH Y Dược TPHCM, Bộ môn Ung bướu TT ĐT & BD CB YT
TP. HCM
199
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Nghiên cứu Y học

các mục tiêu:
Khảo sát một số yếu tố dòch tễ học.
Khảo sát đặc điểm bệnh học và lâm sàng.
Khảo sát kết quả điều trò.

ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Đối tượng nghiên cứu
310 trường hợp ung thư lưỡi được chẩn đoán xác
đònh bằng giải phẫu bệnh lý và điều trò tại Bệnh Viện
Ung Bướu từ tháng 1/1/1999 đến 31/12/2001.
Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu mô tả,ghi nhận dựa vào hồ sơ bệnh án,
thư thăm hỏi bệnh nhân.
Khảo sát thời gian sống còn không bệnh và thời
gian sống còn toàn bộ bằng phương pháp Kaplan-
Meier. Thời điểm kết thúc theo dõi là ngày 10/4/2004
hoặc thời điểm bệnh nhân tử vong do ung thư lưỡi
hay do bất cứ nguyên nhân nào. Xử lý số liệu bằng
phần mềm SPSS 11.5 for Windows.
KẾT QUẢ
Một số yếu tố dòch tễ
Tuổi trung bình: 57,9 tuổi, tuổi thường gặp: 61-
70 tuổi, tỷ lệ nam/nữ: 1,7/1
82,6% nam giới có hút thuốc; 67,2%ø nam giới có
uống rượu; 63,6% nam giới vừa hút thuốc lá vừa uống
rượu; 32,1% nữ giới có thói quen ăn trầu
Đặc điểm lâm sàng và bệnh học
Đa số bệnh nhân đến khám trong vòng 6 tháng,
chiếm 82,3%. Thời gian khởi bệnh trung bình là 4,8
tháng (thay đổi từ 1-36 tháng)
Triệu chứng thường gặp nhất là bướu lưỡi và vết
loét chiếm 49% và 42,2%.
Khám lâm sàng: 80,6% bướu ở bờ lưỡi; bụng lưỡi,
lưng lưỡi, đầu lưỡi chiếm tỷ lệ thấp lần lượt là 15,8%,

1,4%,1,9%, Có 44,8% trường hợp bướu xâm lấn sang
các vò trí xung quanh quanh trong đó sàn miệng là vò
trí thường gặp nhất chiếm 27,7%
Dạng đại thể thường gặp nhất là chối sùi chiếm
48,1%. Vi thể thường gặp là carcinôm tế bào gai
chiếm 98,8% trong đó chủ yếu là grad1(60%), grad
2(34,5%)
Hạch cổ sờ được trên lâm sàng trong 45,2%
trường hợp, kích thước hạch <3 cm chiếm tỷ lệ
76,4%, thường là một hạch chiếm 67,8%, cùng bên
với sang thương nguyên phát chiếm 85,7%, di căn
hạch cổ trên lâm sàng nhiều nhất là nhóm I chiếm
55,7%.
Bảng 3: Xếp hạng lâm sàng theo T,N, M
Số ca %
T(n=310)
T1 76 24,5
T2 99 31,9
T3 105 33,9
T4 30 9,7
N(n=310)
N0 170 54,8
N1 82 26,5
N2 48 15,5
N3 10 3,2%
M(n=310)
M0 308 99,4%
M1 2 0,6%
Giai đoạn bệnh(n=310)
I 55 17,7%

II 64 20,7%
III 120 38,7%
IV 71 22,9%
Bướu thường gặp là T3 chiếm 33,9%, hạch không
sờ thấy trên lâm sàng (N0) chiếm 54,8%, bệnh
thường gặp ở giai đoạn muộn (giai đoạn III,IV) với tỷ
lệ 61,6%.
Bảng 4:Liên quan giữa tính chất bướu nguyên phát
và tình trạng hạch trên lâm sàng
Hạch trên lâm sàng % Hạch di căn
trên lâm sàng
N0 N1,N2,N3
Xếp hạng bướu
T1 (n = 76) 55 21 27,6
T2 (n = 99) 64 35 35,4
T3 (n= 105) 45 60 57,1
T4 (n= 30) 6 24 80,0
Grad mô học
Grad 1 (n=186) 111 75 40.3
Grad 2 (n=107) 52 55 51,4
Chuyên đề Ngoại Chuyên Ngành
200
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Hạch trên lâm sàng % Hạch di căn
trên lâm sàng
Grad 3 (n=10) 3 7 70,0
Đại thể
Chồi sùi (n=149) 98 51 34,2

Loét (n=38) 24 14 36,8
Thâm
nhiễm(n=123)
48 75 61,0
Bướu càng lớn, grad mô học càng cao tỷ lệ di căn
hạch trên lâm sàng càng cao. Sang thương dạng
thâm nhiễm có tỷ lệ di căn hạch trên lâm sàng cao
nhất. Sự khác biệt này có ý nghóa thống kê(p=0,001)
ĐIỀU TRỊ
Qua nghiên cứu 310 hồ sơ bệnh án ghi nhận có
41 trường hợp bỏ điều trò ngay từ đầu, 18 trường hợp
điều trò dỡ dang, 251 trường hợp có điều trò, chiếm
80,9%
Các phương pháp điều trò
Bảng 5: Mô thức điều trò
Số ca %
Phẫu thuật đơn thuần 13 5,1
Xạ trò đơn thuần 122 48,6
Phẫu trò +xạ tri 87 34,7
Hoá trò +xạ trò 29 11.6
Tổng cộng 251 100,0
Trong 251 trường hợp có điều trò có 139 trường
hợp có điều trò đầy đủ. Mô thức điều trò đầy đủ đối với
bướu T1,T2 là phẫu thuật lấy bướu ngay từ ban đầu
hoặc xạ trò trong hoặc xạ trò ngoài triệt để. Đối với
bướu T3,T4 mô thức điều trò đầy đủ là phối hợp phẫu
thuật với xạ trò triệt để, hoá trò với xạ trò triệt để hoặc
xạ trò triệt để ngay từ ban đầu. Đối với hạch thì được
phẫu thuật nạo hạch cổ phòng ngừa đối với các
trường hợp hạch không sờ thấy trên lâm sàng, nạo

hạch cổ điều trò đối với các trường hợp hạch sờ thấy
trên lâm sàng hoặc xạ trò tuỳ thuộc vào mô thức điều
trò bướu nguyên phát.
139 trường hợp điều trò đầy đủ, có 98 trường hợp
điều trò hạch cổ bằng phẫu thuật chiếm tỷ lệ 70,5%,
37 trường hợp hạch sờ thấy trên lâm sàng đều được
nạo hạch cổ tận gốc hoặc tận gốc biến đổi, 61 trường
hợp hạch không sờ thấy trên lâm sàng đều được nạo
hạch cổ phòng ngừa (nạo hạch cỗ trên cơ vai móng)
Liên quan giữa hạch khám thấy trên lâm sàng với
kết quả giải phẫu bệnh lý.
pN(-) pN(+)
Lâm sàng Số ca % Số ca %
N0 44 72,1 17 27,9
N1,N2,N3 10 27 27 73
Tỷ lệ hạch di căn trong các trường hợp hạch sờ
thấy trên lâm sàng: 73%
Tỷ lệ hạch di căn âm thầm trong các trường hợp
nạo hạch phòng ngừa: 27,9% (T1T2N0: 16/58:
27,6%,T3T4N0: 1/3: 33,3%)
Nhóm hạch di căn thường gặp trong các trường
hợp nạo hạch cổ điều trò là nhóm II, I, III với tỷ lệ
thường gặp là 38,3%, 28,3%, 23,3%. Di căn hạch
nhóm IV ít gặp chiếm 10%. Di căn nhóm V không
thấy trong loạt khảo sát này. Di căn hạch âm thầm
thường gặp là nhóm II
44 trường hợp hạch dương tính sau phẫu thuật
(27pN1, pN2, pN3(+) và 17pN0(+)) có 28/44(63,6%)
có xạ trò bổ túc sau mổ.
Biến chứng của phẫu thuật: chúng tôi ghi nhận

có 2 trường hợp nhiễm trùng sau mổ, 2 trường hợp
chảy máu sau mổ chiếm tỷ lệ 0,6%
Kết quả điều trò
Tái phát
Số ca %
Loại tái phát
Không tái phát 112 81,6
Tái phát tại bướu 14 10
Tái phát tại hạch 8 5,8
Tái phát tại bướu và hạch 5 3,6
Tái phát theo giai đoạn
Giai đoạn I+II 17 26,2%
Giai đoạn III+IV 10 13,5%
Thời gian tái phát
< 12 tháng 18 66,7%
12-24 tháng 4 14,8%
24-36 tháng 3 11,1%
>36 tháng 2 7,4%
Tái phát tại hạch
Có xạ bổ túc 2/28 7,1%
Không xạ bổ túc 5/16 31,3%
Có nạo hạch phòng ngừa 4/58 6,8%
Không nạo hạch phòng ngừa 8/25 31%

201
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Nghiên cứu Y học










Biểu đồ 1: Sống còn toàn bộ sau 3 năm
Tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 3 năm là 47,2%
±6,7%. Trung vò thời gian sống còn là 29 tháng







Biểu đồ 2: Sống còn toàn bộ theo giai đoạn
bệnh
Tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 3 năm đối với giai
đoạn I,II là 70,9%, đối với giai đoạn III,IV là 28,8%. Sự
khác biệt này có ý nghóa thống kê (p <0,05).











Biểu đồ 3: Sống còn toàn bộ theo xếp hạng bướu
Tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 3 năm ở bướu T1 là
70,4%, T2 là 46,1%, T3,T4 là 17,7%. Sự khác biệt này
có ý nghóa thống kê(p <0,05).









Biểu đồ 4: Sống còn toàn bộ theo hạch di
căn vi thể đối với bướu giai đoạn sớm
Tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 3 năm đối với các
trường hợp T1T2 N0 không có di căn hạch là 82,5%,
đối với các trường hợp T1T2 N0 có di căn hạch vi thể
là 56,4%. Sự khác biệt này không có ý nghóa thống kê
(p <0,05).
BÀN LUẬN
Một số đặc điểm dòch tễ
Ung thư lưỡi thường xảy ra ở người lớn tuổi,
hiếm gặp dưới 40 tuổi. Tuổi trung bình trong
nghiên cứu chúng tôi 57,9 tuổi, cũng phù hợp với
các tác giả khác
(1,2,3,4)
Trong tất cả các nghiên cứu
về ung thư lưỡi đều nhận thấy nam giới luôn có tỷ
lệ mắc bệnh cao hơn nữ giới. Ung thư lưỡi xảy ra

nhiều ở nam có thể giải thích vì yếu tố nguy cơ đối
với ung thư lưỡi bao gồm thuốc lá và uống rượu
trong khi ở nữ giới chủ yếu là do ăn trầu. Tỷ lệ của
chúng tôi phù hợp với các tác giả trong nước,
nhưng thấp hơn các tác giả nước ngoài nước
ngoài nữ giới không ăn trầu nhưng tỷ lệ hút thuốc
lá ở phụ nữ trẻ ngày càng gia tăng.
82,6% nam giới có hút thuốc láù 67,2% nam giới
uống rượu, số người vừa hút thuốc vừa uống rượu ở
nam giới chiếm 63,6%. Theo tác giả Trần Văn
Công
(2)
số người vừa hút thuốc lá vừa uống rượu
chiếm 25,2%. Tỷ lệ bệnh nhân vừa hút thuốc vừa
Chuyên đề Ngoại Chuyên Ngành
202
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

uống rượu ở miền Nam cao hơn miền Bắc. Theo
Trần Đặng Ngọc Linh
(3)
tỷ lệ bệnh nhân ung thư
lưỡi có thói quen ăn trầu là 52,5%. Còn theo nghiên
cứu này, tỷ lệ số người nữ ăn trầu là 32,2%, đa phần
ăn trầu trên 20 năm.
Lâm sàng và bệnh học
Trong nghiên cứu này, thời gian khởi bệnh trung
bình là 4,8 tháng (sớm nhất là 1 tháng, muộn nhất là
36 tháng), phần lớn bệnh nhân đến khám bệnh trong

vòng 6 tháng đầu chiếm 82,3% cũng phù hợp với các
tác giả khác
(3,4).
Triệu chứng lâm sàng là bướu lưỡi vàø
vết loét lưỡi là 2 triệu chứng thường gặp, vò trí tổn
thương thường gặp là bờ lưỡi, kế đến là bụng lưỡi,
lưng lưỡi, đầu lưỡi hiếm gặp hơn, 50% bệnh nhân có
bướu đã lan rộng sang cấu trúc xung quanh. Theo
Trần Đặng Ngọc Linh, tỷ lệ ung thư lưỡi lan xung
quanh là 31,6%.
Một triệu chứng lâm sàng quan trọng khác khi
thăm khám là phát hiện hạch cổ. Việc có hay không
có hạch cổ đã quyết đònh giai đoạn bệnh hoàn toàn
khác biệt. Theo nghiên cứu của tác giả Trần Đức
Lợi
(4)
hạch cổ phát hiện trên lâm sàng chiếm 45,9%,
vò trí thường gặp nhất là hạch nhóm I chiếm 48,8%,
hạch nhóm II chiếm 41,3%. Nghiên cứu của chúng
tôi ghi nhận hạch sờ thấy trên lâm sàng chiếm
45,2%, hạch nhóm I chiếm 55,7%, hạch nhóm II
chiếm 45,7%, hạch nhóm III chiếm 16,4%.Phần lớn
kích thước hạch < 3 cm chiếm 76,4%, đa phần là di
căn một hạch chiếm 67,8%, hạch cùng bên chiếm
85,7%.Di căn hạch thường gặp nhất là N1 (58,6%),
N2 (34,3%), N3 (7,1%). Theo Myer
(10)
, tỷ lệ di căn
hạch N1 là 53,8%; N2 là 38,5% và N3 là 7,7%.
Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các tác giả

khác, đều nhận thấy xếp hạng hạch N1 thường bò di
căn nhiều nhất.
Có 2 trường hợp di căn xa chiếm 0,6%. Theo y
văn, tỷ lệ di căn xa trong ung thư lưỡi rất hiếm gặp.
Trong nghiên cứu chúng tôi, giai đoạn I-II chiếm
38,4%, giai đoạn III- IV chiếm 61,6%. Kết quả này
cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây ở Việt
Nam. Trái lại, trong các công trình nghiên cứu của
các tác giả khác trên thế giới bệnh ở giai đoạn sớm
chiếm tỷ lệ cao hơn giai đoạn muộn. Phải chăng điều
này có thể do người bệnh quan tâm đến tình hình
bệnh tật, cũng như công tác tuyên truyền về phòng
chống và phát hiện sớm ung thư được tốt, đồng thời
công tác khám và phát hiện sớm ung thư được hoàn
thiện. Chính nhờ đó mà bệnh được phát hiện ở giai
đoạn sớm và kết quả điều trò tốt hơn. Theo Hicks
(8)

trong 79 bệnh nhân ung thư lưỡi được điều trò bằng
phẫu trò, giai đoạn I-II chiếm 69%. Như vậy, công tác
tuyên truyền phòng và phát hiện sớm bệnh ung thư
của quốc gia là rất quan trọng trong công việc phát
hiện bệnh, để từ đó nâng cao hiệu quả điều trò bệnh
ung thư.
Nghiên cứu chúng tôi nhận thấy bướu càng lớn,
grad mô học càng cao có khả năng cho di căn hạch
càng cao. Sự khác biệt này có ý nghóa thống kê (p <
0,05). Theo Hicks, bướu T1,T2,T3,T4 có tỷ lệ di căn
hạch lần lượt là 6%, 36%, 50%, 67%. Chúng tôi cũng
nhận thấy đối với những bướu có dạng thâm nhiễm

có tỷ lệ di căn hạch khá cao 61%, còn những bướu
dạng chồi sùi có tỷ lệ di căn hạch là 34,2%. Chia sẻ
quan điểm này cùng với Nakawaga
(11)
, nhận thấy tần
suất di căn hạch cổ là 62% đối với sang thương dạng
loét hay thâm nhiễm, còn đối với sang thương dạng
loét trợt và chồi sùi có tỷ lệ di căn hạch lần lượt là
20%, 35%.
Điều trò
Phẫu thuật có ưu điểm là cắt bỏ toàn bộ tổn
thương cùng với hạch cổ, hơn nữa còn giúp ta xác
đònh mô bệnh học sau mổ. Tuy nhiên, có thể để lại
hậu quả nặng nề, tạm thời hay vónh viễn, làm ảnh
hưởng đến chức năng phát âm, nhai hoặc nuốt.
Trong khi đó xạ trò có thể bảo tồn được chức
năng nói và hình dạng của lưỡi. Người ta thấy rằng
kết quả phẫu thuật hoặc xạ trò đơn thuần là như nhau,
nhưng chỉ đối với giai đoạn sớm, còn đối với giai đoạn
muộn việc điều trò phải lựa chọn phương pháp nào
đầu tiên cần phải cân nhắc và phải phối hợp các
phương pháp điều trò để nâng cao hiệu quả. Trong kết
quả nghiên cứu của chúng tôi xạ trò đơn thuần chiếm
tỷ lệ cao 48,6% và là mô thức điều trò chủ yếu trong
ung thư lưỡiù.
203
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Nghiên cứu Y học

Nạo hạch cổ trong ung thư lưỡi
Tình trạng hạch cổ là yếu tố dự hậu quan trọng

trong ung thư lưỡi, nên việc điều trò hạch cổ là một
phần rất quan trọng trong kế hoạch điều trò. Tỷ lệ
hạch dương tính ở nhóm nạo hạch cổ điều trò là 73%.
Theo Nithya
(12)
, tỷ lệ hạch dương tính ở nhóm nạo
hạch cổ điều trò là 54,5%.Xét về xuất độ di căn của
từng nhóm hạch cổ. Theo Trần Văn Thiệp
(5)
nhận
thấy di căn ưu thế ở nhóm hạch cổ I, IIA và III là 77%,
còn tỷ lệ di căn ở các nhóm IIB, nhóm IV, V rất thấp
tương ứng 2,6%, 11,9% và 2,6%. Trong nghiên cứu
này, trong 37 trường hợp nạo hạch cổ điều trò (nạo
hạch cổ cho các trường hợp hạch sờ thấy trên lâm
sàng) chúng tôi nhận thấy tỷ lệ di căn hạch thường
gặp ở nhóm I,II,III với tỷ lệ lần lượt là 28,3%, 38,3%,
23,3% di căn hạch nhóm IV chiếm tỷ lệ thấp hơn:
10%, hạch nhóm V không bò di căn trong loạt khảo
sát này.
Vấn đề nạo hạch cổ phòng ngừa trong ung thư
lưỡi còn đang bàn cãi nhất là trong các trường hợp
ung thư lưỡi giai đoạn sớm(T1T2N0). Đa số các tác
giả ủng hộ quan điểm nạo hạch cổ phòng ngừa trong
ung thư lưỡi. Cơ sở của việc nạo hạch cổ dựa trên xuất
độ di căn hạch âm thầm trong ung thư lưỡi
cao(>25%). Đối với các trường hợp không có hạch
trên lâm sàng, nếu không điều trò hạch vùng sau một
thời gian theo dõi nhận thấy tỷ lệ tái phát tại vùng
cao từ 38-52% trong khi đó đối với các trường hợp có

nạo hạch cổ phòng ngừa thì tỷ lệ tái phát này chỉ từ
0-20% tùy thuộc vào tình trạng hạch di căn lúc nạo
phòng ngừa. Đối với các trường hợp tái phát hạch
vùng trên những bệnh nhân không điều trò hạch
vùng trước đó thì chỉ có khoảng 50% bệnh nhân có
cơ may điều trò vớt vát hạch vùng. Theo Byers
(6)
tỷ lệ
di căn hạch âm thầm trung bình là 30%, Yii
(14)
23%,
Hicks 25%. Ngoài ra, xuất độ này cũng thay đổi tùy
thuộc vào bướu nguyên phát 19% đối với T1T2 và
32% đối với T3T4
(5)
. Tỷ lệ hạch dương tính trong
nhóm nạo hạch cổ phòng ngừa của nghiên cứu
chúng tôi là 27,9%, trong đó T1T2 là 27,6%, T3 là
33,3%. Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với
các tác giả. Theo tác giả Trần Văn Thiệp trong 78
trường hợp nạo hạch cổ phòng ngừa trong 5 năm từ
năm 1990-1995, tỷ lệ di căn hạch âm thầm là 47,6%.
Nếu so sánh về tỷ lệ hạch di căn âm thầm chúng tôi
nhận thấy trong nghiên cứu này tỷ lệ di căn hạch âm
thầm của nghiên cứu chúng tôi thấp hơn. Có thể
trong nghiên cứu của tác giả Trần Văn Thiệp khi nạo
hạch cổ trong các trường hợp hạch N0 có đến 94,8%
là nạo hạch cổ tận gốc hay nạo hạch cổ tận gốc biến
đổi do đó các nhóm hạch được nạo nhiều hơn dẫn
đến tỷ lệ hạch di căn âm thầm cao hơn. Cũng có thể

trong những năm trước các phương tiện cận lâm
sàng như siêu âm, chụp cắt lớp điện toán chưa được
sử dụng nhiều để đánh giá một cách chính xác tình
trạng hạch trước khi phẫu thuật do đó các trường hợp
hạch không sờ thấy trên lâm sàng có thể đã có hạch
di căn trước khi nạo hạch. Còn trong nghiên cứu này
hầu hết các trường hợp hạch N0 đều nạo hạch cổ trên
cơ vai móng và nếu so sánh với tác giả Trần Đặng
Ngọc Linh khi khảo sát trong 46 trường hợp nạo
phòng ngừa trong ung thư lưỡi thì tỷ lệ di căn hạch
âm thầm là 28,3%. Một số nghiên cứu tiền cứu gần
đây nhận thấy trong các trường hợp nạo hạch cổ
phòng ngừa cho các trường hợp hạch không sờ thấy
trên lâm sàng có tỷ lệ hạch di căn “nhảy cóc”(di căn
hạch nhóm IV mà không có di căn hạch nhóm I,II,III)
từ 4-15,8%
[7,9,12)
nên một số tác giả đề nghò nạo hạch
cổ trên cơ vai móng mở rộng nhưng quan điểm này
hiện nay vẫn còn đang tranh cải. Phần lớn các tác giả
chấp nhận nạo hạch cổ trên cơ vai móng là đủ đối với
các trường hợp hạch không sờ thấy trên lâm sàng.
Về thời gian sống còn, hiện thời chưa xác đònh
được nạo cổ phòng ngừa có ảnh hưởng lên thời gian
sống còn của bệnh nhân. Cho đến hiện tại có 3
nghiên cứu tiền cứu ngẫu nhiên (Vandenbrouck năm
1980, Fakih năm 1989, Kligerman năm 1994)so sánh
ích lợi của việc nạo hạch cổ phòng ngừa trong đó chỉ
có một nghiên cứu xác đònh có ích lợi, còn hai nghiên
cứu còn lại vẫn chưa xác đònh được ích lợi này. Do

chưa xác đònh được ích lợi sống còn, một số tác giả đề
nghò nên dựa vào các phương tiện cận lâm sàng như
siêu âm, chụp cắt lớp điện toán, chụp cộng hưởng từ
để đánh giá xếp hạng hạch chính xác. Tuy nhiên vẫn
chưa có một phương tiện cận lâm sàng nào để đánh
giá chính xác hạch di căn trước phẫu thuật ngay cả
Chuyên đề Ngoại Chuyên Ngành
204
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

quan sát đại thể trong lúc mổ.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, vì là nghiên cứu
hồi cứu chúng tôi không có được hai nhóm ngẫu
nhiên để so sánh kết quả sống còn giữa nhóm có nạo
hạch cổ phòng ngừa và nhóm theo dõi trong các
trường hợp ung thư lưỡi giai đoạn sớm. Chúng tôi ghi
nhận kết quả sống còn trên những trường hợp bệnh
nhân có nạo hạch cổ phòng ngừa, nhận thấy đối với
những trường hợp nạo hạch cổ phòng ngừa mà kết
quả giải phẫu bệnh âm tính có tỷ lệ sống còn sau 3
năm là 82,5% (T1T2pN(-)), ngược lại các trường hợp
nạo hạchcổ phòng ngừa mà kết quả giải phẫu bệnh
dương tính có tỷ lệ sống còn sau 3 năm là 56,4%. Sự
khác biệt này có ý nghóa thống kê (p<0,05).
Dẫu rằng vẫn chưa xác lập được ích lợi sống còn
trong các trường hợp nạo hạch phòng ngừa, nhưng
phần lớn các tác giả ủng hộ việc nạo hạch phòng
ngừatrong ung thư lưỡi. Việc nạo hạch cổ phòng ngừa
xác đònh tình trạng hạch cổ để đánh giá giai đoạn,

điều trò nếu có hạch di căn, giảm tái phát tại vùng và
ít nhiều ảnh hưởng lên thời gian sống còn. Chúng tôi
khảo sát các yếu tố nguy cơ có liên quan đến di căn
hạch vi thể như dạng đại thể bướu, grad mô học của
bướu nguyên phát, tuổi, giới đối với các trường hợp
nạo hạch cổ phòng ngừa trong ung thư lưỡi tuy nhiên
chúng tôi chưa tìm được một trong các yếu tố này
được xem là yếu tố nguy cơ di căn hạch vi thể trong
các trường hợp hạch không sờ thấy trên lâm sàng.
Theo các tác giả nước ngoài nạo hạch phòng ngừa
nên thường qui cho các trường hợp bướu >2cm, độ
dày bướu nguyên phát >4mm, bướu có grad mô học
cao (grad 3, grad 4) , các dấu hiệu sinh học như
cyclin D1, p53, Ki –67 tăng cao.
Kết quả điều trò
Trong ung thư đầu cổ nguyên nhân chính gây tử
vong là do bệnh tiến triển tại chổ, tại vùng hoặc do tái
phát sau điều trò. Trong 139 trường hợp điều trò đầy
đủ chúng tôi ghi nhận có 19,4% trường hợp bệnh tái
phát, gọi là tái phát khi lần điều trò trước đã được
đánh giá là đáp ứng hoàn toàn, sau một thời gian
thấy xuất hiện lại sang thương ở tại chổ, tại vùng.Tái
phát xảy ra một thời gian ngắn sau điều trò, 92,6% xảy
ra trong vòng 3 năm đầu. khác cũng cho kết quả
tương tự. Tác giả Nguyễn Quốc Bảo
(1)
qua 176 trường
hợp ung thư lưỡi điều trò tại bệnh viện K Hà Nội có 50
trường hợp tái phát, trong đó 48 trường hợp (96%)
xảy ra trong vòng 36 tháng đầu tiên của ung thư lưỡi

chủ yếu là tại chổ, tại vùng. Các phương tiện điều trò
chủ yếu cũng tập trung tại chổ, tại vùng và đây cũng
là nơi thường xảy ra tái phát nhất. Tái phát có thể xảy
ra ở một hay nhiều vò trí.Chúng tôi ghi nhận tái phát
xảy ra ở giai đoạn I,II: 17 trường hợp nhiều hơn ở giai
đoạn III,IV: 10 trường hợp. Điều này do các trường
hợp giai đoạn III,IV bệnh tiến triển, điều trò ít có hiệu
quả, ít trường hợp đạt được đáp ứng hoàn toàn
Theo các tác giả nước ngoài tỷ lệ sống còn toàn
bộ sau 5 năm thay đổi từ 37-85%. Nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 3 năm
là 47,5%, trung vò thời gian sống còn là 29 tháng.
Nghiên cứu chúng tôi nhận thấy thời gian sống còn
thấp. Phần lớn nghiên cứu của các tác giả trên thế
giới đều cho rằng, kích thước bướu là yếu tố tiên
lượng quan trọng. Theo Trần Đức Lợi, tỷ lệ sống còn
toàn bộ sau 5 năm đối với giai đoạn bướu sớm (T1T2)
là 62,8%, giai đoạn muộn T3,T4 là 18,6%. Theo
Ogasawara
(13),
tỷ lệ sống 5 năm với T1, T2, T3, T4 lần
lượt là 95%; 77,5%; 24,3%; 0%. Nghiên cứu của chúng
tôi nhận thấy tỷ lệ sống còn toàn bộsau 3 năm đối với
T1 là 70,4% T2 là 46,1%, đối với T3T4 là 17,7%. Nhìn
chung các nghiên cứu cho kết quả khác nhau nhưng
có điểm nhận xét chung là xếp hạng T1,T2 có tiên
lượng tốt hơn xếp hạng T3,T4.
Hạch vùng là một yếu tố tiên lượng được nhiều
tác giả công nhận trong ung thư lưỡi. Nếu chưa có di
căn hạch thì tiên lượng rất tốt, nhưng khi đã có di

căn hạch thì tiên lượng xấu hơn nhiều và tỷ lệ sống 5
năm giảm đi một nửa. Đối với các trường hợp di căn
hạch vi thể chúng tôi nhận thấy các trường hợp bướu
giai đoạn sớm, hạch không sờ thấy trên lâm sàng
được nạo hạch cổ phòng ngừa(T1T2N0) nếu kết quả
sau nạo hạch có di căn thì tỷ lệ sống còn toàn bộ sau
3 năm là 56,4%, trong khi các trường hợp nạo hạch
không có di căn vi thể là 82,5%. Sự khác biệt này có ý
nghóa thông kê (p <0,05).Đối với các trường hợp
hạch sờ thấy trên lâm sàng nhưng nạo hạch kết quả
205
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Nghiên cứu Y học

giải phẫu bệnh âm tính có tỷ lệ sống còn toàn bộ sau
3 năm 64,3%, ngược lại nếu hạch sờ thấy trên lâm
sàng nạo hạch mà giải phẫu bệnh dương tính thì có
tỷ lệ sống còn không bệnh sau 3 năm rất thấp 22,2%.
Sự khác biệt này có ý nghóa thông kê(p <0,05)
Giai đoạn bệnh của ung thư lưỡi phản ánh sự
phát triển và thời gian biểu hiện bệnh. Bệnh ở giai
đoạn muộn kết quả điều trò kém kèm theo tiên lượng
xấu hơn so với bệnh ở giai đoạn sớm. Theo nghiên
cứu của chúng tôi tỷ lệ sống còn sau 3 năm giai đoạn
I,II là 70,9%, giai đoạn III,IV là 28,8%. Theo
Clayman
(7)
, tỷ lệ sống còn 5 năm với giai đoạn I và II
là 50-70% và giai đoạn III-IV là 15-30%. Cũng theo kết
quả của nhiều nghiên cứu, đều nhận thây bệnh ở giai
đoạn muộn có thời gian sống còn ngắn. Bên cạnh đó

do thực tế tại Việt Nam, bệnh nhân ở giai đoạn muộn
thường ít đáp ứng với xạ trò nên bệnh nhân ở giai
đoạn muộn có tỷ lệ sống còn rất thấp.
KẾT LUẬN
Qua hồi cứu 310 trường hợp ung thư lưỡi điều trò
tại Bệnh Viện Ung Bướu từ tháng 1/1999 đến tháng
12/2001, chúng tôi rút ra các nhận đònh sau:
Đặc điểm dòch tễ
Ung thư lưỡi thường gặp 61-70 tuổi, nam thường
gặp hơn nữ. Tỷ lệ nam hút thuốc lá (82,6%) và nữ ăn
trầu (32,1%) khá cao và là yếu tố nguy cơ quan trọng
trong ung thư lưỡi
Đặc điểm bệnh học và lâm sàng
Bướu lưỡi và vết loét ở lưỡi là hai triệu chứng
thướng gặp chiếm tỷ lệ 49% và 42,2%, đa số bướu
xâm lấn sang vò trí xung quanh (41,8%). Gần 50%
bệnh nhân có hạch trên lâm sàng lúc nhập viện.Dạng
đại thể thường gặp là chồi sùi (48,1%), carcinôm tế
bào gai chiếm đa số (98,8%) đa phần là carcinôm tế
bào gai loại biệt hoá tốt (60%). Đa số bệnh nhân nhập
viện trong giai đoạn trễ (giai đoạn III, IV chiếm
61,6%) làm cho việc điều trò gặp không ít khó khăn.
Điều trò
Bướu nguyên phát: Xạ trò vẫn là mô thức điều trò
chủ yếu bướu nguyên phát
Hạch vùng
Tỷ lệ di căn hạch đối với các trường hợp hạch sờ
thấy trên lâm sàng là 73%, nhóm hạch hay bò di căn
thường nhất là nhóm I, II,III
Nên nạo hạch trên cơ vai móng phòng ngừa cho

các trường hợp hạch không sờ thấy trên lâm sàng vì:
Tỷ lệ di căn hạch âm thầm cao, 27,9%.
Đối với các trường hợp bướu T1T2 tỷ lệ di căn
hạch âm thầm là 27,6%
Biến chứng của phẫu thuật thấp (4%) chấp nhận
được.
Tái phát tại hạch vùng đối với các trường hợp có
nạo hạch phòng ngừa thấp(6,8%)
Tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 3 năm là 47,2% đối
với giai đoạn I,II là 70,9%, đối với giai đoạn III,IV là
28,8%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Quốc Bảo, Hà Văn Khanh, Bùi Thò Xuân
(1997) “Chẩn đoán điều trò ung thư lưỡi tại bệnh viện
K từ năm 1989-1995”. Tạp chí Y Học Tp. Hồ Chí
Minh,167-197,1997
2. Trần Văn Công, Phạm Đình Tuân.(1995) “Nhận xét
đặc điểm lâm sàng 135 bệnh nhân ung thư lưỡi tại
bệnh viện K từ năm 1989-1994.” Tạp chí Y Học Thực
Hành,
3. Trần Đặng Ngọc Linh.(1998) “Khảo sát dòch tễ học,
bệnh học, lâm sàng và điều trò ung thư hốc miệng”.
Luận văn tốt nghiệp nội trú ung thư học.
4. Trần Đức Lợi. (2003) “Nghiên cứu các đặc điểm lâm
sàng và các yếu tố tiên lượng ung thư lưỡi”. Tạp chí Y
học TPHCM.
5. Trần Văn Thiệp, Nguyễn Chấn Hùng, Bùi Xuân
Trường, Mai Hồng Hoàng, Võ Duy Phi Vũ. (1997) “Nạo
hạch cổ phòng ngừa trong điều trò ung thư lưới (2/3
trước)”. Tạp chí y học TPHCM – số đặc biệt chuyên đề

ung thư 172-181, 9/1997.
6. Byers R.M.(1998)" Can we detect or predict the
presence of occult nodal metastases in patients with
squamous carcinoma of the oral tongue?". Head &
neck, pp 138-144
7. Clayman G.L. et al.(1998) “Selective Neck Dissection
of Anatomically Appropriate Levels Is as Efficacious
as Modified Radical Neck Dissection for Elective
Treatment of The Clinically Negative Neck in
Patients With Squamous Cell Carcinoma of The Upper
Respiratory and Digestive Tracts” Arch Otolaryngol
Head Neck Surg 124: 387-392
8. Hicks L.W, North H.J et al (1998) “Surgery as a single
modality therapy for squamous cell carcinoma of the
oral tongue”, Am J Otolarygol, pp 24-28,
Chuyên đề Ngoại Chuyên Ngành
206
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

9. Khafif A (2001)"Is dissection of level IV necessary in
patients with T1-T3 N0 tongue cancer?" Laryngoscope,
111, pp 1088-1090.
12. Nithya C.S. at al (2003). ”Patterns of cervical
metastasis from carcinoma of the oral tongue” World J
of Sur Oncology 1: 10.
10. Myers N.J, Elkins.T, Roberts.D et al (2000)
“Squamous cell carcinoma of the tongue in young
adults: Increasing incidence and factors that predict
treatment outcomes”, Otolarygo Head Neck Surg, pp

44-51.
13. Ogasawara C.H, Okita M.T et al.(1999) “Cervical
lymph node metastasis of early or late T2 tongue
carcinoma”, Nippon Jibiinkoka Gakkai Kaiho, pp
1242-1248.
14. Yii N.W, Patel S.G. et al (1999) “Management of the
N0 neck in early cancer of the oral tongue”, Clin
Otolaryngol, Vol 24, pp 75-79.
11. Nakagawa T. et al (2003) “Neck node metastasis after
successful brachytherapy for early stage tongue
carcinoma”. Radiotherapy and oncology 68: 129-135.

207

×