Tải bản đầy đủ (.pdf) (53 trang)

Tài liệu ĐỀ ÁN: ''''Thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong điều kiện thực hiện lộ trình AFTA- CEPT" doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (664.77 KB, 53 trang )












ĐỀ ÁN: " Ngành dệt may Việt Nam trên con
đường hội nhập"
Đề án Kinh tế Thương Mại
Mục lục
Lời Mở dầu 3
Chương I Những vấn đề cơ bản về khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) 5
1. Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và
AFTA nói riêng. 5
1.1. Cơ sở của hội nhập kinh tế 5
1.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tê đối với Việt Nam. 6
2. Quá trình hình thành và phát triển của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA ) 9
2.1. Quá trình hình thành và phát triển. 9
2.2. Sự ra đời và những mục tiêu chính của AFTA. 11
2.3. Những quy định chung về AFTA-CEPT . 12
3. Những cơ hội và thác thức đối với nền kinh tế Việt Nam khi tham gia
AFTA 17
3.1. Những cơ hội thuận lợi cho Việt Nam khi tham gia vào AFTA
Những năm gần đây đầu tư của các nước ASEAN đang có xu hướng tăng
nhanh. Sự tham gia của Việt Nam vào AFTA sẽ tạo ra thuận lợi cho sự phát


triển kinh tế phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước
17
3.2. Những khó khăn và thách thức đặt ra cho Việt Nam khi tham gia
vào AFTA-CEPT . 19
Chương II Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong điều kiện thực
hiện lộ trình AFTA-CEPT 21
1. Quá trình thực hiện cam kết của Việt Nam với AFTA-CEPT 21
1.1. Các hoạt động chuẩn bị để thực hiện CEPT/ AFTA của Việt Nam.
21
1.2. Về tổ chức. 21
1.3. Về lịch trình cắt giảm thuế tổng thể 22
1.4. Các biện pháp phi thuế quan 25
1.5. Trong lĩnh vực hải quan. 26
2. Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong quá trình thực hiện
lộ trình AFTA-CEPT 30
2.1. Tình hình kim ngạch xuất khẩu từ 1986 đến nay 30
2.2. Tình hình xuất khẩu theo mặt hàng 32
2.3. Tình hình xuất khẩu theo thị trường. 34
2.4. Những tác động khi tham gia AFTA tới xuất khẩu của Việt Nam.36
3. Đánh giá chung về tình hình xuất khẩu của Việt Nam từ khi tham gia
AFTA-CEPT đến nay 38
3.1. Những kết quả đạt được. 38
3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 38
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 1
Đề án Kinh tế Thương Mại
Chương III Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện
thực hiện lộ trình AFTA - CEPT 40
1. Quan điểm xuất khẩu của Việt Nam. 40
2. Một số biện pháp chủ yếu thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam trong điều
kiện thực hiện lộ trình AFTA-CEPT 40

2.1. Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá 41
2.2. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các
mặt hàng chế biến 42
2.3. Thực hiện tốt công tác đào tạo cán bộ và cung cấp thông tin 43
3. Một số kiến nghị với nhà nước . 44
3.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách 44
3.2. Thống nhất các tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam, đáp ứng được và
hài hoà với các tiêu chuẩn quốc tế. 49
Kết luận 51
Tài liệu tham khảo 52

Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 2
Đề án Kinh tế Thương Mại
LỜI MỞ DẦU

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá-Hiện đại hoá. Toàn
đảng, toàn dân ta đang gia sức xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, từng bước
nâng cao đời sống của nhân dân.
Trong thời đại ngày nay, mở cửa và hội nhập kinh tế là một yêu cầu tất yếu
của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế. Khi tham gia hội nhập, mở
cửa chúng ta sẽ tận dụng được sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, công nghệ từ bên
ngoài, thúc đẩy quá trình xuất nhập khẩu, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế
giới. Tuy nhiên, hội nhập, mở cửa cũng có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận
cạnh tranh theo đòi hỏi của kinh tế thị trường tức là phải tiến hành tự do hoá
thương mại, giảm bớt sự can thiệp của nhà nước để nền kinh tế dần dần được
điều tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường.
Hiện nay trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều tổ chức liên kết kinh tế với
những thoả thuận thương mại khu vực như: EU ở Tây Âu, NAFTA ở Bắc Mỹ ra
đời là thách thức không nhỏ đối với đà tăng trưởng của ASEAN.
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN từ năm 1995 và bắt

đầu thực hiện chương trình hội nhập AFTA từ năm 1996. Với trình độ phát triển
ở mức thấp hơn, lại đang trong quá trình chuyển đổi, nền kinh tế Việt Nam
không thể tránh khỏi những thách thức lớn trong quá trình thực hiện cam kết của
mình với AFTA.Đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu nước ta cần phải tận dụng
tối đa những lợi thế mà quá trình hội nhập vào AFTA mà quan trọng nhất là
trong quá trình thực hiện việc giảm thuế quan xuất khẩu CEPT và hạn chế đến
mức thấp nhất có thể những bất lợi do CEPT mang lại. Vì vậy, việc nghiên cứu
quá trình tự do hoá thương mại của các nước thành viên ASEAN theo chương
trình xây dựng khu vực mậu dịch tự do ASEAN để rút ra những bài học kinh
nghiệm, đề ra những biện pháp phù hợp để Việt Nam hội nhập AFTA thành
công và tăng cường hơn nữa quá trình xuất khẩu và các nước ASEAN là một
vấn đề cấp thiết hiện nay.
Do đó, em chọn đề tài đề án môn học kinh tế Thương Mại "Thúc đẩy xuất
khẩu hàng hoá của Việt Nam trong điều kiện thực hiện lộ trình AFTA-
CEPT".
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 3
Đề án Kinh tế Thương Mại
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian có hạn cùng với năng lực và
hiều biết còn hạn chế nên bản đề án không tránh khỏi những thiếu xót. Kính
mong các thầy, cô giáo và các bạn quan tâm đóng góp ý kiến để bản đề án được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong
khoa Thương Mại và các bạn bè cùng lớp. Đặc biệt là sự hướng dẫn trực tiếp ,
tận tình, tỷ mỉ của cô giao TS. Phan Tố Uyên cùng sự giúp đỡ của các bạn bè
trong nhóm để em có thể hoàn thành đề án đúng thời hạn.

Hà Nội ngày 6 tháng 4 năm 2004
Sinh Viên




Thân Thế Cường

Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 4
Đề án Kinh tế Thương Mại
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN (AFTA)

1. Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và
AFTA nói riêng.
1.1. Cơ sở của hội nhập kinh tế .
Ngày nay, các quốc gia trên hành tinh chúng ta trong quá trình phát triển đã
từng bước tạo lập nên các mối quan hệ song phương và đa phương nhằm từng
bước tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế với những mức độ khác nhau,
nhằm đưa lại lợi ích thiết thực cho mỗi bên. Chính các liên kết kinh tế quốc tế là
sự biểu hiện rõ nét của hai xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra
hết sức sôi động và đặc biệt quan trọng trong những năm gần đây.

Khu vực hoá kinh tế và các hình thức chủ yếu của nó.
Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đang diễn ra ở những cấp độ
khác nhau với xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu hướng khu vực hoá.
Toàn cầu hoá kinh tế là hình thành một thị trường thế giới thống nhất, một
hệ thống tài chính tín dụng toàn cầu, là việc phát triển và mở rộng phân công lao
động quốc tế theo chiều sâu, là sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học – công
nghệ giữa các nước trên quy mô toàn cầu, là việc giải quyết các vấn đề kinh tế –
xã hội có tính chất toàn cầu như vấn đề dân số, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
môi trường sinh thái… Trong khi đó, khu vực hoá kinh tế chỉ diễn ra trong một
không gian địa lý nhất định dưới nhiều hình thức như khu vực mậu dịch tự do,
đồng minh( liên minh ) thuế quan, đồng minh tiền tệ, thị trường chung, đồng

minh kinh tế …nhằm mục đích hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, từng
bước xoá bỏ những cản trở trong việc di chuyển tư bản, lực lượng lao động,
hàng hoá dịch vụ… tiến tới tự do hoá hoàn toàn những di chuyển nói trên giữa
các nước thành viên trong khu vực.
Ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển ( hay còn gọi là các quốc
gia công nghiệp phát triển ) thì xu hướng tham gia vào hội nhập vào nền kinh tế
các nước trong khu vực và bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng. Việc tham gia
mạnh mẽ và rộng rãi vào các khối liên kết kinh tế trong khu vực, từng bước tiến
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 5
Đề án Kinh tế Thương Mại
tới sự nhất thể hoá cao thông qua các văn bản, hiệp định đã kỹ kết đã đưa lạicho
các quốc gia trong liên minh sự ổn định, hợp tác cùng phát triển, các thành viên
được hưởng ưu đãi về kinh tế, chính trị… Tình hình này trong quá khứ, hiện tại
và tương lai đang đặt ra cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới nói chung
và các quốc gia Đông nam á nói riêng những cơ hội và những thách thức mới.
Cho đến nay đã hình thành hàng chục khối liên kết kinh tế quốc tế giữa các nước
đang phát triển ở châu Mỹ Latinh, châu Phi, châu á.
Sự liên kết giữa các quốc gia đang phát triển, ngoài mục đích hợp tác hỗ trợ
nhau phát triển còn nhằm mục tiêu chống lại các chính sách bảo hộ mậu dịch
của các nước công nghiệp phát triển. Việc hình thành các khu vực liên kết và sự
hội nhập của từng quốc gia vào nền kinh tế các nước trong khu vực với những
mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào từng khu vực liên kết và hình thức liên kết. Cụ
thể là các liên kết sau :
+ Khu vực mậu dịch tự do hay khu buôn bán tự do.
+ Liên minh thuế quan.
+ Thị trường chung.
+ Liên minh tiền tệ
+ Liên minh kinh tế.
1.2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tê đối với Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong thế giới ngày

nay. Đối với các nước đang và kém phát triển (trong đó có Việt Nam) thì hội
nhập kinh tế quốc tế là con đường tốt nhất để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so
với các nước khác và có điều kiện phát huy hơn nữa những lợi thế so sánh của
mình trong phân công lao động và hợp tác quốc tế. Như vậy vấn đề đặt ra đối
với Việt Nam không còn là “hội nhập” hay “không hội nhập” mà phải là hội
nhập như thế nào để tận dụng tốt cơ hội, giảm thách thức trong quá trình phát
triển của mình trong điều kiện thế giới có nhiều biến động khó có thể dự đoán
trước được.
Trước đây, tính chất xã hội hoá của quá trình sản xuất chủ yếu chỉ lan toả
trong phạm vi biên giới của từng quốc gia, nó gắn các quá trình sản xuất , kinh
doanh riêng rẽ lại với nhau, hình thành các tập đoàn kinh tế quốc gia và làm xuất
hiện phổ biến các loại hình công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc gia. Qua đó
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 6
Đề án Kinh tế Thương Mại
quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đã có những thay đổi đáng kể, hình thành nên
sở hữu hỗn hợp. Từ đó, việc đáp ứng yêu cầu về quy mô lớn cho sản xuất kinh
doanh ngày càng thuận lợi hơn. tình hình này đòi hỏi sự tham gia ngày càng lớn
của chính phủ các quốc giacó nền kinh tế phát triển. Bởi lẽ, những nước này là
những nước có thế mạnh về vốn, công nghệ, trình độ quản lý…
Ngày nay, một mặt do sự phát triển cao của lực lượng sản xuất làm cho tính
chất xã hội hoá của nó vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, lan toả sang các
nước trong khu vực và thế giới. Mặt khác tự do thương mại cũng đang trở thành
xu hướng tất yếu và được xem là một nhân tố quan trọng thúc đẩy buôn bán giao
lưu giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống của
mọi quốc gia. Vì vậy hầu hết các quốc gia trên thế giới đều điều chỉnh các chính
sách theo hướng mở cửa , giảm và tiến tới dỡ bỏ các rào cản thương mại, tạo
điều kiện cho việc lưu chuyển các nguồn lực và hàng hoá tiêu dùng giữa các
quốc gia.
Có thể nói sự hội nhập của nền kinh tế các nước trong khu vực đang đưa lại
những lợi ích kinh tế khác nhau cho cả người sản xuất và người tiêu dùng trong

các nước thành viên. Đặc biệt là Việt Nam thì mở cửa và hội nhập với các nước
trong khu vực và trên toàn thế giới đang là xu thế tất yếu. Chính sự hội nhập này
đã đem lại cho Việt Nam nhiều lợi ích đáng kể. Cụ thể:

Một là, tạo lập quan hệ mậu dịch mới giữa các nước thành viên, mở rộng
hơn nữa khả năng xuất, nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam với các nước, các
khu vực khác trên thế giới. Cũng trong điều kiện này mà tiềm năng kinh tế của
Việt Nam được khai thác một cách có hiệu quả. Chính việc tạo lập mậu dịch tự
do hội nhập khu vực đã làm tăng thêm phúc lợi thông qua thay thế các ngành,
trước hết là công nghiệp của Việt Nam có chi phí cao bằng những ngành có chi
phí thấp hơn của những quốc gia nhận được sự ưu đãi. Cũng trong điều kiện
này, lợi ích của người tiêu dùng cũng được tăng lên nhờ hàng hoá của các nước
thành viên đưa vào Việt Nam luôn nhận được sự ưu đãi. Do đó, hàng hoá hạ
xuống làm cho người dân ở nước chủ nhà có thể mua được khối lượng hàng hoá
lớn hơn với chi phí thấp hơn

Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 7
Đề án Kinh tế Thương Mại
Hai là, hội nhập khu vực còn góp phần chuyển hướng mậu dịch, sự chuyển
hướng này diễn ra phổ biến khi hình thành liên minh thuế quan vì khi đó các
điều kiện cơ bản giữa các nước thành viên trong liên minh sẽ trở nên thuận lợi
hơn, hấp dẫn hơn trước ngay cả trong trường hợp một nước nào đó trong liên
minh tiến hành nhập khẩu hàng hoá của các quốc gia ngoài liên minh với giá
thấp hơn, nhưng nay được thay thế bằng việc nhập khẩu những sản phẩm cùng
loại của các nước trong liên minh mà giá cả lại cao hơn( do được hưởng chính
sánh ưu đãi thuế quan…) chính những ưu đãi này giữa các nước thành viên
trong liên minh đã đưa tới sự chuyển hướng mậu dịch nói trên ( tức là thay thế
những người cung cấp những sản phẩm cùng loại có chi phí thấp hơn nhưng
không được hưởng các chính sách ưu đãi bằng những người cung cấp những sản
phẩm với chi phí cao hơn ( kém hiệu quả ) nhưng được hưởng sự ưu đãi của

khối.

Ba là, hội nhập vào khu vực, thực hiện tự do hoá Thương Mại tạo điều kiện
cho Việt Nam có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu vốn, công nghệ, trình độ
quản lý…từ các quốc gia khác trong liên minh. Về lâu dài tự do hoá Thương
Mại góp phần tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, tự do hoá Thương
Mại giúp tăng trưởng kinh tế bằng hai cách: tăng xuất khẩu và tăng năng suất
cận biên của 2 yếu tố sản xuất là vốn và lao động.
Bên cạnh những lợi ích kinh tế chủ yếu trên đây, cũng cần phải thấy rằng
việc hội nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực với các hình thức liên kết
đa dạng từ thấp đến cao đang đặt ra cho nước ta những thử thách mới cần phải
ứng xử cho phù hợp với quá trình tự do hoá Thương Mại. Những thử thách đó là
:
- Phải nhanh chóng điều chỉnh lại các cân đối trong nền kinh tế trên cơ sở
xoá bỏ những hạn chế về Thương Mại như thuế quan, hàng rào phi thuế quan,
trong đó phải kể đến sự điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu giá và tỷ
giá hối đoái.
- Vấn đề việc làm và giải quyết thất nghiệp.
- Cải cách hệ thống tài khoá, đặc biệt là những trường hợp thuế quan mậu
dịch có tỷ trọng đáng kể trong nguồn thu ngân sách và do đó làm nảy sinh những
kho khăn trong qua trình cân đối ngân sách của chính phủ.
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 8
Đề án Kinh tế Thương Mại
- Cần phải thiết lập khuôn khổ pháp lý chung ( luật chơi chung) đối với các
nước thành viên. Trước hết, cần phải giải quyết một số vấn đề có liên quan tới
các quy định thuế quan, hải quan, chuẩn mực lao động, môi trường sinh thái,
chất lượng sản phẩm…
- Vấn đề giải quyết công bằng, bình đẳng trong xã hội và giữa các nước
trong nội bộ khu vực.
Như vậy, việc hội nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực, hình thành

các dạng liên kết kinh tế quốc tế luôn đưa lại cho Việt Nam những thuận lợi và
những khó khăn, những lợi ích kinh tế khác nhau. Vì vậy, chúng ta cần tính toán
cân nhắc, lựa chọn để đưa ra những quyết định thích hợp trong quá trình hội
nhập nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao.
2. Quá trình hình thành và phát triển của Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA ).
2.1. Quá trình hình thành và phát triển.
Ngày 28/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của hiệp hội
các nước Đông nam á ASEAN. Sự kiện trọng đại này đánh dấu một thành công
to lớn của chính sách đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam, đánh đấu một
bước phát triển mới trong quá trình hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng quốc
tế và liên kết kinh tế quốc tế.
Với 7 thành viên và với số dân 430 triệu người, diện tích 3,5 triệu km
2
, thu
nhập bình quân đầu người là 1680 USD. ASEAN là cửu ngõ của Đông Nam á,
là nơi hội tụ các giao lưu kinh tế quốc tế và đang trở thành khu vực phát triển
năng động nhất của châu á cũng như trên toàn thế giới.
Kể từ ngày 1/1/1993 các nước ASEAN cùng nhau thoả thuận cùng nhau xây
dựng khối mậu dịch tự do ASEAN- AFTA một thị trường chung rộng lớn trong
long Đông nam á. Đặc biệt là chương trình ưu đãi thuế quan hữu hiệu chung(
CEPT ), thực hiện giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan trong khoảng
thời gian lúc đầu dự định là 15 năm sau đó rút xuống 109 năm bắt đầu từ
1/1/1993 có ý nghĩa quan trọng và tác động sâu sắc đến nền kinh tế mỗi quốc
gia. Mục tiêu của chương trình này là đến năm 2003 giảm thuế quan đối với các
hàng hoá sản xuất trong nội bộ khối xuống tới mức 0-5%. Hội nghị cấp cao của
ASEAN lần thứ 5 vừa qua đã đề ra yêu cầu cố gắng hoàn thành mục tiêu vào
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 9
Đề án Kinh tế Thương Mại
năm 2000. Thực hiện được điều đó AFTA sẽ góp phần tích cực vào việc tăng

cường khả năng canh tranh của ASEAN trong việc thu hút đầu tư trực tiếp của
nước ngoài và ngược lại, củng cố và thúc đẩy tiến trình nhất thể hoá trong khu
vực và đưa tới sự phát triển năng động hơn nữa của mỗi thành viên, điều này
hoàn toàn phù hợp với quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới cả trên cấp
độ toàn cầu và trên cấp độ khu vực.
ATFA ra đời có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với các nước. Tuy thế, sự ra đời của
AFTA cũng là kết quả phức hợp giữa sự tác động của các nhân tố bên trong và
bên ngoài sau :
-
Về nhân tố bên trong : Do Sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá
trong hai thập kỷ qua đã làm tăng nhanh chóng quy mô buôn bán lẫn nhau giữa
các nền kinh tế ASEAN. Vào đầu những năm 90, phần xuất khẩu nội địa của
những nhóm nước này đã tăng khoảng 20%, chẳng hạn vào năm 1980 hàng chế
tạo của Singapo chỉ chiếm 15,3% trong tổng số hàng xuất khẩu nội bộ của
ASEAN thì đến năm 1990 đã tăng lên 60,2%, cùng lúc đó Inđônêsia cũng tăng
từ 13,3% lên đến 46,6%, Thái Lan từ 29,1% tăng lên 48,3% có thể nói nền
kinh tế của các nước ASEAN có tính hướng ngoại và đang rất cần tìm kiếm thị
trường xuất khẩu . Điều này càng được thúc đẩy nhanh hơn nhờ sự tác động tích
cực của tăng trưởng kinh tế khu vực đối với các chiến lược phi điều chỉnh và
biện pháp tự do hoá thương mại. Chính phủ các nước ASEAN cũng nhận thấy rõ
sự trở ngại của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch trong chiến lược phát triển và đi đến
đề xuất một khu vực mậu dịch tự do hoá thương mại giữa các nước thành viên
một cách có hiệu quả.
- Về nhân tố bên ngoài, Do sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường của nhiều
nước trên thế giới tiêu biểu như: Trung Quốc, các nước Đông Âu, làm cho các
quốc gia ASEAN ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn trong việc thu hút
đầu tư nước ngoài và cạnh tranh thương mại. Do sự cạnh tranh của nhiều tổ chức
hợp tác của các khu vực như EU, NAFTA. Nói cách khác, sức ép của chủ nghĩa
khu vực cùng sự xuất hiện của các khối EU, NAFTA và nhiều yếu tố làm giảm
đi lợi thế cạnh tranh của các nước ASEAN đòi hỏi các nước ASEAN phải có sự

thống nhất để đi đến những biện pháp thúc đẩy nhanh chóng buôn bán nội bộ và
tự do hoá quan hệ thương mại giữa khu vực với các khối liên minh kinh tế khác.

Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 10
Đề án Kinh tế Thương Mại
2.2. Sự ra đời và những mục tiêu chính của AFTA.
AFTA(ASEAN Free Trade Area) là diễn đàn hợp tác kinh tế quan trọng và
đáng chú ý nhất của ASEAN, được thành lập tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN
lần thứ 4 tại Singapore theo sáng kiến của ThaiLand, Tháng 2 năm 1992. Khu
vực mậu dịch tự do AFTA chỉ gồm có những thành viên của hiệp hội các nước
Đông nam á (ASEAN), 7 thành viên của AFTA là : Singapore, ThaiLand,
Philipine, Malaysia, Indonesia, Brunei, Việt Nam. Khu vực mậu dịch tự do
AFTA lớn hơn khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA ) và liên minh châu
Âu(EU) về số dân và diện tích nhưng thấp hơn về thu nhập bình quân đầu người
từ 10-15 lần.

Khu vực mậu dịch tự do AFTA là nơi thu hút sự chú ý của các liên minh kinh
tế thế giới, các công ty, các tập đoàn đa quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc
tế, AFTA sẽ là khối mậu dịch "hạt nhân" của diễn đàn hợp tác kinh tế châu á
thái bình dương ( APEC), AFTA có một vị trí quan trọng với những mục tiêu
sau đây
- Thực hiện tự do hoá Thương Mại ASEAN bằng việc loại bỏ các hàng rào
thuế quan và phi thuế quan trong nội bộ khu vực.
- Thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào ASEAN bằng cách tạo dựng
ASEAN thành một thị trường thống nhấtvà hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế.
- Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay
đổi, đặc biệt là phát triển trong xu thế tự do hoá thương mại toàn cầu.
Thông qua việc thành lập AFTA các nước ASEAN muốn tạo ra một thị trường
mà trong đó :
+ Một hàng rào thuế quan được xoá bỏ.

+ Thuế suất đánh vào các mặt hàng xuất nhập khẩu chỉ từ 0-5%.
+ Phương thức để tiến hành giảm thuế là chương trình CEPT.
Tóm lại, AFTA ra đời đã trở thành một bộ phận hợp thành của xu thế tự do
hoá thương mại rộng lớn hơn ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và toàn cầu.
Do đó, tạo lập AFTA cho ASEAN cũng chính là tạo lập khu vực mở, một sự thích
ứng mới cho sự phát triển của ASEAN trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hoá.
AFTA sẽ làm tăng khối lượng buôn bán trong nội bộ ASEAN cũng như giữa các
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 11
Đề án Kinh tế Thương Mại
nước ASEAN với các nước ngoài khu vực. Theo nghiên cứu của một nhóm
chuyên gia do ASC chỉ định thì AFTA có thể sẽ làm cho tổng kim ngạch xuất
khẩu của các nước ASEAN sẽ tăng từ 1,5% ( Đối với Singapore) đến 5%( Đối
với TháiLand) và tronng khoảng 1,5 -5% đối với các nước khác.
2.3. Những quy định chung về AFTA-CEPT .
AFTA có các nội dung chính sau :
1/ Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT).
2/ Thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hoá giữa các nước thành viên
3/ Công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hoá của nhau.
4/ Xoá bỏ những qui định hạn chế đối với ngoại thương.
5/ Tiến hành hoạt động tư vấn vĩ mô.
Trong những yếu tố trên CEPT được coi là yếu tố cốt lõi vì thông qua
việc giảm thuế quan, dỡ bỏ dần các hàng rào phi thuế quan người ta sẽ xác lập
được nền thương mại tự do trong nội bộ khối.
Không phải tới thời điển này, nhu cầu liên kết kinh tế trong lĩnh vực thương
mại của ASEAN mới được đặt ra. Trước đó, từ năm 1997, một chương trình
nhằm thúc đẩy mậu dịch giữa các nước thành viên đã được đưa vào thực hiện
với thoả thuận ưu đãi thương mại (Preferentoal Trading Arrangements-PTA).
Khác với PTA, quan hệ thương mại ASEAN theo CEPT trong môi trường các
hàng rào thuế quan và phi thuế quan dần được loại bỏ hoàn toàn.
* Những quy định chung của CEPT.

Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT ) được ký kết giữa
các nước ASEAN năm 1992 là cơ chế chính để thực hiện AFTA. Mục tiêu của
CEPT là giảm mức thuế quan trong Thương Mại nội bộ ASEAN xuống còn 0-
5%, đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế
quan.
CEPT áp dụng với sản phẩm chế tạo, kể cả sản phẩm cơ bản và sản phẩm
nông sản. Tuy nhiên, chỉ có những sản phẩm có ít nhất 40% giá trị xuất sứ của
ASEAN (của riêng một nước hoặc nhiều nước ASEAN cộng lại) và phải là các
sản phẩm được đưa vào danh mục được giảm thuế và được hội đồng AFTA xác
nhận
Các sản phẩm được đưa vào chương trình cắt giảm thuế gồm 4 khoản mục :
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 12
Đề án Kinh tế Thương Mại
1- Danh mục các xản phẩm với tiến trình giảm nhanh và giảm thường(IL)
2- Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế(TEL)
3- Danh mục hàng nông sản chưa qua chế biến. Nhạy cảm (UAPS)
4- Danh mục loại trừ hoàn thành ( EL ).
Theo CEPT, tiến trình cắt giảm được quy định cụ thể cho các sản phẩm trong
từng danh mục trừ các sản phẩm thuộc danh mục loại trừ hoàn toàn là những sản
phẩm không thuộc diện cắt giảm thuế quan( gồm các sản phẩm có ảnh hưởng tới
an ninh, quốc phòng và an toàn xã hội chiếm dưới 5% tổng số mã thuế của
ASEAN ).
Tiến trình cắt giảm bình thường của các sản phẩm thuộc danh mục cắt giảm
các thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống còn 20% vào 1/1/1998 và tiếp tục
giảm xuống 0-5% vào 1/1/2003. Các sản phẩm có thuế suất dưới 20% sẽ được
giảm xuống 0-5% vào 1/1/2000. Đối với tiến trình nhanh, các sản phẩm có thuế
suất trên 20% sẽ giảm 0-5% vào 1/1/2000, các sản phẩm có thuế suất dưới 20%
sẽ được giảm xuống 0-5% vào 1/1/1998. Các sản phẩm nông sản chưa qua chế
biến thuộc danh mục cắt giảm ngay sẽ bắt đầu được cắt giảm từ 1/1/1996 đến
1/1/2003 sẽ có mức thuế suất 0-5%. Các sản phẩm trong danh mục loại trừ tạm

thời cũng được chuyển sang danh mục cắt giảm ( mỗi năm 20% sản phẩm). Để
giảm thuế trong vòng 5 năm từ 1/1/1996 đến 1/1/2000. thời hạn chuyển sang
danh mục cắt giảm đối với các sản phẩm nông sản chưa chế biến thuộc danh
mục TEL là từ 1/1/1998 đến 1/1/2003 mỗi năm 20%.
Tuy nhiên, mỗi nước có thể giảm thuế trong những thời gian khác nhau.
Nhưng thời điểm hoàn thành thuế là 1/1/2003.
Các sản phẩm nông sản chưa qua chế biến thuộc danh mục nhạy cảm sẽ
được xenm xét riêng và bắt đầu cắt giảm từ 1/1/2001 hoặc chậm nhất là
1/1/2003 với mức thuế cuối cùng là 0-5% trừ một số mặt hàng nông sản được
coi là nhạy cảm cao chưa thống nhất được giữa các nước ASEAN.
Tuy nhiên sau một số năm thực hiện CEPT, các nước thành viên ASEAN đã
đề xuất ra một lịch trình giảm thuế linh hoạt, nghĩa là các nước không nhất thiết
phải tuân thủ theo hai kênh đồng tuyến với các quy trình rạch ròi cho các thuế
suất cần cắt giảm qua từng thời kỳ mà có thể tuỳ theo đặc điểm cơ cấu thuế của
nước mình để xây dựng lịch trình cắt giảm thuế thích hợp, miễn sao giảm nhanh
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 13
Đề án Kinh tế Thương Mại
thuế quan xuống còn 0-5% trước năm 2003, sớm hơn càng tốt. Hiện nay, Hội
đồng AFTA đã chấp nhận đề xuất đó như một sáng kiến nhằm đáp ứng các yêu
cầu về việc tạo dựng một khu vực tự do hoá thương mại ASEAN trước thời hạn.
Trên cơ sở phân tích cơ cấu các Danh mục, tại Hội đồng AFTA lần thứ 8, các
nước ASEAN đã khuyến nghị việc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình thực hiện
AFTA bằng cách mở rộng các mặt hàng chịu thuế có thuế suất từ 0-5% vào năm
2003 và tối đa hoá số các mặt hàng có thuế suất giảm tới 0% vào năm 2003.
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 14
Đề án Kinh tế Thương Mại

Bảng: Triển vọng thực hiện CEPT của 6 nước thành viên cũ trong ASEAN

Mục tiêu đặt ra



Nước thành viên
100% tổng số dòng thuế
cắt giảm có thuế 0-
5%vào năm 2002, với
một số linh hoạt.
60% tổng số dòng thuế
có thuế suất bằng 0%
vào năm 2003
Brunây Đến 2002 sẽ đạt 99,75% 80,8%
Indônêxia Đến 2002 sẽ đạt 99,08% 54,6%
Malaixia Đến 2002 sẽ đạt 91,0% 60,2%
Philippin Đến 2002 sẽ đạt 96,5% 0,07%
Xingapo Đã đạt 100% 100%
Thái Lan Đến 2002 sẽ đạt 94,8% 47,87%
Nguồn : Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á 2/2002.



 Cơ chế trao đổi nhượng bộ của CEPT

Khi vận dụng CEPT, chúng ta không được quên điều kiện bổ sung cho cơ
chế giảm thuế theo CEPT. Đó là các ưu đãi theo CEPT giữa các quốc gia
ASEAN sẽ được trao đổi trên nguyên tắc có đi có lại. Muốn được hưởng nhượng
bộ về thuế quan khi xuất khẩu hàng hoá trong khối, một sản phẩm cần có các
điều kiện sau:
+ Sản phẩm đó phải nằm trong Danh mục giảm thuế của cả nước xuất khẩu và
nước nhập khẩu và phải có mức thuế quan nhập khẩu nhỏ hơn hoặc bằng 20%.
+ Sản phẩm đó phải có trong chương trình giảm thuế quan được Hội đồng

AFTA thông qua.
+ Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN, tức là phải thoả mãn
yêu cầu hàm lượng suất xứ từ các nước thành viên ASEAN ít nhất là 40%.


Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 15
Đề án Kinh tế Thương Mại
Công thức tính hàm lượng ASEAN như sau:
Giá trị nguyên vật liệu, Giá trị nguyên vật liệu,
bộ phận các sản phẩm bộ phận, các sản phẩm
là đầu vào nhập khẩu + là đầu vào không xác
từ các nước không phải định được xuất xứ
là thành viên ASEAN
x 100% < 60%
Giá FOB
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận các sản phẩm là đầu vào nhập khẩu từ các
nước không phải là thành viên ASEAN tính theo gía CIF tại thời điểm nhập
khẩu.
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận các sản phẩm là đầu vào không xác định được
xuất xứ tính theo giá bắt đầu trước khi đưa vào chế biến trên lãnh thổ của nước
xuất khẩu là thành viên của ASEAN.
Nếu một sản phẩm có đủ cả ba điều kiện trên sẽ được hưởng mọi ưu đãi mà
quốc gia nhập khẩu đưa ra (sản phẩm được sử dụng ưu đãi hoàn toàn). Nếu sản
phẩm thoả mãn các yêu cầu trên trừ việc có mức thuế nhập khẩu bằng hoặc thấp
hơn 20% (tức là sản phẩm đó có thuế suất 20%) thì sản phẩm đó chỉ được hưởng
thuế suất CEPT cao hơn 20% trước đó hoặc thuế suất MFN, tuỳ thuộc thuế suất
nào nhỏ hơn.
Các điều kiện trên đưa ra nhằm đảm bảo sự bình đẳng hợp lý về cơ hội tiếp
cận thương mại giữa các nhà sản xuất đang cạnh tranh trong các quốc gia
ASEAN. Chúng cũng góp phần khuyến khích các quốc gia nhanh chóng đưa các

sản phẩm vào Danh mục giảm thuế. Các sản phẩm thuộc Danh mục giảm thuế
theo CEPT và các sản phẩm đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan cuả các nước
trên khác sẽ được ghi rõ trong tài liệu hướng dẫn trao đổi nhượng bộ theo CEPT
(CCEM) xuất bản hàng năm của mỗi nước.
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 16
Đề án Kinh tế Thương Mại
3. Những cơ hội và thác thức đối với nền kinh tế Việt Nam khi tham gia
AFTA.
3.1. Những cơ hội thuận lợi cho Việt Nam khi tham gia vào AFTA
Những năm gần đây đầu tư của các nước ASEAN đang có xu hướng tăng
nhanh. Sự tham gia của Việt Nam vào AFTA sẽ tạo ra thuận lợi cho sự phát
triển kinh tế phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước

Cụ thể :
* Tăng cường quan hệ thương mại với các nước
- Việc tham gia vào chương trình này là điều kiên thuận lợi để Việt Nam tăng
nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và thương mại, thúc đẩy nhanh chóng quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Tham gia AFTA cũng là bước đi cơ bản để Việt Nam tham gia vào các tổ
chức kinh tế có quy mô rộng lớn hơn như diễn đàn hợp tác kinh tế Thái Bình
Dương APEC, tổ chức thương mại thế giới WTO. AFTA, APEC, WTO . Nâng
cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế nhất là trong đàm phán đa
phương.
* Mở rộng thị trường ưu đãi.
- ASEAN là thị trường rộng lớn với khoảng trên 530 triệu dân sẽ là thị trường
tiềm năng cho việc tiêu thụ hàng hoá tại Việt Nam. Hiện nay, khoảng 30% kim
ngạch nhập khẩu là từ các nước thành viên ASEAN. Các mặt hàng được nhà
nước ưu tiên nhập khẩu là máy móc thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ cho nhu
cầu xã hội. Khi tham gia AFTA và thực hiện chương trình CEPT thì các mặt
hàng này sẽ được giảm thuế nhập khẩu xuống 0-5%. Như vậy, luồng hàng nhập

khẩu được mở rộng nhanh chóng, ASEAN ảnh hưởng rất lớn thành phẩm của
các cơ sở sản xuất sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước ASEAN .
- Do cơ cấu danh mục hàng hoá tham gia CEPT bao gồm cả nông sản thô và
nông sản chế biến, nếu Việt Nam tăng cường sản xuất hàng nông sản thì sự cắt
giảm thuế sẽ trở thành yếu tố kích thích cho các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng
này để xuất khẩu sang các nước trong khu vực và ngoài khu vực.
- Một trong những quy định về sản phẩm được hưởng quy chế hệ thống ưu
đãi thuế quan phổ cập (GSP) của Mỹ là “ trị giá nguyên vật liệu cho phép nhập
để sản xuất hàng hoá đó phải dưới 65% toàn bộ giá trị của sản phẩm đó khi vào
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 17
Đề án Kinh tế Thương Mại
lãnh thổ hải quan của Mỹ” và “trị giá một sản phẩm được chế tạo ở hai hoặc trên
hai nước là hội viên của một Hiệp hội kinh tế, Liên minh thuế quan khu vưc mậu
dịch tự do thì được coi sản phẩm của một nước”. Vì vậy, việc Việt Nam gia
nhập AFTA tạo điều kiện cho Việt Nam có thể nhập nguyên liệu của các nước
ASEAN khác để sản xuất mà sản phẩm đó vẫn được hưởng GSP.
* Thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Tham gia vào AFTA, Việt Nam có điều kiện thu hút được nhiều vốn đầu tư từ
những nước thừa vốn và đa dạng có sự dịch chuyển mạnh sang các ngành có
hàm lượng kỹ thuật cao, sử dụng ít nhân công như: Singapo, Malaysia, Thái
Lan. Việt Nam cũng có điều kiện để tiếp thu công nghệ và đào tạo kỹ thuật cao
ở các ngành cần nhiều lao động mà các nước đó đang cần chuyển giao, tranh thủ
nguồn vốn và những tiến bộ khoa học kỹ thuật của các nước trong khu vực để
khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất nước, xây dựng cơ sở hạ tầng,
phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đó cũng là cách “đi
tắt, đón đầu” phù hợp của chúng ta.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tham gia AFTA sẽ tạo sức ép và động lực để các doanh nghiệp Việt
Nam đổi mới cơ cấu tổ chức, cách thức sản xuất, phương pháp quản lý để nâng
cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm tăng sức cạch tranh nền kinh tế từ đó có

cơ hội để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ tạo nên cơ
cấu kinh tế thích hợp. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
ASEAN hiện nay, tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến mới chỉ đạt 18%, nông
sản thực phẩm 48%, nhiên liệu 34%. Trong đó trọng tâm ưu đãi của chương
trình CEPT lại là các mặt hàng công nghiệp chế biến. Việc thực hiện chương
trình CEPT sẽ là cơ hội để Việt Nam chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng
nâng cao tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến, giảm dần tỷ trọng các mặt hàng
thô, sơ chế. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tổ chức lại sản xuất theo mô hình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng tới xuất khẩu.
Kết luận
Những thuận lợi và lợi thế so sánh của Việt Nam chủ yếu là những nhân
tố khách quan nhưng những khó khăn chủ yếu là những yếu tố bắt nguồn từ
chính nội lực nền kinh tế. Điều này chứng tỏ rằng, trong quá trình hội nhập khu
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 18
Đề án Kinh tế Thương Mại
vực, nền kinh tế Việt Nam rất dễ bị tổn thương, trở thành thách thức to lớn đòi
hỏi chúng ta phải vượt lên những trì trệ, ách tách của chính mình để tìm ra cách
đi hợp lý để chiến thắng trong cuộc chạy đua và cạnh tranh kinh tế về lâu dài để
các liên kết giữa Việt Nam với các nước thành viên ASEAN được bền chặt hơn
trên cơ sở bình đẳng hai bên cùng có lợi .
3.2. Những khó khăn và thách thức đặt ra cho Việt Nam khi tham gia
vào AFTA-CEPT .

Khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế tất yếu của quá trình phát triển kinh tế
thế giới. Căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế của các mình mà tham gia vào
lĩnh vực khác nhau, nước ta tham gia vào AFTA bên cạnh những thuận lợi còn
gặp không it những khó khăn trở ngại, cụ thể là :
- Tham gia vào AFTA là thừa nhận tự do hoá Thương Mại, tự do hoá lưu
chuyển hàng hoá trong khu vực. Đây là những việc làm mà nước ta chưa thực
hiện bao giờ, bắt đầu tham gia AFTA ở trình độ kinh tế thấp, các nước ASEAN

đều đạt tốc độ tăng trưởng cao, do đó ta phải cố gắng nhiều hơn. hiên tại sức
cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam còn rất yếu, yếu toàn diện nếu so sánh về mặt
giá cả và chất lượng. Hàng nhập ngoại nhập vào sẽ xảy ra tình trạng rất nhhiều
ngành công nghiệp địa phương không cạnh tranh được, sản xuất ra không ai tiêu
thụ. Tiêu biểu là các ngành Dệt may, Dầy dép, Điện gia dụng…Trước sức ép
của thị trường do hàng rào thuế quan giảm đòi hỏi chúng ta phải điều chỉnh sản
xuất, đổi mới công nghệ, cải tiến kĩ thuật để hàng hoá Việt Nam có đủ sức cạnh
tranh trên thị trường thế giới.
- Tham gia AFTA tác động trực tiếp đến giá cả hàng hoá, đơn giản thủ tục
nhập khẩu thì giá cả hàng hoá sẽ giảm. Hiện nay hàng hoá Việt Nam còn chịu
nhiều loại thuế khác nhau, nhiều chi phí khác không cần thiết đã góp phần đẩy
giá lên. do đó, giá cả của hàng hoá Việt Nam thường cao hơn rất nhiều so với
giá cả hàng hoá của các nước khác là thành viên của ASEAN. Vấn đề trước mắt
là ta phải chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá nằm trong
danh mục cắt giảm thuế CEPT thì các doanh nghiệp Việt Nam mới có điều kiện
phát triển, có lợi về giá cả khi xuất khẩu sang ASEAN.
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 19
Đề án Kinh tế Thương Mại
- Để hội nhập về kinh tế và mậu dịch với ASEAN, một thách thức không nhỏ
đặt ra cho Việt Nam là xây dựng một chính sách quản lý nhà nước thích hợp
nhằm đảm bảo tự do hoá thương mại nhưng không làm mất đi chức năng quản
lý nhà nước về thương mại, xoá bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, quan
niêu,không hiệu quả, cần có sự nghiên cứu các hiệp định, chương trình hợp tác
trong ASEAN tận dụng những cơ hội tốt để có những giải pháp cụ thể phù hợp
với tình hình và chủ trương phát triển kinh tế trong nước …
- tham gia afta, Việt Nam sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhưng thực
sự không ảnh hưởng lớn, trong danh mục cắt giảm thuế có tới 57% mặt hàng
hiện có mức thuế từ 0-5%, trong đó hơn một nửa là thuế suất 0%. Điều đó có
nghĩa là trên thực tế hầu như chúng ta đã hoàn tất việc cắt giảm rồi, số mặt hàng
có miền thuế đến 20% chỉ chiếm tỷ trọng 17÷21%

Tóm lại, nhìn tổng thể vào sự đóng góp vào ngân sách nhà nước thì AFTA sẽ
tạo nên sự hẫng hụt trong ngân sách nhà nước. Việt Nam tham gia AFTA-CEPT
chúng ta cần ý thức rõ những thuận lợi, cơ hội và những khó khăn thách thứcđể
đề ra những quyết sách thích hợp với đường lối đổi mới của đất nước, nâng cao
hiệu quả hội nhập quốc tế và khu vực.

Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 20
Đề án Kinh tế Thương Mại
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN
LỘ TRÌNH AFTA-CEPT

1. Quá trình thực hiện cam kết của Việt Nam với AFTA-CEPT .
1.1. Các hoạt động chuẩn bị để thực hiện CEPT/ AFTA của Việt Nam.
Hiệp định CEPT được các nước thành viên thoả thuận và ký kết từ năm
1992, song việc thực hiện thực sự chỉ bắt đầu từ tháng 01/01/1994. Như vậy,
các nước ASEAN có khoảng thời gian là 2 năm để chuẩn bị tất cả các vấn đề có
liên quan.Còn đối với Việt Nam, công việc nghiên cứu chuẩn bị cho việc gia
nhập thực hiện Hiệp định CEPT thực sự được bắt đầu từ giữa năm 1995. Thời
gian chuẩn bị như vậy là rất bị động, nhất là nếu liên hệ với thời gian chúng ta
phải bắt đầu từ việc tổ chức các Bộ ngành có liên quan nghiên cứu, xây dựng
các Danh mục hàng hoá. Theo chương trình CEPT để trình lên Ban thư ký
ASEAN vào tháng 12/1995. Tuy nhiên, được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của
Chính phủ, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành có liên quan, chúng ta
đã hoàn thành những nghĩa vụ bước đầu của một thành viên ASEAN tham gia
AFTA.
1.2. Về tổ chức.
Việt Nam là nước tham gia sau, trình độ phát triển còn thấp xa so với các nước
ASEAN khác và hầu hết các ngành kinh tế còn non yếu, mặt khác thuế nhập

khẩu còn là nguồn thu quan trọng của ngân sách, nên việc xây dựng và đưa ra
danh mục hàng hoá cắt giảm thuế, danh mục các biện pháp phi thuế quan, các
nội dung hợp tác hải quan để thực hiện CEPT …Ngoài yêu cầu phải phù hợp với
hiệp định CEPT, về nguyên tắc đều phải cố gắng đạt được các mục tiêu sau:
- Không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách
- Kéo dài đến mức có thể sự bảo hộ hợp lý đối với sản xuất trong nước để có
thêm thời gian chuẩn bị đối phó với những thách thức của AFTA.
- Tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 21
Đề án Kinh tế Thương Mại
- Tranh thủ ưu đãi để mở rộng thị trường cho xuất khẩu và thu hut đầu tư
nước ngoài.
Trên cơ sở các mục tiêu đặt ra. Việt Nam đã từng bước thực hiện CEPT . Cụ
thể về tổ chức :
- Ngày 15/11/1995 tại Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM), Việt
Nam đã công bố Danh mục giảm thuế đợt một áp dụng từ 01/01/1996.
- Ngày 10/02/1995, tại Hội nghị Hội đồng AFTA, Việt Nam đã công bố
nguyên tắc là cam kết cắt giảm thuế cho toàn bộ quá trình 1996-2006.
- Ngày 18/12/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 91/CP quy định việc
cải cách thuế quan, thực hiện CEPT.
- Ngày 02/04/1996 Bộ Tài chính thành lập cơ quan AFTA quốc gia của
Việt Nam với chức năng là cơ quan đầu mối của Việt Nam thực hiện, giải quyết
các vấn đề liên quan đến AFTA.
- Cũng trong năm 1996, Việt Nam công bố Danh mục thực hiện giảm thuế
CEPT trong năm 1997.
- Ngày 12/03/1998, Danh mục hàng hoá Việt Nam thực hiện CEPT do Bộ
Tài chính xây dựng đã được Chính phủ thông qua và ban hành kèm Nghị định số
15/1998/ NĐ-CP.
- Đầu năm 1998, Bộ Tài chính công bố 1.717 mặt hàng tham gia CEPT
năm 1998, đồng thời chuẩn bị Danh mục thuế năm 1999, xem xét để giảm bớt

một số mặt hàng trong Danh mục loại trừ tạm thời.
- Năm 2000, Bộ Tài chính đã công bố lịch trình cắt giảm thuế quan tổng
thể của Việt Nam để thực hiện CEPT/AFTA cho giai đoạn năm 2001-2006.
1.3. Về lịch trình cắt giảm thuế tổng thể.
Phù hợp với quy định của ASEAN, căn cứ vào tình hình đặc thù của Việt Nam,
Việt Nam nhìn chung không áp dụng tiến trình cắt giảm nhanh. Tuy nhiên đối
với những sản phẩm hiện đang có thuế suất trong khoảng từ 0-5% tức là đã thoả
mãn mục tiêu của CEPT, ta có thể xếp vào loại thực hiện tiến trình cắt giảm
nhanh.
Trong 2 năm 1996-1997, Việt Nam sẽ không thực hiện cắt giảm mà chỉ đưa
các sản phẩm đạt mục tiêu của CEPT ( có thuế suất 5% trở xuống) vào thực hiện
hiệp định. Đối với những sản phẩm có thuế suất cao hơn 5% trong danh mục cắt
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 22
Đề án Kinh tế Thương Mại
giảm thuế quan hướng thực hiện bước cắt giảm đầu tiên thực tế chỉ bắt đầu từ
1998 để đảm bảo cho nguồn thu và hỗ trợ một phần cho sản xuất trong nước.
Trong 2 năm 1996-1997, Việt Nam thực hiện bước 2 của cải cách thuế, trong
đó đối với chính sách thuế áp dụng cho hàng nhập khẩu, Việt Nam sẽ thực hiện
việc phân tích 2 loại thuế là thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hiện
cũng đánh trên hàng nhập khẩu ra khỏi thuế nhập khẩu hiện nay, trước khi tiến
hành việc cắt giảm thuế nhập khẩu thực sự từ 1998 . Do đó, mức thuế nhập khẩu
phải giảm trên phần thuế nhập khẩu còn lại sẽ là thấp so với mức phải giảm nếu
không có sự phân tích hai loại thuế trên.
Có thể nói Việt Nam thực hiện rất ngiêm túc và rất thậm trọng việc giảm thuế
quan, để tránh ảnh hưởng tới nguồn thu ngân sách và làm giảm được giá hàng
nhập khẩu góp phần cải thiện điều kiện kinh doanh và tiêu dùng trong nước còn
các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng mức thuế ưu đãi khi xuất khẩu hàng
hoá sang các nước ASEAN.
Các Danh mục hàng hoá thực hiện CEPT của Việt Nam được xây dựng tuân
theo nguyên tắc chỉ đạo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và công bố với các

nước ASEAN ngày 10/12/1995 tại phiên họp lần thứ 8 của Hội đồng AFTA cụ
thể như sau:

Bảng 3: Danh mục hàng hoá trong khuôn khổ CEPT của Việt Nam năm 1995
Danh mục hàng
hoá
Số nhóm mặt hàng chịu
thuế
Tỷ lệ %
Giảm thuế ngay 1633 54,1
Loại trừ tạm thời 1189 39,5
Loại trừ hoàn toàn 65 5,5
Nhạy cảm 26 0,9
Tổng 3013 100

Nguồn: Ban thư ký ASEAN



Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 23
Đề án Kinh tế Thương Mại
Đến tháng 02/1998, các Danh mục trong khuôn khổ CEPT của Việt Nam thay
đổi do việc phân loại hàng hoá vào các Danh mục thực hiện CEPT và thực hiện
thống nhất biểu thuế quan.
Khoa Thương Mại- Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân 24

×