Tải bản đầy đủ (.pdf) (64 trang)

Đối tượng của nhượng quyền thương mại theo pháp luật việt nam (luận văn thạc sỹ luật học)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (927.53 KB, 64 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
------ -----

PHẠM THỊ NGỌC LOAN

ĐỐI TƢỢNG CỦA NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương Mại

TP. HỒ CHÍ MINH - 2014


TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
------ -----

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

ĐỐI TƢỢNG CỦA NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện
MSSV
Lớp
Giáo viên hƣớng dẫn

:


:
:
:

PHẠM THỊ NGỌC LOAN
1055050145
CHẤT LƢỢNG CAO 35
TS. NGUYỄN THỊ THƢ

TP. HỒ CHÍ MINH – 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả nội dung trong Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật –
Chuyên ngành Luật Thương Mại – Đề tài: “Đối tượng của nhượng quyền thương
mại theo pháp luật Việt Nam” được hình thành và phát triển dựa trên những quan
điểm cá nhân của tôi, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thư – Giảng viên
khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh.
Trong Khóa luận có sử dụng một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số
tác giả và việc sử dụng này được trích dẫn đầy đủ, cụ thể trong Danh mục tài liệu
tham khảo. Mọi tài liệu, thơng tin sử dụng trong Khóa luận là hoàn toàn trung thực.
Ngày 22 tháng 7 năm 2014
Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Ngọc Loan


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1

2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................ 3
3. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................... 4
4. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 4
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 5
6. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài .......................................................... 5
7. Cơ cấu khóa luận ................................................................................................ 5
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI ..... 6
1.1

Tổng quan về nhƣợng quyền thƣơng mại ................................................. 6

1.1.1

Khái niệm nhượng quyền thương mại ....................................................6

1.1.2

Đặc điểm của nhượng quyền thương mại ...............................................9

1.1.3

Ưu điểm và hạn chế của nhượng quyền thương mại ............................13

1.2

Đối tƣợng của nhƣợng quyền thƣơng mại .............................................. 15

1.2.1

Khái niệm đối tượng của nhượng quyền thương mại ...........................15


1.2.2

Đặc điểm đối tượng nhượng quyền thương mại ...................................19

1.3 Các yếu tố cấu thành quyền thƣơng mại trong nhƣợng quyền thƣơng
mại……………………………………………………………………………...21
1.3.1

Các yếu tố được pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ...................................21

1.3.2

Các yếu tố khơng được pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ........................23

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................ 24
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG CỦA NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 25
2.1

Tên thƣơng mại .......................................................................................... 27

2.1.1

Thực trạng pháp luật về tên thương mại và thực tiễn áp dụng..............27

2.1.2

Giải pháp hoàn thiện .............................................................................28


2.2

Nhãn hiệu.................................................................................................... 28


2.2.1

Thực trạng pháp luật về nhãn hiệu và thực tiễn áp dụng ......................28

2.2.2

Giải pháp hồn thiện .............................................................................32

2.3

Bí mật kinh doanh ..................................................................................... 34

2.3.1

Thực trạng pháp luật về bí mật kinh doanh và thực tiễn áp dụng .........34

2.3.2

Giải pháp hoàn thiện .............................................................................39

2.4

Một số đối tƣợng nhƣợng quyền thƣơng mại khác ................................ 41

2.4.1 Thực trạng pháp luật về một số đối tượng nhượng quyền thương mại

khác và thực tiễn áp dụng..................................................................................41
2.4.2

Giải pháp hoàn thiện .............................................................................48

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................ 50
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. i
PHỤ LỤC 1 ............................................................................................................... iv
PHỤ LỤC 2 ..............................................................................................................vii


LỜI MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài

Trải qua quá trình phát triển gần hai thế kỷ, nhượng quyền thương mại, hay
còn gọi là franchise, đã trở thành một trong những phương thức kinh doanh phổ
biến nhất trên thế giới hiện nay1.
Nhượng quyền thương mại khởi nguồn tại Châu Âu và phát triển mạnh mẽ tại
Hoa Kỳ từ sau năm 1945 với sự ra đời của hàng hoạt hệ thống nhà hàng, khách sạn,
cửa hàng bán lẻ đồng nhất về thương hiệu, thiết kế xây dựng và phong cách phục vụ
khách hàng. Loại hình kinh doanh này nhanh chóng lan rộng và trở thành xu hướng
kinh doanh tiềm năng tại các quốc gia phát triển như Châu Âu, Nhật Bản,
Australia…vào những năm 70 thế kỷ XX.
Ngày nay, nhượng quyền thương mại đã trở thành mơ hình kinh doanh phát
triển trên nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Nhượng quyền thương mại đặc
biệt thành công, đạt doanh thu cao và tạo ra khối lượng lớn việc làm trong các lĩnh
vực kinh doanh thức ăn nhanh, sản phẩm và dịch vụ bán lẻ, dịch vụ hỗ trợ kinh

doanh2,…với các thương hiệu nổi tiếng như Mc. Donald’s, Qualitea, 7-Eleven,
Aptech,…
Năm 2006, sau khi Luật thương mại bắt đầu có hiệu lực, nhượng quyền
thương mại được đề cập khá ồn ào trên các phương tiện truyền thơng Việt Nam.
Theo dự đốn của các chun gia kinh tế, mơ hình kinh doanh này sẽ bùng nổ và trở
thành một xu thế mới của nền kinh tế Việt Nam, nhất là khi Việt Nam trở thành
thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Tuy nhiên, suốt gần ba năm từ
2006 đến 2008, thực tế hoạt động nhượng quyền không phát triển mạnh mẽ như
mong muốn, tồn tại một trạng thái im lìm gần như là đang chờ thời điểm thích hợp
cịn ở phía trước để bung ra3. Mặc dù vậy, năm 2012 chứng kiến sự thành công ấn
tượng của hoạt động nhượng quyền với sự tham gia vào thị trường Việt Nam của
hàng loạt những thương hiệu nổi tiếng như Burger King, Starbucks, Mc.Donald’s
bên cạnh những hệ thống nhượng quyền quốc tế và trong nước đã tồn tại ở Việt
Nam từ những năm 90 thế kỷ trước.
Theo dự đoán của một số chuyên gia, năm 2014 khi Việt Nam bắt buộc phải
mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ, franchise sẽ phát triển mạnh và trở thành một

1

Ngọc Lan (2012), “Nhượng quyền thương mại: Cơ hội và thách thức”, Báo Doanh nhân Sài Gòn, (200),
tr.17.
2

Theo thống kê của Franchise Business Economic Outlook 2014, International Franchise Association.

3

Hồ Hữu Hồnh (2009), “Làn sóng franchise đã bắt đầu”, Báo Doanh nhân và Pháp luật, (18), tr.20-21.

1



phương thức kinh doanh tiềm năng đồng thời tạo cơ hội cho thương nhân trong và
ngoài nước để phát triển hệ thống bán lẻ4. Do đó, nhượng quyền thương mại hứa
hẹn trở thành xu thế “nóng” trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang có những
bước chuyển mình tồn diện, hội nhập sâu sắc hơn với nền kinh tế thế giới.
Mặc dù đã du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XX, nhượng quyền thương
mại vẫn chưa được ghi nhận trong Luật thương mại số 58-L/CTN ngày 10 tháng 5
năm 1997. Bước sang đầu thế kỷ XXI, nhượng quyền thương mại mới chính thức
được ghi nhận tại Chương VI, Mục 8 Luật thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14
tháng 6 năm 2005 (“Luật thương mại 2005”). Các quy định liên quan của Luật
thương mại 2005 được hướng dẫn tại Nghị định của Chính phủ số 35/2006/NĐ-CP
ngày 31 tháng 3 năm 2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng
quyền thương mại (“Nghị định 35”), Thông tư của Bộ thương mại số 09/2006/TTBTM ngày 25 tháng 5 năm 2006 hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền
thương mại (“Thơng tư 09”) và Nghị định của Chính phủ số 120/2011/NĐ-CP ngày
16 tháng 12 năm 2011 sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại một số nghị định của
chính phủ quy định chi tiết luật thương mại (“Nghị định 120”).
Tuy nhiên, là một loại hình kinh doanh được du nhập từ nước ngoài và tương
đối non trẻ, pháp luật điều chỉnh nhượng quyền tại Việt Nam còn khá đơn giản và
chưa cụ thể. Theo đó, đối tượng của nhượng quyền - yếu tố cốt lõi của phương thức
kinh doanh này - chưa được quy định rõ ràng và đầy đủ. Mặt khác, liên quan đến
đối tượng của nhượng quyền, bên cạnh pháp luật thương mại, pháp luật sở hữu trí
tuệ đóng vai trị hết sức quan trọng bởi sự gắn kết giữa nhượng quyền và các đối
tượng sở hữu trí tuệ hình thành nên bản chất của hoạt động này. Tuy nhiên, quy
định giữa hai lĩnh vực pháp luật này chưa thật sự thống nhất và hỗ trợ lẫn nhau. Do
đó khơng thể tránh khỏi những mâu thuẫn gây thiệt hại đến hình ảnh của hệ thống
nhượng quyền, tài sản trí tuệ và hiệu quả kinh doanh của các bên.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài “Đối tượng của nhượng quyền
thương mại theo pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu và hồn thành khóa luận cử
nhân Luật. Thông qua việc nghiên cứu quy định pháp luật về đối tượng của nhượng

quyền thương mại, thực tiễn giải quyết một số tranh chấp liên quan tại các quốc gia
phát triển trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra định hướng hoàn
thiện pháp luật Việt Nam, góp phần xây dựng mơi trường kinh doanh an toàn và
hiệu quả cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

4

http://www.vietfranchise.com/index.php?Module=Content&Action=view&id=389 (truy cập lúc 11:30 ngày

10/5/2014).

2


2.

Tình hình nghiên cứu đề tài
Trải qua gần mười năm kể từ ngày Luật thương mại 2005 có hiệu lực cho đến

nay, ngồi khía cạnh kinh tế, đã có khá nhiều cơng trình nghiên cứu về những vấn
đề pháp lý xung quanh hoạt động nhượng quyền thương mại.
Ở cấp cử nhân, các khóa luận tập trung phân tích bản chất của nhượng quyền,
so sánh với các hình thức kinh doanh khác như chuyển giao công nghệ, li – xăng,
đại lý,...và những nội dung của hợp đồng nhượng quyền như khóa luận “Chế độ
pháp lý về nhượng quyền thương mại theo quy định cuả Luật thương mại 2005” của
tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền5, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố
nước ngoài theo pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” của tác giả Phạm Thị
Minh Hậu6,…Một số khóa luận mặc dù đề cập đến đối tượng của nhượng quyền
thương mại nhưng cũng chỉ nêu khái quát các quy định pháp luật như “Đối tượng
của hợp đồng nhượng quyền thương mại” của tác giả Trương Thị Kim Thương7.

Ở cấp thạc sĩ, các luận văn dừng lại ở việc nghiên cứu tổng quát các khía cạnh
pháp lý của nhượng quyền, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực
nhượng quyền như luận văn “Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật
Việt Nam” của tác giả Hồ Vĩnh Long8, “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp
đồng nhượng quyền thương mại” của tác giả Bùi Thị Hằng Nga9, “Vấn đề bảo vệ
quyền lợi của bên nhận quyền trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại
theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Tình10,..
Ngồi ra, nhượng quyền còn được nghiên cứu rộng rãi như đề tài “Một số biện
pháp đảm bảo quyền lợi của các bên trong nhượng quyền thương mại theo pháp
luật Việt Nam” của nhóm tác giả Trương Thị Hồng – Phan Thị Nở - Hồ Thị Bảo
Hoài11, các bài viết trên các báo, tạp chí chuyên ngành“Một số vấn đề pháp lý về
chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại” của tác giả Vũ Đặng Hải Yến12,
“Các điều khoản độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại” của tác giả

5
6
7
8
9

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, 2006.
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, 2012.
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, 2009.
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, 2006.
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, 2008.
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2009.

10
11


Đề tài khoa học, Đại học Đà Nẵng, 2007.

12

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (120), tr. 41-45, 62.

3


Bùi Ngọc Cường13, “Những vấn đề cơ bản về nhượng quyền thương mại” của tác
giả Điêu Ngọc Tuấn14,…
Nhìn chung, các tác giả trên mặc dù có đề cập đến đối tượng của nhượng
quyền nhưng chỉ dưới góc độ xác định đối tượng của hoạt động này theo quy định
pháp luật mà chưa có sự tìm hiểu, đánh giá các quy định pháp luật về đối tượng của
nhượng quyền trong mối quan hệ thực tiễn, dự báo khả năng xảy ra những tranh
chấp liên quan và hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam cũng như kinh nghiệm cho
các bên tham gia quan hệ nhượng quyền.
3.

Mục đích nghiên cứu

Thơng qua phân tích đối tượng của nhượng quyền thương mại, tác giả mong
muốn làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến đối tượng của hoạt
động nhượng quyền trong mối liên hệ so sánh với pháp luật nhượng quyền của một
số quốc gia trên thế giới.
Thứ hai, nghiên cứu và đánh giá thực trạng của pháp luật Việt Nam về đối
tượng nhượng quyền thương mại cũng như những tranh chấp phát sinh từ việc vận
dụng quy định pháp luật vào thực tiễn.
Thứ ba, đóng góp những giải pháp làm cơ sở cho các nhà lập pháp xem xét, sử

dụng nhằm hoàn thiện pháp luật nhượng quyền, thúc đẩy nhượng quyền thương mại
nước ta phát triển toàn diện hội nhập với thế giới.
4.

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý về đối tượng của nhượng quyền
thương mại, cụ thể là quyền thương mại trong mối liên hệ giữa pháp luật thương
mại và sở hữu trí tuệ theo quy định pháp luật Việt Nam và một số quốc gia, tổ chức
nhượng quyền thương mại trên thế giới. Qua đó, tác giả tìm hiểu những bất cập tồn
tại trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật nhượng quyền tại Việt Nam trong sự
gắn bó với lĩnh vực pháp luật khác. Hơn nữa, để so sánh, đánh giá và hoàn thiện
pháp luật nhượng quyền Việt Nam, đề tài sẽ tìm hiểu những kinh nghiệm pháp lý
trong các nội dung liên quan đến quyền thương mại của các quốc gia tiến bộ và phát
triển trên thế giới.

13

Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (231), tr.38-45.

14

Tạp chí Tịa án nhân dân, (09), tr.04-12.

4


5.

Phƣơng pháp nghiên cứu

Trong phạm vi khóa luận, tác giả sử dụng kết hợp ba phương pháp cơ bản là

tổng hợp, phân tích và so sánh các quy định pháp luật về đối tượng của nhượng
quyền thương mại Việt Nam và một số quốc gia khác. Ngoài ra, phương pháp phân
tích án lệ cũng được tác giả vận dụng để tìm hiểu về các tranh chấp và cách thức
giải quyết tranh chấp liên quan đến đối tượng của nhượng quyền thương mại ở nước
ngồi, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam.
6.

Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
Cho dù nhượng quyền thương mại đã tồn tại ở Việt Nam từ giữa những năm

90 của thế kỷ trước, sự phát triển của lĩnh vực này đã bị kìm hãm trong hơn một
thập kỷ vì thiếu khung pháp lý rõ ràng cho nhượng quyền thương mại15. Vì vậy,
nghiên cứu và hồn thiện pháp luật về nhượng quyền, đặc biệt là đối tượng của
nhượng quyền thương mại và các tranh chấp phát sinh từ quy định pháp luật hiện
nay đóng vai trị quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhượng
quyền tại Việt Nam. Nhờ vậy, doanh nghiệp trong nước có thể định hướng phát
triển, tự bảo vệ mình trước những tranh chấp có khả năng xảy ra gây thiệt hại về
kinh tế, uy tín. Ngồi ra, doanh nghiệp nước ngồi cũng yên tâm khi lựa chọn môi
trường đầu tư minh bạch, an tồn, hiệu quả.
7.

Cơ cấu khóa luận
Ngồi phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận

được chia thành hai chương:
Chương 1. Khái quát chung về nhượng quyền thương mại
Chương 2. Đối tượng của nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam
– Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.


15

http://nhuongquyenvietnam.com/news/newsexdetails/13/nhuong-quyen-thuong-mai-tai-viet-nam-truoc-

khi-co-phap-luat-ve-nhuong-quyen.htm (truy cập lúc 17:50 ngày 12/5/2014).

5


Chƣơng 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
1.1

Tổng quan về nhƣợng quyền thƣơng mại
1.1.1 Khái niệm nhƣợng quyền thƣơng mại
Nhượng quyền thương mại (franchise) đã và đang trở thành một trong những

hình thức kinh doanh phát triển nhất ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các
quốc gia đang phát triển. Sự thành công của nhượng quyền xuất phát từ xu hướng
hội nhập toàn cầu khi các thương nhân mong muốn mang thương hiệu của mình
vươn rộng ra khỏi biên giới lãnh thổ quốc gia, được người tiêu dùng khắp thế giới
biết đến. Trải qua quá trình hình thành và phát triển suốt hơn một thế kỷ qua,
nhượng quyền thương mại đã có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế, thậm chí
vẫn là “mảnh đất dừng chân an toàn” cho các doanh nghiệp trong thời kì khủng
hoảng16.
Tuy có lịch sử phát triển lâu dài nhưng đến nay vẫn chưa có quan niệm thống
nhất về nhượng quyền thương mại. Do có sự khác biệt về mơi trường pháp lý, kinh
tế và chính trị, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức nhượng quyền thương mại đưa ra quan
điểm khác nhau về khái niệm nhượng quyền thương mại.
Theo Hội đồng nhƣợng quyền thƣơng mại thế giới (World Franchise

Council), một tổ chức phi lợi nhuận của các Hiệp hội nhượng quyền thương mại các
quốc gia thế giới, nhượng quyền thương mại là một chiến lược phát triển thương
mại dựa trên mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thương nhân độc lập, bên
nhận quyền và các bên nhượng quyền, trong đó bên nhượng quyền và bên nhận
quyền cam kết cùng nhau hướng đến thành công chung của cả hai bên17.
Khái niệm của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới khá đơn giản, chỉ
đề cập đến nhượng quyền thương mại như một hoạt động thương mại giữa hai chủ
thể chính trong quan hệ kinh doanh là bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong
khi những đặc trưng cơ bản của loại hình kinh doanh này vẫn chưa được làm rõ.
Hội đồng thƣơng mại Liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade Commision) định
nghĩa nhượng quyền thương mại như sau:
Nhượng quyền thương mại là bất kỳ một quan hệ thương mại hoặc một thỏa
thuận liên tục, không phân biệt tên gọi, trong đó các điều khoản của thỏa thuận
16

Nguyễn Khánh Trung (2012), “Cạnh tranh bằng nhượng quyền thương mại”, Tạp chí Phát triển và hội
nhập, (5), tr. 41.
17

Nguyên tắc đạo đức của hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới (The World Franchise Council’s

Principles of Ethics) (Nguyên văn tiếng anh được cung cấp trong phần Phụ lục 1).

6


hoặc hợp đồng quy định, hoặc bên nhượng quyền cam kết hoặc tuyên bố, bằng
miệng hoặc văn bản, rằng:
(1)
Bên nhận quyền có quyền tiến hành kinh doanh dưới nhãn hiệu được nhận

diện hoặc gắn liền với bên nhượng quyền để cung cấp, bán hoặc phân phối hàng
hóa, dịch vụ hoặc các mặt hàng được nhận diện hoặc gắn liền với nhãn hiệu của
bên nhượng quyền;
(2)
Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát chặt chẽ phương thức hoạt động của
bên nhận quyền, hoặc giúp đỡ đáng kể về phương thức hoạt động của bên nhận
quyền; và
(3)
Để tiến hành kinh doanh nhượng quyền, bên nhận quyền phải thanh toán
hoặc cam kết thanh toán theo yêu cầu cho bên nhượng quyền hoặc chi nhánh của
bên nhượng quyền18.
Với định nghĩa trên, Hội đồng thương mại Liên bang Hoa Kỳ cho rằng
nhượng quyền thương mại là một thỏa thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận
quyền. Nội dung khái niệm đề cập khá tập trung đến quyền và nghĩa vụ mỗi bên
trong quan hệ hợp đồng, đặc biệt là phí nhượng quyền mà bên nhận quyền phải trả
cho bên nhượng quyền để được kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ gắn liền với
thương hiệu của bên nhượng quyền theo phương thức của bên nhượng quyền. Tuy
nhiên, khái niệm chưa nêu được điểm đặc trưng của nhượng quyền thương mại là
tính đồng bộ (uniformity), theo đó bên nhận quyền có nghĩa vụ tuân thủ đúng các
quy định thống nhất của toàn bộ hệ thống nhượng quyền.
Pháp luật Trung Quốc định nghĩa nhượng quyền thương mại là hoạt động
thương mại mà theo đó bên nhượng quyền thơng qua hợp đồng với bên nhận quyền,
cho phép bên nhận quyền sử dụng các nguồn lực để hoạt động kinh doanh của bên
nhượng quyền bao gồm nhãn hiệu, logo, sáng chế, bí quyết kinh doanh…, và bên
nhận quyền phải thực hiện việc kinh doanh theo cách thức kinh doanh thống nhất
như hợp đồng đã quy định, kèm theo đó bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền
cho bên nhượng quyền19.
Khác với khái niệm của Hội đồng thương mại Liên bang Hoa Kỳ, nhượng
quyền thương mại theo pháp luật Trung Quốc là một hoạt động thương mại được
18


Quy định về nhượng quyền thương mại của Hội đồng thương mại Liên Bang Hoa Kỳ (Code of Federal

Regulations, 16 CFR 436.1(h)) (Nguyên văn tiếng anh được cung cấp trong Phụ lục 1).
19
Quy định về quản lý nhượng quyền thương mại của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Regulations on
Administration of Commercial Franchise 2007, Article 3) (Nguyên văn tiếng anh được cung cấp trong Phụ
lục 1).

7


thực hiện trên cơ sở thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ
nhượng quyền, trong đó đặc biệt nhấn mạnh quyền sử dụng những đối tượng sở hữu
trí tuệ. Ngồi ra, vấn đề đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của tồn bộ hệ thống
nhượng quyền được đặt ra buộc bên nhận quyền phải tuân thủ quy định của bên
nhượng quyền.
Tại Việt Nam, nhượng quyền thương mại chính thức được luật hóa từ năm
2005 với sự ra đời của Luật Thương mại 2005. Khái niệm nhượng quyền thương
mại được quy định tại Điều 284 Luật Thƣơng mại 2005 như sau:
Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng
quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
(1)
Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách
thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu
hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng
kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
(2)
Bên nhượng quyền có quyền kiểm sốt và trợ giúp cho bên nhận

quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.
Như vậy, pháp luật Việt Nam xem nhượng quyền thương mại là hoạt động
thương mại theo mơ hình kinh doanh thống nhất, gắn liền với các đối tượng sở hữu
trí tuệ, và nhấn mạnh quyền kiểm sốt hệ thống nhượng quyền của bên nhượng
quyền.
Về cơ bản, định nghĩa nhượng quyền thương mại tại Điều 284 Luật thương
mại 2005 phù hợp với thông lệ các nước, tuy nhiên nội dung khái niệm chỉ tập trung
vào quyền và nghĩa vụ của bên nhượng quyền. Mặt khác, một khía cạnh quan trọng
chưa được làm rõ trong khái niệm của Điều 284 là phí nhượng quyền mà bên nhận
quyền có nghĩa vụ trả cho bên nhượng quyền. Đây là một trong các yếu tố rất cơ
bản đặc trưng của nhượng quyền thương mại – hoạt động thương mại mà các bên
tham gia với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Do đó, theo tác giả việc quy định phí
nhượng quyền là cần thiết và pháp luật cần có sự điều chỉnh vấn đề này nhằm thể
hiện khái quát nội hàm của nhượng quyền thương mại.
Nhìn chung, mặc dù có sự khác biệt về định nghĩa, bản chất của quan hệ
nhượng quyền thương mại vẫn là sự hợp tác kinh doanh cùng có lợi giữa các bên

8


dựa trên việc khai thác giá trị quyền thương mại20 mà bên nhượng quyền cấp cho
bên nhận quyền để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh theo ý tưởng của bên
nhượng quyền. Bên nhượng quyền có quyền hỗ trợ và kiểm soát hoạt động kinh
doanh của bên nhận quyền nhằm đảm bảo sự thống nhất của hệ thống nhượng
quyền, đổi lại bên nhận quyền phải trả cho bên nhượng quyền một khoản phí
nhượng quyền.
1.1.2 Đặc điểm của nhƣợng quyền thƣơng mại
Thứ nhất, nhƣợng quyền thƣơng mại là một hoạt động thƣơng mại.
Tìm hiểu về khái niệm nhượng quyền thương mại trên thế giới, một số quan
điểm cho rằng đây là một thỏa thuận về một phương pháp phát triển kinh doanh.

Tuy nhiên, theo tác giả nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại
nhằm mục đích sinh lợi21 tương tự các hình thức kinh doanh khác như mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại,…theo quy định Luật
thương mại 2005. Trong khi đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại là sự thỏa
thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền. Việc hiểu
đúng bản chất của nhượng quyền thương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc xác
định luật áp dụng điều chỉnh các vấn đề phát sinh từ hoạt động này.
Thứ hai, chủ thể tham gia nhƣợng quyền thƣơng mại là bên nhƣợng
quyền (franchisor) và (các) bên nhận quyền (franchisee).
Xuất phát từ bản chất của nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương
mại, chủ thể của quan hệ nhượng quyền phải là thương nhân, tồn tại hợp pháp, có
thẩm quyền kinh doanh và có quyền hoạt động thương mại phù hợp với đối tượng
được nhượng quyền22.
Nhằm bảo vệ quyền lợi của bên nhận quyền có thể mua đươc một hệ thống
kinh doanh an toàn, hiệu quả và ở một mức độ nào đó, tránh khỏi nguy cơ đối mặt
với rủi ro trong kinh doanh, pháp luật đặt ra những điều kiện khá khắt khe đối với
bên nhượng quyền. Như tác giả đã đề cập, trong hoạt động nhượng quyền thương
mại, bên nhượng quyền phải là thương nhân. Tuy nhiên, Luật thương mại 2005 và

20

Khái niệm và nội dung quyền thương mại sẽ được phân tích ở phần Đối tượng của nhượng quyền thương

mại.
21
Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005.
22

Vũ Đặng Hải Yến (2008), “Một số vấn đề pháp lý về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại”,


Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (120), tr. 43.

9


các văn bản hướng dẫn thi hành luật này không giới hạn hình thức tồn tại của
thương nhân được phép trở thành bên nhượng quyền. Khái niệm thương nhân theo
Luật Thương mại 2005 bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân
hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh23.
Như vậy, các đối tượng đủ điều kiện trở thành bên nhượng quyền chỉ cần có dấu
hiệu của thương nhân như quy định trên mà không cần phân biệt loại hình hoạt
động của thương nhân như thế nào. Trong khi đó, căn cứ vào hình thức tổ chức có
thể phân loại thương nhân thành doanh nghiệp các loại, hộ kinh doanh, hợp tác xã
và liên hiệp hợp tác xã24. Khác với pháp luật Việt Nam, pháp luật Trung Quốc yêu
cầu bên nhượng quyền bắt buộc phải là doanh nghiệp, không chấp nhận bất kỳ hình
thức tồn tại nào khác của thương nhân25.
Tương tự bên nhượng quyền, bên nhận quyền cũng phải là thương nhân có
đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp với đối tượng của nhượng quyền thương
mại26. Như vậy, pháp luật Việt Nam cũng không đề cập đến điều kiện bắt buộc về
hình thức tồn tại của thương nhân nhận quyền. Tuy nhiên, so với các hình thức hoạt
động của thương nhân như cá nhân, hộ kinh doanh,…thì doanh nghiệp có quy mơ
tương đối lớn với cách thức tổ chức và hoạt động bài bản hơn và dĩ nhiên, có khả
năng đảm bảo hơn cho hệ thống nhượng quyền phát triển. Thực tế, trong kinh doanh
nhượng quyền mức độ rủi ro của bên nhượng quyền khá cao bởi phải chịu tổn thất
do sự đổ vỡ của hệ thống nhượng quyền mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự
thất bại, yếu kém của các bên nhận quyền. Do đó, pháp luật Việt Nam dường như
khá “dễ dãi” khi khơng giới hạn các hình thức hoạt động của thương nhân được
phép tham gia vào hoạt động nhượng quyền thương mại.
Thứ ba, đối tƣợng của nhƣợng quyền thƣơng mại là quyền thƣơng mại.

Khi mối quan hệ nhượng quyền được thiết lập, bên nhượng quyền sẽ cấp cho
bên nhận quyền các quyền thương mại như quyền tiến hành kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định, đi kèm với việc được sử
dụng nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu
tượng kinh doanh, quảng cáo…của bên nhượng quyền27. Việc cấp quyền thương
23

Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005.

24

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ,
Nxb. Hồng Đức, tr. 22.
25
26
27

Điều 3 Regulations on Administration of Commercial Franchise.
Điều 6 Nghị định 35.
Nguyễn Bá Bình (2006), “Nhượng quyền thương mại – bản chất và mối quan hệ với hoạt động chuyển

giao cơng nghệ, hoạt động li-xăng”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (2(69)), tr. 22.

10


mại này giúp bên nhận quyền tiến hành kinh doanh theo phương thức mà bên
nhượng quyền đề ra. Phương thức kinh doanh ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao
gồm tất cả các yếu tố tạo nên nét đặc trưng của hệ thống kinh doanh nhượng quyền
như sản phẩm hàng hóa dịch vụ, chất lượng của hàng hóa dịch vụ, hình thức bên

ngồi của cơ sở kinh doanh, quy trình sản xuất, quy trình phục vụ, cách thức bày trí,
quảng cáo…28
Thứ tƣ, nhƣợng quyền thƣơng mại là mối quan hệ hợp tác kinh doanh
bán độc lập29, nghĩa là giữa bên nhƣợng quyền và bên nhận quyền tồn tại mối
quan hệ vừa mang tính độc lập vừa khơng mang tính độc lập.
Là các chủ thể tham gia hoạt động nhượng quyền thương mại, bên nhượng
quyền và bên nhận quyền là các thương nhân độc lập về mặt pháp lý và tài chính.
Về mặt pháp lý, bên nhượng quyền và bên nhận quyền là hai thương nhân khác
nhau, tự tiến hành hoạt động minh doanh và chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động
kinh doanh đó. Về mặt tài chính, bên nhượng quyền và bên nhận quyền có sự tách
bạch về tài sản, mỗi bên tự đầu tư vốn và khai thác hệ thống nhượng quyền thương
mại vì lợi ích của riêng mình. Do đó, mỗi bên được hưởng lợi nhuận phát sinh từ
hoạt động kinh doanh của mình và ngược lại, tự chịu trách nhiệm về mọi rủi ro phát
sinh từ hoạt động kinh doanh đó, khơng phụ thuộc lẫn nhau.
Tuy là các thương nhân độc lập, giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền
vẫn tồn tại mối quan hệ gắn bó hỗ trợ lẫn nhau. Khi chọn lựa hình thức kinh doanh
nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền không thể phát triển ý tưởng kinh doanh
theo cách thức của riêng mình. Xuất phát từ việc bản chất của nhượng quyền
thương mại là việc mua và sử dụng một ý tưởng kinh doanh đã được kiểm chứng
trong thực tế và bị kiểm soát30, bên nhận quyền phải tuân theo các quy định từ việc
sử dụng nhãn hiệu, biểu tượng, bí quyết kinh doanh đến phương thức phục vụ,
không gian nội thất, trang phục nhân viên, chương trình khuyến mại,…do bên
nhượng quyền yêu cầu. Ngược lại, bên nhượng quyền có trách nhiệm cung cấp tài
liệu, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân viên, kế hoạch tiếp thị, quảng cáo,…trong quá
28

Hồ Vĩnh Long (2006), Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật
học, Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr.23.
29


Cụm từ “bán độc lập” được sử dụng bởi tác giả Nguyễn Quang Đạo. Xem Nguyễn Quang Đạo (2011), Các
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và pháp luật điều chỉnh tại Việt
Nam, Luận văn cử nhân, Trường Đại học Luật TPHCM, tr. 23.
30
Lê Nết - Vũ Thanh Minh, Hợp đồng nhượng quyền thương mại.
https://docs.google.com/viewer?a=v&pid=sites&srcid=ZGVmYXVsdGRvbWFpbnxtYXV2YW5iYW5uZX
R8Z3g6MWUzZWU5ZGEzZGM5ZmRlNQ (truy cập lúc 9:00 ngày 23/5/2014).

11


trình thiết lập và thực hiện hoạt động kinh doanh theo hợp đồng nhượng quyền
thương mại31. Ngồi ra, tính mật thiết trong quan hệ nhượng quyền còn thể hiện qua
việc danh tiếng của bên nhượng quyền có thể làm lợi cho bên nhận quyền, song khi
uy tín của bên nhượng quyền giảm thì cũng ảnh hưởng đến uy tín của bên nhận
quyền32.
Thứ năm, tính đồng bộ của hệ thống nhƣợng quyền.
Thành công của các thương hiệu nổi tiếng như Phở 24, Burger King, Marriott,
7-Elevent,…không nằm ở chỗ tô phở mang hương vị đậm đà nhất, chiếc bánh
hamburger ngon nhất, khách sạn sang trọng nhất hay cửa hàng bán lẻ với giá cạnh
tranh nhất mà chính là sự thống nhất về chất lượng và hình ảnh của tồn bộ hệ
thống các cửa hàng, khách sạn này. Khách hàng có thể thưởng thức chiếc bánh
hamburger cũng với một hương vị, trong một không gian đặc trưng dù cửa hàng
Mc. Donald’s đặt ở New York hay Singapore. Các tiêu chuẩn thống nhất tạo nên nét
đặc trưng của hệ thống nhượng quyền thương mại, tạo ấn tượng và thói quen cho
khách hàng cũng như thuận lợi cho việc duy trì hình ảnh sản phẩm và dịch vụ. Điều
này cho thấy trong kinh doanh nhượng quyền, tính đồng bộ là một trong những điều
kiện tiên quyết đảm bảo sự tồn tại và phát triển cho một thương hiệu.
Để đảm bảo tính thống nhất, tồn diện của hệ thống nhượng quyền, bên
nhượng quyền sẽ kiểm tra, giám sát thường xuyên hoạt động kinh doanh của bên

nhận quyền33. Tuy nhiên, đối với quyền được kiểm soát này của bên nhượng quyền
thì pháp luật nhượng quyền thương mại Việt Nam chưa có quy định cụ thể về phạm
vi cũng như cách thức kiểm soát. Liệu các vấn đề về tuyển dụng, sa thải lao động,
cách thức quản lý tài chính,…có thuộc phạm vi kiểm sốt của bên nhượng quyền?
Sự không rõ ràng của quy định pháp luật sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bên nhận
quyền trong trường hợp bên nhượng quyền lợi dụng và lạm dụng việc kiểm soát để

31

Điều 287 Luật thương mại 2005

Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhượng quyền có các nghĩa vụ sau đây:
1. Cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thống nhượng quyền thương mại cho bên nhận quyền.
32
Lê Nết - Vũ Thanh Minh, Hợp đồng nhượng quyền thương mại.
https://docs.google.com/viewer?a=v&pid=sites&srcid=ZGVmYXVsdGRvbWFpbnxtYXV2YW5iYW5uZX
R8Z3g6MWUzZWU5ZGEzZGM5ZmRlNQ (truy cập lúc 9:10 ngày 23/5/2014).
33

Điều 286 Luật thương mại 2005
Quyền của thương nhân nhượng quyền
3. Kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận quyền nhẳm đảm bảo sự thống nhất của hệ thống
nhượng quyền thương mại và sự ổn định về chất lượng hàng hóa, dịch vụ.

12


gây khó khăn cho bên nhận quyền trong hoạt động kinh doanh34. Ngồi ra, thiếu sót
trong việc quy định giới hạn kiểm soát của bên nhượng quyền đối với bên nhận
quyền ảnh hưởng trực tiếp đến việc liệu hợp đồng nhượng quyền thương mại có bị

xem là vi phạm hay khơng hoặc bên nhượng quyền có thể cho đó là căn cứ pháp lý
để chấm dứt hợp đồng nhượng quyền hay khơng. Do đó, theo tác giả để đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ nhượng quyền, pháp luật cần
kịp thời bổ sung về giới hạn kiểm soát của bên nhượng quyền cũng như những hậu
quả pháp lý mà bên nhận quyền phải gánh chịu nếu vi phạm.
Về phía bên nhận quyền, họ phải chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng
dẫn của bên nhượng quyền; tuân thủ các yêu cầu về thiết kế, sắp xếp địa điểm bán
hàng, cung ứng dịch vụ của thương nhân nhượng quyền35. Tuy nhiên, nghĩa vụ này
được thực hiện một cách linh hoạt tùy theo sự khác biệt về văn hóa, phong tục tập
quán địa phương của những nơi hiện diện cửa hàng nhượng quyền. Điển hình như
tại thị trường Indonesia, Mc. Donald’s đã thêm vào thực đơn của mình món cơm vì
đây là món ăn phổ biến không thể thiếu tại bất cứ nhà hàng nào tại đây hay hệ thống
nhà hàng Phở 24 khi xâm nhập thị trường Hà Nội đã bổ sung món bánh quẩy chiên
ăn kèm với phở vì đây là thói quen ẩm thực lâu đời của người dân Hà thành. Tất
nhiên những điều này phải được sự đồng ý của bên nhượng quyền chứ bên nhận
quyền khơng được tự mình quyết định. Mặc dù vậy, những thay đổi, bổ sung trên
không làm mất tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền mà chỉ là sự điều chỉnh
cần thiết nhằm mục đích hỗ trợ cho việc xâm nhập thị trường của hàng hóa, dịch vụ
nhượng quyền dễ dàng và thuận lợi hơn. Như vậy, không phải tất cả các bên nhận
quyền trong một hệ thống nhượng quyền đều có nghĩa vụ tuân thủ các yêu cầu của
bên nhượng quyền như nhau mà có thể có sự khác biệt tùy thuộc vào chiến lược và
mục tiêu kinh doanh của bên nhượng quyền.
1.1.3 Ƣu điểm và hạn chế của nhƣợng quyền thƣơng mại
Nhượng quyền thương mại là hình thức kinh doanh mang lại nhiều lợi ích kinh
tế cho các thương nhân. Về phía bên nhượng quyền, thay vì phải bỏ vốn đầu tư và
mở ra nhiều địa điểm kinh doanh để thực hiện việc phân phối, bán lẻ sản phẩm,
cung ứng dịch vụ thì bên nhượng quyền có thể thâm nhập thị trường nhanh chóng
hơn dựa vào nguồn vốn của bên nhận quyền. Sự độc lập về mặt pháp lý và tài chính
của bên nhận quyền giải tỏa áp lực rủi ro trong kinh doanh cho bên nhượng quyền
34


Vũ Đặng Hải yến (2008), “Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại”, Tạp chí luật học, (11), tr.

65.
35

Điều 289 khoản 3 Luật thương mại 2005.

13


đồng thời cũng là động lực để bên nhận quyền phát triển chất lượng và hình ảnh
thương hiệu, mang đến lợi ích chung cho hệ thống nhượng quyền. Việc mở rộng
quy mô hoạt động với nhiều địa điểm kinh doanh trong hệ thống giúp thu hút nhiều
khách hàng, từ đó lượng tiêu thụ trên thị trường cũng tăng lên và tất nhiên, thị phần
và giá rị thương hiệu cũng lớn mạnh hơn.Về phía bên nhận quyền, họ được mua
một mơ hình kinh doanh đã được chứng minh thành cơng trên thực tế, do đó tỷ lệ
thất bại sẽ thấp hơn nhiều so với việc khởi sự kinh doanh từ đầu. Bên nhận quyền
ngay lập tức được tiếp cận với các sáng chế, bí quyết kinh doanh, chiến lược kinh
doanh, phương pháp quản lý,…từ bên nhượng quyền. Ngoài ra, bên nhận quyền còn
hưởng lợi từ các chiến dịch quảng cáo, khuyến mại trên mọi phạm vi của bên
nhượng quyền. Thực tế việc bên nhận quyền tham gia vào một mạng lưới nhượng
quyền tên tuổi đồng nghĩa với việc có được sức mua của toàn bộ mạng lưới này, và
điều này giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của bên nhận quyền trên thị trường.
Dù được xem là một hình thức kinh doanh tiến bộ, nhượng quyền thương mại
vẫn tồn tại những rủi ro có khả năng phá hủy tồn bộ danh tiếng thương hiệu mà các
bên đã nỗ lực xây dựng cũng như thiệt hại về doanh thu và nếu trầm trọng hơn, khả
năng doanh nghiệp không thể trụ lại trên thị trường là điều hồn tồn có thể xảy ra.
Bên nhượng quyền có thể đánh mất giá trị thương hiệu nếu bên nhận quyền không
tuân thủ những nguyên tắc nhằm đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống. Bên cạnh đó,

việc bảo vệ các tài sản trí tuệ như tên thương mại, sáng chế, bí quyết kinh
doanh,…trong và ngay cả sau khi chấm dứt quan hệ nhượng quyền có ý nghĩa quan
trọng làm nên tính khác biệt cho hệ thống nhượng quyền, và lẽ dĩ nhiên đó cũng là
lợi thế trong kinh doanh của bên nhượng quyền. Một vấn đề khác mà bên nhượng
quyền phải đối mặt là sau khi học hỏi được cách thức kinh doanh từ bên nhượng
quyền, bên nhận quyền thường khơng bằng lịng trả khoản phí nhượng quyền định
kỳ cho bên nhượng quyền. Trong một số trường hợp, họ tìm cách chấm dứt hợp
đồng nhượng quyền hoặc vi phạm các điều khoản trong hợp đồng vì họ cho rằng
bên nhượng quyền đang được hưởng những lợi ích xứng đáng hơn những gì bên
nhượng quyền đáng nhận được36. Cịn đối với bên nhận quyền, nếu khơng có sự tìm
hiểu và cân nhắc kỹ lưỡng, có thể sẽ phải chi một khoản tiền lớn để mua và vận
hành một phương thức kinh doanh kém hiệu quả với những hàng hóa, dịch vụ
khơng có khả năng cạnh tranh hoặc khơng có sự đầu tư kỹ lưỡng về tài sản trí tuệ
cũng như hệ thống tiếp thị, quảng cáo.

36

Mitchell J. Kassoff (2001), “Complex of federal and state laws regulates franchise operations as their

popularity grows”, New York State Bar Association Journal, tr. 49.

14


Mặc dù tồn tại một số hạn chế, nhượng quyền thương mại vẫn là một trong
những hình thức kinh doanh phổ biến và mang đến lợi nhuận cao hiện nay. Sự thành
công của nhượng quyền thương mại tạo cơ hội phát triển cho các ngành công
nghiệp, dịch vụ, làm gia tăng sức mua cho thị trường và cả cơ hội việc làm, từ đó
tạo nên động lực phát triển kinh tế. Ngồi ra, người tiêu dùng cịn được hưởng lợi từ
những sản phẩm, dịch vụ với chất lượng và cung cách phục vụ cạnh tranh, hiện đại.

Nhượng quyền thương mại còn là chiếc cầu nối cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa và
khoa học kỹ thuật giữa các thương nhân từ các quốc gia khác nhau.
1.2 Đối tƣợng của nhƣợng quyền thƣơng mại
1.2.1 Khái niệm đối tƣợng của nhƣợng quyền thƣơng mại
Đối tượng của nhượng quyền thương mại là lợi ích mà các bên trong quan hệ
nhượng quyền hướng đến, là nội dung mà các bên khai thác để tìm kiếm lợi nhuận
từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền. Pháp luật các nước khác nhau với quan
điểm không đồng nhất về hoạt động nhượng quyền thương mại nên đối tượng của
nhượng quyền thương mại cũng được nhìn nhận ở những phạm vi rộng hẹp khác
nhau.
Với mục đích hài hịa quy định pháp luật các nước về nhượng quyền thương
mại, Tổ chức thống nhất tư pháp quốc tế (UNIDROIT) đã ban hành Luật mẫu về
cung cấp thông tin trong hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại (Model
Franchising Disclosure Law). Theo Luật mẫu, nhượng quyền thương mại là các
quyền được trao bởi một bên của hợp đồng (bên nhượng quyền) cho phép và yêu
cầu bên kia (bên nhận quyền) cam kết kinh doanh các hoạt động bn bán hàng
hóa và cung cấp dịch vụ nhân danh chính mình theo hệ thống nhượng quyền được
thiết lập bởi bên nhượng quyền gắn liền với nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ,
tên thương mại hay biểu tượng kinh doanh được thiết lập bởi bên nhượng quyền,
bao gồm bí mật kinh doanh và sự trợ giúp và duy trì kiểm sốt hoạt động kinh
doanh nhượng quyền của bên nhượng quyền để nhận các khoản tài chính trực tiếp
hoặc gián tiếp. Nhượng quyền thương mại bao gồm:
(A)

Các quyền được trao bởi bên nhượng quyền cho bên nhượng quyền thứ cấp

theo hợp đồng quyền thương mại chung;
(B)
Các quyền được trao bởi bên nhượng quyền thứ cấp cho bên nhận quyền thứ
cấp theo hợp đồng nhượng quyền thứ cấp;


15


(C) Các quyền được trao bởi bên nhượng quyền cho một bên theo hợp đồng
nhượng quyền phát triển khu vực.37
Thông qua quy định của Luật mẫu, có thể hiểu khái quát rằng đối tượng của
nhượng quyền thương mại là quyền thương mại mà bên nhượng quyền cấp cho bên
nhận quyền khi quan hệ nhượng quyền được thiết lập. Luật mẫu đề cập đến quyền
thương mại trong từng loại hợp đồng nhượng quyền thương mại cụ thể. Theo Luật
mẫu thì tồn tại ba loại hợp đồng nhượng quyền thương mại khác nhau bao gồm hợp
đồng nhượng quyền thương mại chung, hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ
cấp và hợp đồng nhượng quyền phát triển khu vực. Dù được giao kết thông qua loại
hợp đồng nhượng quyền thương mại nào, bản chất quyền thương mại trong mỗi loại
hợp đồng này là như nhau.
Mặc dù khơng có một định nghĩa chính thức nào về quyền thương mại, thông
qua quy định của Hiệp hội nhƣợng quyền thƣơng mại Nhật Bản (the Japan
Franchise Association), quyền thương mại được hiểu là quyền sử dụng những dấu
hiệu đại diện của bên nhượng quyền, bao gồm logo, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương
mại cũng như bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền để thực hiện hoạt động
kinh doanh theo mơ hình của bên nhượng quyền38. Như vậy, nội dung của quyền
thương mại là việc bên nhận quyền được sử dụng những dấu hiệu đặc trưng tạo nên
thương hiệu của bên nhượng quyền.
Nghị quyết 4087/88 của Cộng đồng Châu Âu (EC Commission Regulation
No. 4087/88) thông qua quyền thương mại để định nghĩa về nhượng quyền thương
mại. Theo nghị quyết này quyền thương mại được hiểu là tập hợp các quyền sở hữu
cơng nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu, tên thương mại, biển hiệu
cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết kinh doanh
hoặc sáng chế được khai thác để bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ đến người sử
dụng cuối cùng39.

Nghị quyết 4087/88 nhấn mạnh quyền thương mại mà bên nhượng quyền cấp
cho bên nhận quyền liên quan đến một tập hợp các quyền sở hữu trí tuệ. Cách quy
định này khẳng định quyền thương mại là một gói quyền có liên quan đến các đối

37

UNIDROIT, Model Franchising Disclosure Law 2002, Article 2 (Nguyên văn tiếng Anh được cung cấp
trong phu lục 1).
38

Định nghĩa nhượng quyền thương mại của the Japan Franchise Association (Nguyên văn tiếng Anh được
cung cấp tại Phụ lục 1).
39

EC Commission Regulation No. 4087/88, Article 1(3)(a) (Nguyên văn tiếng anh được cung cấp tại Phụ lục

1).

16


tượng sở hữu trí tuệ mà bên nhận quyền được nhận để kinh doanh theo hợp đồng
nhượng quyền thương mại chứ không phải quyền khai thác từng đối tượng riêng lẻ.
Tại Việt Nam, mặc dù Luật thương mại 2005 đã dành hẳn Mục 8, chương VI
để đưa ra những quy định điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại nhưng
lại không đề cập đến đối tượng của hoạt động này. Chỉ khi kết hợp Điều 284 Luật
thƣơng mại 2005 và khoản 6 Điều 3 Nghị định 35 thì mới có cái nhìn khái quát về
đối tượng của nhượng quyền thương mại, tức quyền thương mại. Quyền thương mại,
theo pháp luật Việt Nam, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các quyền sau đây:
a)


Quyền được Bên nhượng quyền cho phép và u cầu Bên nhận quyền tự

mình tiến hành cơng việc kinh doanh cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ theo một hệ
thống do Bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên
thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của Bên
nhượng quyền;
b)
Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền sơ cấp quyền
thương mại chung;
c)

Quyền được Bên nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho Bên nhận quyền thứ cấp

theo hợp đồng nhượng quyền thương mại chung;
d)
Quyền được Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền quyền thương mại
theo hợp đồng phát triển quyền thương mại.
Thực tế quy định về quyền thương mại tại điểm a khoản 6 Điều 3 Nghị định
có nhiều nét tương đồng với quy định tại Điều 284 Luật thương mại 2005, nhấn
mạnh đến các yếu tố cấu thành quyền thương mại. Theo đó quyền thương mại là
quyền mà bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền, cho phép bên nhận quyền
tiến hành công việc kinh doanh theo phương thức của bên nhượng quyền cùng với
việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu
kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo,…của bên nhượng quyền. Tuy nhiên,
khác với Nghị quyết 4087/88 của Cộng đồng Châu Âu, quy định về quyền thương
mại của pháp luật Việt Nam mang tính chất liệt kê từng quyền riêng lẻ mà không
khẳng định sự thống nhất của các quyền mà bên nhượng quyền chuyển giao “trọn
gói” cho bên nhận quyền.
Khác với Điều 284 Luật thương mại 2005, khoản 6 Điều 3 Nghị định 35

không chỉ rõ các yếu tố cấu thành quyền thương mại gồm những yếu tố nào mà chỉ
định nghĩa quyền thương mại tương ứng với từng loại hợp đồng nhượng quyền
thương mại khác nhau, bao gồm hợp đồng nhượng quyền thương mại cơ bản, hợp
17


đồng nhượng quyền thương mại chung, hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ
cấp và hợp đồng phát triển quyền thương mại. Đây cũng chính là phạm vi quyền
thương mại mà bên nhận quyền được nhận từ bên nhượng quyền tùy theo từng loại
hợp đồng nhượng quyền thương mại mà các bên giao kết.
Nếu so sánh với Luật mẫu về cung cấp thông tin trong hoạt động nhượng
quyền thương mại, Nghị định 35 quy định thêm quyền thương mại thứ tư (điểm a
khoản 6 Điều 3). Tuy nhiên, nhìn chung quyền thương mại thứ tư này cũng chính là
quyền thương mại cơ bản tồn tại trong bất cứ loại hợp đồng nhượng quyền nào, dù
quyền thương mại được cấp trong mối quan hệ giữa bên chủ thể sơ cấp hay thứ cấp
hay mang những đặc thù riêng như được cấp lại quyền thương mại (quyền thương
mại chung), được phép thành lập nhiều hơn một cơ sở nhượng quyền trong một khu
vực địa lý nhất định (phát triển quyền thương mại). Do đó, cách quy định của Nghị
định 35 có khả năng gây nhầm lẫn rằng liệu có sự khác nhau hay không về khái
niệm quyền thương mại trong các loại hợp đồng nhượng quyền thương mại. Trong
khi đó trên thực tế giữa các hợp đồng chỉ khác nhau về quyền cụ thể mà bên nhượng
quyền trao cho bên nhận quyền, không khác biệt về bản chất quyền thương mại.
Từ việc xem xét các khái niệm trên liên quan đến đối tượng của nhượng quyền
thương mại, có thể thấy rằng quy định pháp luật Việt Nam về quyền thương mại chỉ
phản ánh một số đặc trưng mà chưa khái quát bản chất quyền thương mại. Theo tác
giả, đối tượng của nhượng quyền thương mại - quyền thương mại nên được hiểu là
quyền mà bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền, yêu cầu và cho phép bên
nhận quyền tự mình tiến hành kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo cách
thức do bên nhượng quyền đặt ra gắn liền với các đối tượng sở hữu trí tuệ và các
dấu hiệu thương mại khác40 thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát của bên nhượng

quyền.
Trong kinh doanh bằng hình thức nhượng quyền thương mại, việc bên nhượng
quyền cấp quyền thương mại cho bên nhận quyền là một trong những nội dung nền
tảng đảm bảo cho sự thành công của bên nhận quyền cũng như toàn bộ hệ thống
nhượng quyền. Do vậy, việc nghiên cứu những quan điểm khoa học pháp lý trong
sự so sánh với pháp luật Việt Nam và một số quốc gia phát triển khác mang đến cái
nhìn tồn diện về đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại. Điều này góp
phần xây dựng và hồn thiện chế định về nhượng quyền thương mại của pháp luật
40

Các đối tượng sở hữu trí tuệ và dấu hiệu thương mại khác này bao gồm nhưng không giới hạn nhãn hiệu,

tên thương mại, bí quyết kinh doanh, cách thức trang trí, sắp xếp địa điểm kinh doanh, biểu tượng kinh
doanh, khẩu hiệu kinh doanh, quảng cáo,…

18


Việt Nam bước kịp với xu hướng phát triển của hình thức kinh doanh này trong
thực tiễn.
1.2.2 Đặc điểm đối tƣợng nhƣợng quyền thƣơng mại
Khái niệm đối tượng của nhượng quyền thương mại được thể hiện khá đa dạng
tùy theo cách nhìn nhận về hoạt động nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, dù
được tìm hiểu ở khía cạnh nào thì quyền thương mại vẫn mang những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quyền thƣơng mại là một tổ hợp quyền.
Mặc dù theo quy định của pháp luật Việt Nam về quyền thương mại thì có thể
nhận thấy quyền thương mại bao gồm các quyền riêng lẻ khác nhau. Tuy nhiên,
thực tiễn thương mại cho thấy các quyền này không độc lập mà kết hợp nhuần
nhuyễn với nhau, tạo thành một tổ hợp quyền thương mại. Tổ hợp này bao gồm
quyền vận hành kinh doanh theo cách thức của bên nhượng quyền gắn liền với

quyền sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu, bí mật kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh,
biểu tượng kinh doanh,…thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát của bên nhượng
quyền. Thực tế khơng có bất cứ quy định nào bắt buộc tổ hợp quyền thương mại
phải bao gồm những quyền cụ thể nào mà tùy trường hợp cụ thể, các bên sẽ thỏa
thuận với nhau một, một số hoặc toàn bộ các quyền thương mại trong hợp đồng.
Mặc dù vậy, thuật ngữ “tổ hợp” vẫn có ý nghĩa nhất định, nó khẳng định là các
quyền đặc biệt được giao không phải từng quyền riêng biệt mà là một đối tượng
thống nhất để đạt được mục đích của hợp đồng nhượng quyền thương mại41.
Thứ hai, quyền thƣơng mại là một loại tài sản vơ hình.
Quyền thương mại được xem như một loại tài sản thuộc sở hữu hoặc kiểm soát
của bên nhượng quyền và bên nhượng quyền kinh doanh quyền thương mại này với
mục đích nhân rộng mơ hình kinh doanh của mình và tìm kiếm lợi nhuận. Tuy
nhiên, khơng giống như các loại tài sản khác, quyền thương mại là tài sản vơ hình,
rất khó để kiểm tra chất lượng cũng như giá trị của chúng. Ngoài ra, loại tài sản vơ
hình này cũng dễ bị xâm phạm quyền sở hữu trong quá trình xác lập, thực hiện và
kể cả sau khi chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Thứ ba, quyền thƣơng mại đồng thời gắn liền với các yếu tố đƣợc pháp
luật sở hữu trí tuệ bảo hộ và các yếu tố khơng đƣợc pháp luật sở hữu trí tuệ
bảo hộ.

41

Nguyễn Văn Luyện – Dương Anh Sơn – Lê Thị Bích Thọ (2007), Giáo trình Luật hợp đồng thương mại

quốc tế, Nxb. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 230.

19


Ngồi các đối tượng sở hữu trí tuệ quan trọng như sáng chế, tên thương mại,

nhãn hiệu, bí mật kinh doanh,…các đối tượng khác không được pháp luật sở hữu trí
tuệ bảo hộ như quy trình sản xuất, khơng gian kiến trúc, cung cách phục vụ, cách
thức marketing,...cũng được chuyển giao quyền sử dụng từ bên nhượng quyền sang
bên nhận quyền để bên nhận quyền đủ điều kiện tự mình kinh doanh theo phương
thức của bên nhượng quyền. Tuy nhiên, việc chuyển giao này không chỉ diễn ra ở
giai đoạn bắt đầu thiết lập quan hệ nhượng quyền mà còn tiếp diễn trong suốt quá
trình thực hiện hợp đồng nhượng quyền khi bên nhượng quyền sáng tạo và phát
triển những đối tượng mới phục vụ cho hoạt động kinh doanh hiệu quả và thành
cơng hơn. Điều này là hồn tồn hợp lý bởi bên nhượng quyền nếu muốn phát triển
hoạt động kinh doanh theo cách thức của riêng mình thì cần sự đồng bộ của toàn bộ
hệ thống mà nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, trang phục nhân viên, cách
thức bày trí cửa hàng, kế hoạch phát triển thương hiệu,…là những nhân tố phục vụ
cho tính đồng bộ này.
Thứ tƣ, việc sử dụng quyền thƣơng mại là quyền và nghĩa vụ của bên
nhận quyền.
Một trong những điều kiện quan trọng để tham gia vào hệ thống nhượng
quyền là bên nhận quyền phải trả cho bên nhượng quyền một khoản phí nhượng
quyền. Vì vậy bên nhận quyền có quyền sử dụng quyền thương mại mà bên nhượng
quyền cấp cho bên nhận quyền để tự mình kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo
phương thức đã được chứng minh là thành công của bên nhượng quyền. Mặt khác,
việc sử dụng quyền thương mại này đảm bảo tính đồng bộ của tất cả các cơ sở kinh
doanh thuộc hệ thống nhượng quyền. Thực tế, chỉ cần một cửa hàng trong hệ thống
nhượng quyền có chất lượng phục vụ kém hoặc cách thức bày trí khơng phù hợp
cũng có thể ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín chung của hệ thống. Do đó, việc sử
dụng quyền thương mại khơng những là quyền mà cịn là nghĩa vụ của bên nhận
quyền. Ngồi ra, sử dụng các yếu tố chuyển giao42 một cách phù hợp và tuân thủ
nguyên tắc hai bên đã thỏa thuận còn là một trong những nội dung quan trọng của
hợp đồng nhượng quyền thương mại, đảm bảo tính lâu dài và hiệu quả trong kinh
doanh cho cả hai bên.


42

Thuật ngữ “yếu tố chuyển giao” được sử dụng trong Nguyễn Khánh Trung (2008), Franchise - Chọn hay

không?, Nxb Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, tr. 8.

20


×