Tải bản đầy đủ (.pdf) (66 trang)

Nghị định thư kyoto và vấn đề thực hiện nghị định thư sau năm 2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (671.08 KB, 66 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
--------------------

LÊ THỊ HOÀNG ANH

NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO
VÀ VẤN ĐỀ THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH THƯ SAU NĂM 2012

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại

TP HCM – 2009


MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................... 01
CHƯƠNG 1: NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO-NỖ LỰC TỒN CẦU CHỐNG LẠI
HIỆN TƯỢNG KHÍ HẬU BIẾN ĐỔI ........................................................................ 04
1.1/Cơ sở hình thành Nghị định thư KYOTO ........................................................... 04
1.1.1/Cơ sở khoa học .................................................................................................. 04
1.1.1.1/Hiện tượng khí hậu biến đổi ........................................................................ 04
1.1.1.2/ Tính thống nhất của mơi trường ................................................................. 13
1.1.2/ Cơ sở lý luận ...................................................................................................... 15
1.2/ Quá trình phát triển Nghị định thư KYOTO ..................................................... 20
1.3/ Mục đích và ý nghĩa của Nghị định thư KYOTO .............................................. 24
1.3.1/ Mục đích ............................................................................................................ 24
1.3.2/ Ý nghĩa .............................................................................................................. 25
1.4/ Tóm lại .................................................................................................................... 26


CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH THƯ
KYOTO VÀ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH THƯ SAU NĂM 2012.................. 27
2.1/ Những vấn đề pháp lý cơ bản của Nghị định thư Kyoto ................................... 27
2.1.1/ Xác định các loại khí nhà kính cần cắt giảm ..................................................... 27
2.1.2/ Xác định thời gian cắt giảm khí nhà kính và chỉ tiêu phát thải khí nhà kính cho
các nước công nghiệp ..................................................................................................... 30
2.1.2.1/ Chủ thể của Nghị định thư Kyoto ............................................................... 30


2.1.2.2/ Trách nhiệm của các quốc gia thành viên ................................................... 31
2.1.3/ Xác định hướng tác động để chống lại xu hướng trái đất ấm dần lên ............... 35
2.1.3.1/ Cắt giảm thực tế........................................................................................... 35
2.1.3.2/ Tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính của trái đất ........................................ 41
2.1.3.3/ Thực hiện các cơ chế hỗ trợ triển khai Nghị định thư Kyoto..................... 42
2.1.4/ Những điểm hạn chế của Nghị định thư KYOTO............................................. 49
2.1.4.1/ Hạn chế trong cách thức sử dụng các thuật ngữ khoa học .......................... 49
2.1.4.2/ Hạn chế trong vấn đề xác định mức khí thải cần cắt giảm.......................... 50
2.1.4.3/ Nghị định thư Kyoto chưa đề cập đến trách nhiệm của các nước đang phát
triển đối với các thời kỳ cam kết tiếp theo ..................................................................... 51
2.1.4.4/ Các quy định về vấn đề kiểm tra thực hiện Nghị định thư Kyoto chưa chặt
chẽ ................................................................................................................................... 51
2.2/ Vấn đề thực hiện Nghị định thư Kyoto sau năm 2012 ....................................... 52
2.2.1/ Tiến trình thương lượng thỏa thuận quốc tế thay thế Nghị định thư Kyoto .... 52
2.2.2/ Sự bất đồng quan điểm trong tiến trình đàm phán về tương lai của bản hiệp ước
mới .................................................................................................................................. 54
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


LỜI NĨI ĐẦU


Tính cấp thiết của đề tài:
Trái đất nóng lên là vấn đề mơi trường tồn cầu. Những tác động của nó tới con
người và hệ sinh thái sẽ làm thay đổi rất nhiều về khí hậu, mơi trường của một nước, khu
vực này đến một nước và khu vực khác. Sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc
ngăn chặn sự gia tăng nhiệt độ bề mặt trái đất (do hiệu ứng nhà kính gây ra) Việt Nam đã
phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của Nghị định thư Kyoto từ năm 2002. Tuy
nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, thuật ngữ “Nghị định thư Kyoto” vẫn còn khá xa lạ với
người dân Việt Nam. Trên thực tế, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học liên quan
đến Nghị định thư Kyoto, như các luận văn nghiên cứu về đề tài “Luật quốc tế về chống
lại xu hướng khí hậu biến đổi” (do Nguyễn Thụy Tú Uyên thực hiện năm 2002), “Vấn đề
mua bán chỉ tiêu phát thải khí nhà kính theo pháp luật về chống lại xu hướng khí hậu biến
đổi” (do Nguyễn Thị Bảo Quyên thực hiện năm 2006) hay các quyển sách, bài viết đề cập
đến vấn đề khí hậu biến đổi, ví dụ: “Mơi trường và Luật Quốc Tế về mơi trường” của
Nguyễn Trường Giang (1996), “Khí hậu biến đổi-Thảm kịch vơ tiền khống hậu trong
lịch sử nhân loại” do S. Rahmstorf và Hans J. Schellnhuber viết năm 2008… Nhưng các
nghiên cứu này đề cập một cách sơ lược hoặc chỉ tập trung vào một vấn đề của Nghị định
thư Kyoto. Chúng ta có thể thấy rằng, trong một chừng mực nào đó, chưa có cơng trình
khoa học nào nghiên cứu có hệ thống về Nghị định thư Kyoto. Với mong muốn nghiên
cứu và tìm hiểu kỹ hơn về Nghị định thư Kyoto, tác giả quyết định chọn đề tài: Nghị
định thư Kyoto và vấn đề thực hiện Nghị định thư sau năm 2012.
Mục đích nghiên cứu đề tài:
Thơng qua việc đưa ra các cơ sở và luận cứ khoa học để chứng minh xu hướng ấm
dần lên của trái đất đồng thời dựa trên nguyên tắc môi trường là một thể thống nhất,
chúng ta sẽ làm rõ tầm quan trọng của quá trình hình thành và phát triển Nghị định thư
Kyoto cũng như tìm hiểu các vấn đề pháp lý cơ bản của Nghị định thư.
Trên cơ sở các phân tích về Nghị định thư Kyoto, tác giả sẽ chỉ ra các khó khăn
cũng như những thuận lợi của các nước trong tiến trình thương lượng về thời kỳ hậu Nghị
định thư Kyoto.


1


Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Nghị định thư Kyoto, bao gồm:
hiện tượng hiệu ứng nhà kính và các hậu quả do nó gây ra, các quy định pháp lý của Nghị
định thư Kyoto và các điều ước quốc tế có liên quan.
Phạm vi nghiên cứu:
Triển khai thực hiện Nghị định thư Kyoto là vấn đề đang được dư luận quốc tế
quan tâm rất nhiều nên trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về Nghị định thư còn
đang tranh luận và chưa có sự thống nhất trên phạm vi quốc tế. Do đó, trong phạm vi
nghiên cứu của mình, tác giả chỉ phân tích và đánh giá về các vấn đề pháp lý cơ bản của
Nghị định thư Kyoto chứ không có ý định xây dựng khung pháp lý hồn chỉnh cho vấn
đề khí hậu biến đổi hay nhằm thay thế Nghị định thư Kyoto. Ngoài ra, luận văn cũng bàn
về tình hình chuẩn bị của các nước nhằm đạt được thỏa thuận quốc tế mới thay thế Nghị
định thư Kyoto, khi Nghị định thư chấm dứt hiệu lực vào cuối năm 2012.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mac-LêNin kết hợp với các
phương pháp phân tích, liệt kê, so sánh, tổng hợp.
Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài:
Đây là một đề tài có tính mở vì chỉ đề cập đến một khía cạnh nhỏ trong tồn bộ
các nỗ lực nhằm thực hiện việc hạn chế và cắt giảm các phát thải khí nhà kính, đó là:
Nghị định thư Kyoto.
Do đề tài đề cập trực tiếp đến Nghị định thư Kyoto nên tác giả mong rằng kết quả
nghiên cứu của mình có thể trở thành cơ sở cho các đề tài nghiên cứu khoa học tiếp theo
với mục đích tiếp cận Nghị định thư Kyoto cũng như tiếp cận các khía cạnh khác của vấn
đề cắt giảm phát thải khí nhà kính và được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với các
sinh viên, nhà nghiên cứu và những ai quân tâm, muốn tìm hiểu rõ hơn về Nghị định thư
Kyoto.


2


Nội dung của đề tài:
Ngồi phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn được trình bày trong hai chương, bao gồm:
- Chương 1: Nghị định thư Kyoto-Nỗ lực toàn cầu chống lại hiện tượng khí hậu
biến đổi.
- Chương 2: Những vấn đề pháp lý cơ bản của Nghị định thư Kyoto và việc thực
hiện Nghị định thư sau năm 2012.
Mặc dù đã rất cố gắng để luận văn trở thành một tài liệu có giá trị nhưng do những
hạn chế nhất định về thời gian nghiên cứu cũng như khả năng phân tích và đánh giá của
người viết nên luận văn sẽ khơng tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Tác giả mong
nhận được sự thơng cảm và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và những người quan
tâm đến đề tài. Em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Phúc Thủy Hiền đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này; cảm ơn các tác giả đã có những cơng
trình nghiên cứu khoa học mà tôi đã sử dụng để tham khảo trong luận văn.

3


Chương 1
NGHỊ ĐỊNH THƯ KYOTO
NỖ LỰC TOÀN CẦU CHỐNG LẠI HIỆN TƯỢNG KHÍ HẬU BIẾN ĐỔI

1.1/Cơ sở hình thành Nghị định thư KYOTO1.1.1/Cơ sở khoa học
1.1.1.1/Hiện tượng khí hậu biến đổi
Khái niệm:
Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang trải qua các biến động thất thường
của khí hậu tồn cầu. Trên bề mặt trái đất, khí quyển và thủy quyển khơng ngừng nóng

lên làm xáo động mơi trường sinh thái, gây ra nhiều hệ lụy với đời sống nhân loại. Về
bản chất, khí hậu biến đổi là một hiện tượng tự nhiên và mang tính nội tại của trái đất. Sự
biến đổi khí hậu xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, như: sự thay đổi của chu kỳ
mặt trời, sự phun trào núi lửa, hoạt động kiến tạo địa tầng của trái đất, sự gia tăng lượng
khí nhà kính vào bầu khí quyển… Những yếu tố này đều giữ những vai trị nhất định
trong q trình phát triển của khí hậu. Tính từ 1,6 triệu năm trở lại đây, khí hậu trên trái
đất đã trải qua 5-6 lần thay đổi lớn. Mỗi chu kỳ thay đổi đều diễn ra trong khoảng thời
gian từ hàng vạn đến hàng chục vạn năm. Sự thay đổi khí hậu trong quá khứ diễn ra trong
khoảng thời gian rất dài và tốc độ thay đổi chậm nên các sinh vật không cảm nhận được
sự thay đổi đó, đây là điều kiện thuận lợi để các lồi sinh vật có thể thích nghi và sinh tồn
với hồn cảnh khắc nghiệt mà khí hậu mang lại. Tuy nhiên, sự biến đổi khí hậu trong
những năm gần đây lại cho chúng ta một cái nhìn rất mới về hiện tượng này. Theo báo
cáo mới nhất của Ủy ban liên chính phủ về sự biến đổi khí hậu thuộc Liên Hiệp Quốc
(IPCC)1 được cơng bố tại Hội nghị quốc tế BaLi (Indonesia), chỉ trong 100 năm qua (từ
1906 đến 2005), nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất đã tăng lên 0,74°C và 11 năm qua
(từ năm 1995 đến năm 2006) là những năm nóng nhất kể từ khi có số liệu quan trắc nhiệt
1

IPCC: là chữ viết tắt của từ Intergovernmental Panel on Climate Change. Ủy ban liên chính
phủ về sự biến đổi khí hậu được thành lập vào năm 1988 bởi Tổ chức khí hậu thế giới (World
Meteorological Organization) và Chương trình mơi trường của Liên Hiệp Quốc (United Nations
Environment Programme).
4


độ bề mặt trái đất (năm 1850).2 Các nhà khoa học đều khẳng định chưa bao giờ khí hậu
lại có những thay đổi gây chóng mặt đến như vậy và nguyên nhân chủ yếu gây nên sự
thay đổi là do con người đã xả vào khí quyển quá nhiều khí CO2 và các loại khí khác gây
nên hiệu ứng nhà kính vượt mức. Để đánh giá đúng mức tác động mà hiệu ứng nhà kính
gây ra đối với mơi trường khí hậu, chúng ta cần hiểu được bản chất của hiện tượng này.

Thuật ngữ Hiệu ứng nhà kính xuất phát từ Effect de serry trong tiếng Pháp do
Jean Baptiste Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên. Ban đầu thuật ngữ “hiệu ứng nhà kính”
được dùng trong lĩnh vực nơng nghiệp (trồng cây trong nhà kính) và kiến trúc để chỉ hiện
tượng ánh sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hay mái nhà bằng kính, bị hấp thụ và phân
tán trở thành nhiệt lượng sưởi ấm cho tồn bộ khơng gian bên trong nhà chứ không chỉ ở
những chỗ được chiếu sáng, giúp sử dụng năng lượng mặt trời một cách thụ động và tiết
kiệm được chất đốt sưởi ấm nhà cửa. Ngày nay, người ta hiểu khái niệm hiệu ứng nhà
kính rộng hơn, theo đó, thuật ngữ “hiệu ứng nhà kính” được dùng để miêu tả hiện tượng
nghẽn nhiệt trong bầu khí quyển của trái đất khi bị mặt trời chiếu sáng (hiệu ứng nhà kính
khí quyển).
Bầu khí quyển là lớp các chất khí bao quanh trái đất và được giữ lại bởi lực hấp
dẫn của trái đất. Thành phần chủ yếu của khí quyển gồm các khí nitơ, oxy, hơi nước,
cacbon dioxit, ơzơn, mêtan… Nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất được tạo nên do sự
cân bằng giữa năng lượng thu nhận từ mặt trời và năng lượng bức xạ do trái đất phóng
thích trở lại vũ trụ. Năng lượng mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn, dễ dàng xun qua
bầu khí quyển trái đất. Trong khi đó, các tia bức xạ mà trái đất phản chiếu trở lại vũ trụ
với nhiệt độ bề mặt trung bình khoảng 16°C là sóng dài có năng lượng thấp nên dễ dàng
bị khí quyển giữ lại (các tác nhân tạo nên khả năng hấp thụ các bức xạ có bước sóng dài
trong bầu khí quyển là khí CO2 , hơi nước, khí mêtan, khí CFC… gọi chung là khí nhà
kính). Kết quả của sự trao đổi khơng cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian
xung quanh dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ bề mặt trái đất, đây hiện tượng hiệu ứng nhà
kính khí quyển.
Hiện tượng hiệu ứng nhà kính là một hiện tượng tự nhiên, do các tác nhân gây
hiệu ứng nhà kính có trong thiên nhiên và đã xuất hiện từ lâu trong bầu khí quyển. Hiện
tượng hiệu ứng nhà kính rất quan trọng cho sự sống, vì nếu khơng có nó thì nhiệt độ
2

Nguyễn Trường Giang (2008), “Những phát triển của luật pháp quốc tế trong thế kỷ XXI”,
Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, tr 204.
5



trung bình của trái đất chỉ vào khoảng âm 18°C. Chính năng lượng của các bức xạ bị khí
nhà kính hấp thụ làm nhiệt độ trung bình của trái đất tăng thêm khoảng 30°C, tạo mơi
trường sống “lí tưởng” cho các lồi sinh vật.
Trong thời kỳ tiền cơng nghiệp, lượng khí nhà kính trong khí quyển ở thế cân bằng
tồn cầu. Các khí nhà kính chủ yếu do con người, động thực vật thải ra và được hệ sinh
thái rừng, đại dương-bộ máy điều hịa khí hậu của trái đất-hấp thụ. Kể từ khi cuộc cách
mạng công nghiệp bùng nổ, nhân loại bắt đầu khai thác nhiên liệu hóa thạch (trước hết là
than đá, sau đó là dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên), sự phát triển cơng nghiệp làm tăng nhu
cầu tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch cùng với lượng khí nhà kính thải ra. Các nghiên cứu về
lõi đá chỉ ra rằng hiện đang có nhiều khí CO2 trong khí quyển hơn bất kỳ thời gian nào
trong suốt 600.000 năm qua. Từ năm 1960 đến năm 2002, sự phát thải khí CO2 từ con
người tăng lên gấp 3 lần. Lượng này tăng khoảng 33% kể từ năm 1987.3 Bên cạnh đó,
nạn khai thác rừng bừa bãi và các hoạt động tiêu cực khác của con người (khai thác triệt
để các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm đại dương, khơng khí, nước…) đã làm
giảm khả năng hấp thụ khí CO2 của các cánh rừng và đại dương, làm yếu đi khả năng
phản xạ bức xạ của khí quyển. Hậu quả là trái đất mất khả năng tự điều chỉnh vốn có của
mình trước các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính. Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ
trái đất đã tăng 0,5°C trong khoảng thời gian từ năm 1885 đến năm 1940 do thay đổi
nồng độ khí CO2 trong khí quyển từ 0,027% đến 0,035%. Dự báo nếu khơng có biện
pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính thì nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,4-5,8°C.4
Vậy, hiện nay, hiệu ứng nhà kính khơng đơn thuần là một hiện tượng tự nhiên mà
nó cịn có sự “hậu thuẫn” từ phía con người.
Hậu quả của sự biến đổi khí hậu:
Thảm họa băng tan:
Hậu quả thấy rõ nhất khi khí hậu ấm dần lên là sự giảm đi rõ rệt lượng băng tuyết
có trên trái đất. Ví dụ: vào tháng 02/2002, băng thềm Larsen nằm phía trước bán đảo
3


Kiều Minh (2007), “Đối mặt với thảm họa băng tan”, Tạp chí Việt Báo:
http://vietbao.vn/Khoa-hoc/Doi-mat-voi-tham-hoa-bang-tan/20702696/193/
4

Kiều Minh (2007), “Đối mặt với thảm họa băng tan”, Tạp chí Việt Báo:
http://vietbao.vn/Khoa-hoc/Doi-mat-voi-tham-hoa-bang-tan/20702696/193/
6


thuộc châu Nam Cực bị rã ra từng mảnh nhỏ.5 Đến năm 2003, băng vĩnh cửu ở sườn núi
Matterhorn (thuộc dãy núi Alps, châu Âu) bị sụp hoàn toàn.6
Sự tồn tại và biến mất của băng tuyết có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống
trên trái đất:
- Sự tồn tại của băng tuyết giúp làm dịu đi phần nào lượng nhiệt mà mặt trời cung
cấp cho chúng ta (vì băng tuyết có tác dụng phản chiếu lại các bức xạ nhiệt mà mặt trời
chiếu vào trái đất). Nếu băng tan nhiều, trái đất bị giữ nhiệt nhiều hơn và làm cho trái đất
nóng hơn.
- Băng tan làm mực nước biển dâng lên. Theo báo cáo của IPCC năm 2001, nếu
nhiệt độ bề mặt trái đất tiếp tục tăng như hiện nay thì mực nước biển sẽ dâng lên 9 đến 88
cm từ năm 1990 đến năm 2100.7 Hậu quả là các vùng đất thấp, ven biển bị nước biển
nhấn chìm, hàng trăm triệu người bị mất nơi cư trú và nhiều hệ lụy không hay khác sẽ
xảy ra, như vấn đề thiếu hụt lương thực, sức khỏe con người bị suy giảm…
- Băng tuyết là bể dự trữ nước ngọt khổng lồ của trái đất (riêng ở Nam cực đã chứa
tới 90% lượng nước ngọt trong tự nhiên).8 Băng tan làm giảm đáng kể trữ lượng nước
ngọt (tồn tại dưới dạng băng tuyết) hiện có, ảnh hưởng đến đời sống của mọi loài sinh vật
trên trái đất, đặc biệt là đối với con người vì nước dùng trong sinh hoạt và trồng trọt ở
nhiều thành phố vùng núi lệ thuộc nhiều vào nguồn nước này. Nếu các núi băng tan chảy
hết thì sẽ gây thiếu nước cho hàng triệu người ở đây.
- Sự tan chảy của băng tuyết cũng làm mất dần mơi trường sống của các lồi sinh
vật cư trú chủ yếu trên băng (ví dụ: gấu Bắc Cực, hải cẩu, chim cánh cụt…); ngoài ra,


5

S. Rahmstorf và Hans J. Schellnhuber (2008), “Khí Hậu Biến Đổi-Thảm kịch vơ tiền
khoáng hậu trong lịch sử nhân loại”, Nhà xuất bản Trẻ, TP. HCM, tr 103, 104.
6

Xem chú thích 5 ở trên, tr 100.

7

Xem chú thích 5 ở trên, tr 109.

8

Minh Anh (2007), “Phát hiện những hồ nước khổng lồ ở Nam Cực”, Tạp chí Giao
Thơng Vận Tải: http://www.giaothongvantai.com.vn/Desktop.aspx/News/khoa-hoc-doisong/Phat_hien_nhung_ho_nuoc_khong_lo_o_Nam_cuc/
7


nước từ các các sơng băng bị tan chảy hịa lẫn với nước biển làm thay đổi các dòng hải
lưu gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhiều loài sinh vật biển (san hô, tảo biển…).
- Đa số các cơng trình cơ sở hạ tầng ở các vùng cực được xây dựng trên mặt băng
vĩnh cửu, nếu băng tan thì nền móng của các cơng trình sẽ thay đổi và làm cho chúng bị
biến dạng, sụp đổ.
Biến đổi khí hậu gây “biến dạng” sự đa dạng sinh học của trái đất:
Hiện tượng biến đổi khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến hệ sinh thái trên trái đất:
- Đối với hệ sinh thái biển: hiện tượng hiệu ứng nhà kính làm nhiệt độ nước biển
ấm dần lên, gây ra những thay đổi tiêu cực đối với môi trường sống của các loài sinh vật
biển, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Chúng ta có thể thấy điều này qua trường hợp

của dãy san hô ngầm từ vùng biển Australia đến Caribbean. Theo báo cáo thường niên
của tổ chức Australian Institute of Medical Scientists, trong hai năm 2003 và 2004, tám
trong số chín vỉa san hơ được bảo tồn ở Australia đã chết.9 Bên cạnh đó, tổ chức Liên
minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN)10 thông báo rằng
kể từ năm 1998, hiện tượng El Nino đã làm chết 60% lượng san hô ở khu vực châu Á.11
- Đối với hệ sinh thái rừng: hệ sinh thái rừng là nơi hấp thụ trở lại lượng khí CO2
bị phát thải để tạo thành chất hữu cơ. Trong thời kỳ đại công nghiệp, một mặt con người
tăng các hoạt động xả khí nhà kính vào khí quyển, một mặt lại đẩy mạnh việc khai thác
rừng để lấy đất canh tác, lấy gỗ làm nguyên liệu đốt… Theo tính tốn của các nhà khoa
học, hàng năm, có khoảng 11 triệu héc ta rừng bị tàn phá và trong tương lai, xu hướng
9

Việt Báo (2004), “San hô tiếp tục bị đe dọa”, Tạp chí Việt Báo: http://vietbao.vn/Khoahoc/San-ho-tiep-tuc-bi-de-doa/45126283/188/
10

IUCN: là chữ viết tắt của từ International Union for Conservation of Natural and Natural
Resources, từ thập niên 90 được gọi là World Conservation Union. Tổ chức này là một tổ chức
bảo vệ thiên nhiên. Họ được thế giới biết đến qua việc công bố cuốn Sách Đỏ hàng năm, nhằm
cảnh báo thế giới về tình trạng suy thối mơi trường thiên nhiên trên toàn cầu và những tác động
của con người lên sự sống của trái đất.
11

Việt Báo (2004), “San hô tiếp tục bị đe dọa”, Tạp chí Việt Báo: http://vietbao.vn/Khoahoc/San-ho-tiep-tuc-bi-de-doa/45126283/188/
8


biến mất của các cánh rừng tự nhiên vẫn chưa có tín hiệu giảm.12 Sự giảm sút diện tích
rừng gián tiếp làm tăng nồng độ khí CO2 trong khí quyển, đẩy mạnh hiệu ứng nhà kính,
góp phần làm biến đổi khí hậu nhưng ngược lại thì sự nóng lên của bề mặt trái đất cũng
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của các cánh rừng. Nhiệt độ bề mặt

trái đất tăng sẽ kích thích sự sinh sản của nhiều lồi cơn trùng, sâu hại mang những mầm
bệnh nguy hiểm đối với cây cối. Ngồi ra, tình trạng nắng nóng như hiện nay đã trở thành
ngịi nổ cho nhiều vụ cháy rừng, điển hình là vụ cháy rừng ở tiểu bang Victoria (Úc) xảy
ra ngày 07/02/2009 (đám cháy bắt nguồn từ những người đốt rừng, tuy nhiên yếu tố quyết
định quy mô và sức phá hủy của đám cháy là tình hình thời tiết nắng nóng kéo dài ở tiểu
bang Victoria, nhiệt độ ở đây có thời điểm đã lên đến 47°C), các vụ cháy rừng tương tự
cũng từng xảy ra ở Mỹ và Nam Âu, để lại những hậu quả vô cùng nặng nề về người, tài
sản, gây giảm sút nghiêm trọng giá trị của các cánh rừng và để khắc phục được hậu quả
mà nó gây ra là một vấn đề hết sức khó khăn. Nếu khí hậu trái đất tiếp tục biến đổi theo
chiều hướng như hiện nay thì sẽ có khoảng 20% đến 30% các loài động thực vật phải đối
đầu với nguy cơ tuyệt chủng.13
Sự đa dạng sinh học có ý nghĩa vơ cùng quan trọng đối với tự nhiên vì nó góp
phần hạn chế nhiều tác động tiêu cực từ hiện tượng biến đổi khí hậu. Nếu chúng ta bảo vệ
tốt hệ sinh thái rừng và biển thì sẽ làm giảm đáng kể lượng khí CO2 phát thải vào khí
quyển, một trong những nhân tố quan trọng gây nên hiệu ứng nhà kính. Đồng thời, sự đa
dạng sinh học cịn cung cấp cho nhân loại một nguồn tài nguyên phong phú, giúp duy trì
sự cân bằng của sự sống và mơi trường sống trên trái đất, ổn định khí hậu, làm sạch môi
trường và làm màu mỡ đất đai. Một số lồi cây như đước, bạch dương… có thể là trường
thành vững chắc bảo vệ con người trước bão lũ, các loại cây lương thực có khả năng chịu
hạn cao là lựa chọn tốt nhất cho nhân loại khi mà nhiệt độ trái đất đang có xu hướng tăng
đột biến như hiện nay.
Xuất phát từ vai trò của sự đa dạng sinh học và thực tế đang diễn ra, nhân loại cần
phải có những can thiệp kịp thời và đúng đắn nhằm cứu lấy sự đa dạng sinh học đang
biến mất dần bởi những thay đổi khó lường của khí hậu.

12

Nguyễn Trường Giang (1996), “Môi Trường và Luật Quốc Tế về Mơi Trường”, Nhà xuất
bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, tr 24.
13


Xem chú thích 2 ở trên, tr 210.
9


Hậu quả do hiện tượng biến đổi khí hậu gây ra đối với nơng nghiệp và vấn
đề an tồn lương thực:
Hiện tượng biến đổi khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động nơng nghiệp. Ảnh
hưởng này được nhìn nhận ở hai góc độ: tích cực và tiêu cực.
Ở góc độ tích cực: khí hậu ấm dần lên tạo điều kiện thuận lợi cho những vùng có
khí hậu lạnh (Nga, Canada…). Trước đây, khi mà khí hậu ở những nơi này cịn q lạnh
thì việc trồng trọt của họ gặp nhiều khó khăn do nhiệt độ quá thấp làm cho cây cối khó
phát triển, nước bị đóng băng nên khơng thể tưới tiêu… Hiện nay, nhiệt độ trái đất tăng
làm khí hậu ở những vùng này ơn hịa hơn, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển.
Tuy nhiên, sự ấm lên của trái đất cần được đặt trong một giới hạn an tồn vì nếu
nhiệt độ tăng q cao sẽ dẫn đến tình trạng hạn hán kéo dài, gây thiệt hại cho mùa màng.
Ví dụ: trận hạn hán xảy ra ở Đức vào năm 2003 làm sản lượng nông nghiệp của họ giảm
sút mạnh (giảm 12% so với năng suất trung bình tính từ năm 1997 đến năm 2002).14 Biến
đổi khí hậu khơng đơn giản là sự gia tăng nhiệt độ bề mặt trái đất mà nó cịn ảnh hưởng
đến sự phân bố lượng mưa giữa các vùng miền. Nhiều nơi vốn dĩ đã khơ hạn thì nay vấn
đề này lại trở nên trầm trọng hơn (cụ thể là các nước ở Châu Phi, Nam Á). Mặc dù trong
thời đại khoa học kỹ thuật phát triển, họ có thể khắc phục tình trạng khơ hạn bằng cách
sử dụng các phát minh khoa học, như sử dụng hệ thống tưới tiêu để dẫn nước tưới vào đất
của họ, phát triển các loại cây trồng mới có khả năng chịu hạn cao nhưng những phương
pháp này chỉ đạt được hiệu quả khi có đủ các điều kiện cần thiết để tiến hành (ví dụ: đối
với hệ thống thủy lợi, nó chỉ có thể phát huy tác dụng khi địa điểm lắp đặt nó có đủ
nguồn nước tưới, các loại cây trồng cũng có một giới hạn nhất định trong việc chịu đựng
sự gia tăng nhiệt độ). Bên cạnh đó, theo báo cáo của các nhà nghiên cứu, những biện
pháp này chủ yếu bù đắp thiệt hại cho các nước phát triển; còn đối với các nước đang
phát triển và kém phát triển, họ ít có cơ hội được tiếp xúc với những phương thức trồng

trọt hiện đại (thường là vì vấn đề tài chính, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật), do đó,
đây sẽ là các nước gánh chịu phần lớn những hậu quả do biến đổi khí hậu gây ra.
Khí hậu biến đổi cịn gây ngập lụt và mặn hóa ở nhiều nơi. Chúng ta có thể thấy rõ
hiện tượng này qua tình hình thực tế đang diễn ra tại Việt Nam. Các nhà khoa học nhận
định Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng
14

Xem chú thích 5 ở trên, tr 131.
10


biến đổi khí hậu. Nếu mực nước biển tiếp tục tăng như đã dự báo thì đồng bằng sơng Cửu
Long sẽ bị ngập hơn 90% diện tích, làm cho việc sản xuất nơng nghiệp bị ngưng trệ hồn
tồn và người dân Việt Nam phải đương đầu với vấn đề lương thực do đồng bằng sông
Cửu long được xem là vựa lúa lớn nhất của cả nước.15
Giảm sút sản lượng lương thực không chỉ ảnh hưởng đến một vùng hay một quốc
gia riêng lẻ mà đây còn là một vấn đề mang tính quốc tế. Biến động trong việc phân phối
lương thực sẽ đẩy giá lương thực tăng cao, hậu quả là các nước nghèo phải đối mặt với
nạn đói vì người dân ở đây không đủ tiền mua lương thực. Khoảng cách giữa nước giàu
và nước nghèo ngày càng xa thêm do những nước nghèo mặc dù không phải là người gây
ra hiện tượng biến đổi khí hậu nhưng lại là những người phải gánh chịu hậu quả nặng nề
nhất. Tình hình thiếu hụt lương thực trên diện rộng kéo theo hàng loạt sự bất ổn về chính
trị và xã hội: nạn cướp bóc lương thực tăng, trẻ em ở các nước thuộc thế giới thứ ba
không được tiếp xúc với nền giáo dục hiện đại…
Hiện tượng sa mạc hóa:
Sa mạc hóa là hiện tượng suy thối đất đai ở những vùng khô cằn chủ yếu là do
hoạt động của con người và biến đổi khí hậu. Tại phiên họp thứ 7 của Hội nghị chống sa
mạc hóa của Liên Hiệp Quốc tại Nairobi, các chuyên gia cảnh báo hiện tượng sa mạc hóa
đang có xu hướng tăng nhanh. Cả thế giới hiện nay với dân số hơn 6 tỷ người phải sống
dựa vào chỉ 11% diện tích đất đai trên trái đất chưa bị ảnh hưởng bởi hiện tượng này.16

Sự gia tăng nhiệt độ bề mặt trái đất dẫn đến hạn hán chỉ là một phần nguyên nhân

gây nên hiện tượng sa mạc hóa, nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động phá rừng, đốt
đồng để lấy đất canh tác, chăn nuôi du mục, khai thác bừa bãi các mạch nước ngầm…
của con người đã đẩy nhanh tiến trình và làm cho nó lan ra diện rộng.
Hiện tượng sa mạc hóa làm mất dần mơi trường sinh sống của các loài động thực
vật trên trái đất, làm tăng nguy cơ biến mất của nhiều sinh vật, hậu quả là trái đất mất đi
15

Vũ Phương Thảo-Đình Phú-Mai Vọng-Chí Nhân-Quang Duẩn (2009), “Việt Nam trước
hiểm họa nước biển dâng cao”, Tạp chí 60s: http://60s.com.vn/index/1985906/03032009.aspx
16

Việt Báo (2005), “LHQ cảnh báo về hiện tượng sa mạc hóa đang diễn ra trên thế giới”,
Tạp chí Việt Báo: http://vietbao.vn/The-gioi/LHQ-canh-bao-ve-hien-tuong-sa-mac-hoa-dangdien-ra-tren-the-gioi/55086178/159/
11


sự đa dạng sinh học. Theo tính tốn của các nhà khoa học, hàng năm có khoảng 6 triệu
héc ta đất bị sa mạc hóa. Trong vịng 3 thập kỷ cuối thế kỷ XX, diện tích đất bị sa mạc
hóa đã bằng diện tích của Liên hiệp các Tiểu vương quốc Ả Rập.17 Hiện tượng sa mạc
hóa khơng chỉ ảnh hưởng đến môi trường thiên nhiên (làm mất môi trường sống của các
loài động thực vật trên trái đất…) mà nó cịn ảnh hưởng đến con người và kinh tế: các
cơn bão có thể cuốn cát từ các vùng sa mạc vào các khu dân cư, gây ô nhiễm không khí
và một số bệnh cho con người (ví dụ: bệnh về mắt, hô hấp…); đất đai khô cằn làm gia
tăng nạn nghèo đói ở các nước và đẩy hàng trăm triệu người di cư đi tìm nơi ở mới.
Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng lớn đến mơi trường sống và sức khỏe của
con người:
Theo ghi nhận của các nhà khí tượng, các hiện tượng thời tiết cực đoan đang có
những diễn biến thất thường và vơ cùng nguy hiểm. Nhiều nơi trên thế giới phải gánh

chịu những đợt nắng nóng gây gắt trong khi đó khơng ít người lại phải di dời nhà cửa để
tránh các đợt lũ lụt, sóng thần. Ví dụ: năm 1998, nước ở nhiều con sông lớn của Trung
Quốc dâng cao khi bước vào mùa mưa nhưng cũng trong khoảng thời gian này, ở khu
vực Đơng Nam Á, nạn hạn hán đang hồnh hành, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người và
kinh tế (tại Việt Nam, hạn hán xảy ra nặng nhất tại các tỉnh Tây Nguyên và Nam Bộ, thiệt
hại lên đến 312 triệu USD).18
Sự gia tăng nhiệt độ bề mặt trái đất tác động đến nhịp độ sinh học của cơ thể con
người. Các đợt nắng nóng đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm ngàn người (trong đó chủ
yếu là người già, người mắc các bệnh về tim mạch) và kéo theo hàng loạt các hệ lụy:
ngành nông nghiệp ngưng trệ; giá lương thực thực phẩm, giá nước, giá điện, giá nhiên
liệu tăng cao theo nhu cầu của con người.
Dân số tăng nhanh, các cuộc di dân ào ạt, hoạt động khai thác tài nguyên thiên
nhiên quá mức… đang làm cạn kiệt dần các mạch nước ngầm và các nguồn khống sản,
gây ơ nhiễm nhiều vùng biển, và đa dạng hóa các loại chất thải vào mơi trường. Con
người tự làm “nghèo” đi mơi trường sống của mình nhưng lại tạo điều kiện cho các mầm
17

Xem chú thích 12 ở trên, tr 25.

18

VnExpress (2006), “El Nino có thể gây hạn hán ở Việt Nam”, Tạp chí
VnExpress:
http://www.vnexpress.net/GL/Khoahoc/2006/10/3B9EFDC6/
12


bệnh phát triển, như: mầm bệnh sốt Dengue, sốt rét… Năm 2002, tổ chức Y tế Thế giới
(WHO)19 đưa ra bản báo cáo về hậu quả biến đổi khí hậu, theo đó, hàng năm có ít nhất
150.000 người chết vì khí hậu nóng (họ chết vì các bệnh tim mạch, sốt rét, tiêu chảy, các

bệnh truyền nhiễm khác và phần lớn nạn nhân ở các nước thuộc thế giới thứ ba).20
1.1.1.2/ Tính thống nhất của mơi trường
“Mơi trường” là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trên nhiều lĩnh vực. Chúng
ta có thể thấy điều này qua các khái niệm: môi trường tự nhiên, môi trường học tập, môi
trường lao động… Thông thường, môi trường được hiểu là một tập hợp bao gồm toàn bộ
các yếu tố tồn tại bên ngoài một thực thể sinh vật, giữa thực thể sinh vật này và các yếu
tố thuộc mơi trường có sự tương tác lẫn nhau. Tuy nhiên, tùy vào từng ngữ cảnh cụ thể
mà người nghiên cứu muốn tiếp cận, thuật ngữ “mơi trường” có thể được định nghĩa theo
nhiều cách khác nhau. Ví dụ: trong lĩnh vực sinh học, “môi trường” là tập hợp các yếu tố
tự nhiên (ánh sáng, khơng khí, thổ nhưỡng, khí hậu…) tác động trực tiếp lên cơ thể sống
và xác định hình thức sinh tồn của chúng; cịn trong lĩnh vực kiến trúc, “mơi trường” là
tất cả các yếu tố tồn tại trong một cơng trình xây dựng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và
năng suất làm việc của những người sống trong đó.
Trong đề tài này, tác giả tiếp cận “mơi trường” ở góc độ là một thuật ngữ mang
tính pháp lý. Theo Điều 1, Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hịa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 29/11/2005: “môi trường bao gồm các yếu
tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản
xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.
Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy các nhà làm luật Việt Nam xem môi
trường là nhịp cầu nối giữa con người và tự nhiên, trong đó, con người trở thành trung
tâm của môi trường. Định nghĩa này phù hợp với những nội dung cơ bản trong Tuyên bố
Stockholm (1972). Theo Tuyên bố Stockholm, con người vừa là một thực thể tồn tại
trong môi trường, vừa là chủ thể tác động, thúc đẩy, làm biến đổi môi trường; giữa mơi
trường và con người có sự tác động lẫn nhau, môi trường tạo cho con người không gian
19

WHO: là chữ viết tắt của từ World Health Organization. Tổ chức này là một cơ quan của
Liên Hiệp Quốc, đóng vai trò điều phối các vấn đề sức khỏe và y tế cộng đồng trên bình diện
quốc tế.
20


Xem chú thích 5 ở trên, tr 132.
13


và các điều kiện để tồn tại, phát triển về mặt thể chất lẫn trí tuệ, cịn con người bằng sự
phát triển của mình sẽ tác động lên tất cả các khía cạnh thiên nhiên và nhân tạo của mơi
trường nhằm đáp ứng những nhu cầu mà họ đặt ra.
Trong lĩnh vực pháp lý, môi trường được tạo thành từ tất cả các yếu tố vật chất tự
nhiên và nhân tạo tồn tại bên ngoài con người, tác động lên sự tồn tại và phát triển của
con người:
- Yếu tố vật chất tự nhiên: là những yếu tố được hình thành, tồn tại và phát triển
theo quy luật tự nhiên, con người khơng thể chi phối hồn tồn các yếu tố này mà họ chỉ
có thể tác động lên chúng trong một giới hạn nhất định (đất đai, đại dương, ánh sáng,
khơng khí…).
- Yếu tố vật chất nhân tạo: là các yếu tố do con người tạo ra nhằm tác động lên
thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, sự tồn tại của những yếu tố này chủ yếu
do con người quyết định (đường xá, cầu cống, nhà ở, máy móc…).
Mặc dù các yếu tố cấu thành môi trường được chia ra thành yếu tố vật chất tự
nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo nhưng chúng không hề bị tách biệt, sự phân định này
chỉ dựa vào nguồn gốc, tính chất của các yếu tố và chỉ đóng vai trị là tên gọi chung để
chúng ta có thể nhận diện chúng mà thơi. Trên thực tế, giữa các yếu tố tạo thành môi
trường tồn tại mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tương tác lẫn nhau và đều có sức ảnh hưởng
mạnh mẽ lên con người. Ví dụ: sự ấm lên của bề mặt trái đất làm băng ở các vùng cực tan
chảy, dẫn đến mực nước biển dâng cao gây ngập lụt các vùng đất thấp và ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống của con người.
Các yếu tố tạo thành môi trường bao quanh con người là một thể thống nhất hồn
hảo, khơng thể bị chia tách bởi bất kỳ một tác động nào. Sự thay đổi yếu tố này tất yếu sẽ
làm biến đổi yếu tố khác. Chính con người cũng khơng có khả năng làm “gẫy đổ” hệ
thống này vì mơi trường là khơng có biên giới và khơng thể bị chia cách bởi biên giới

giữa các quốc gia. Ví dụ: một cơn bão hình thành ở vùng biển thuộc Thái Lan có xu
hướng tiến dần về Việt Nam, chúng ta không thể dùng biên giới giữa Việt Nam và Thái
Lan để ngăn không cho cơn bão tiến sang Việt Nam.
Vậy, môi trường là một chỉnh thể thống nhất không thể tách rời. Sự tổn hại của
yếu tố này sẽ gây phản ứng di chuyền sang các yếu tố khác và làm cho mơi trường chung
bị suy thối.
14


Các hoạt động tiêu cực của con người đã và đang làm cho khí hậu xuống cấp trầm
trọng. Khí hậu là một yếu tố cấu thành nên môi trường. Sự biến đổi của khí hậu tất yếu sẽ
tác động lên các yếu tố khác của môi trường và làm môi trường chung bị thay đổi. Con
người tồn tại bên trong môi trường nên tất nhiên con người cũng không thể tránh khỏi
những biến đổi đó. Tuy thế giới gồm nhiều quốc gia riêng rẽ, mỗi quốc gia tác động lên
môi trường ở một mức độ nhất định và sự tác động này là không giống nhau nhưng cả thế
giới chỉ có một mơi trường. Bất kỳ một tác động xấu nào mà quốc gia này gây ra cho môi
trường đều ảnh hưởng đến các quốc gia khác. Do đó, khí hậu biến đổi đã trở thành mối lo
chung của toàn nhân loại. Các quốc gia không thể chia nhỏ môi trường sinh học thành
các tài sản thuộc sở hữu quốc gia rồi tự thân mình giải quyết tất cả các vấn đề do khí hậu
biến đổi gây ra vì hiện tượng khí hậu biến đổi khơng chỉ diễn ra trên phạm vi một vùng
miền nhất định, trong một khoảng thời gian xác định mà nó tác động trên phạm vi tồn
thế giới và có thể kéo dài hàng nghìn năm, hàng triệu năm; bên cạnh đó, hiện tượng này
cịn ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau, như: xã hội, chính trị, an ninh hịa bình,
đạo đức…; chi phí phải bỏ ra để giải quyết các vấn đề về khí hậu và những hậu quả do nó
gây ra khơng phải là ít, nhiều quốc gia khơng thể chi trả cho các hoạt động bảo vệ và
phục hồi mơi trường. Vì lợi ích chung của nhân loại, các quốc gia cần hợp tác đồng bộ và
rộng khắp thì mới có thể giải quyết được các vấn đề liên quan đến môi trường. Điều này
yêu cầu các nước phải thống nhất với nhau một kế hoạch nhằm bảo vệ mơi trường nói
chung và bảo vệ sự ổn định lâu dài của khí hậu nói riêng, đồng thời họ nên đưa ra một
khung pháp lý thống nhất để làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện kế hoạch này.

1.1.2/ Cơ sở lý luận
Trong bối cảnh môi trường trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế,
nhiều hội nghị về bảo vệ mơi trường đã diễn ra trên quy mơ tồn cầu với sự tham gia của
hầu hết các quốc gia trên thế giới. Bên cạnh các hội nghị thảo luận các vấn đề chung nhất
của mơi trường thì các nước còn tổ chức nhiều hội nghị quốc tế để bàn bạc về những vấn
đề cụ thể của môi trường đang được cả thế giới chú ý, trong đó có vấn đề biến đổi khí
hậu. Các hội nghị quốc tế quan trọng liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu cần phải kể
đến là: hội nghị Stockholm về Môi trường và Con người (năm 1972), hội nghị thượng
đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển họp tại Rio De Janeiro (năm 1992),
các hội nghị được tổ chức tại Tokyo (năm 1997), Bonn (năm 2001), Johenesburg (năm
2002)… Từ những hội nghị này, các quốc gia đã có nhiều thỏa thuận quốc tế quan trọng
trong việc chống lại hiện tượng khí hậu biến đổi và là cơ sở vững chắc cho sự hình thành
và phát triển của Nghị định thư Kyoto.
15


Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Con người (năm 1972):
Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Con người được tổ chức tại
Stockholm (Thụy Điển) năm 1972. Trước khi chúng ta xem xét hội nghị này, tác giả
khẳng định rằng những nội dung được thông qua trong hội nghị không hề đề cập trực tiếp
đến vấn đề khí hậu biến đổi hay về việc cắt giảm lượng khí nhà kính phát thải vào khí
quyển trái đất. Tuy nhiên, nếu muốn tìm hiểu về sự ra đời của Nghị định thư Kyoto thì
chúng ta phải hiểu được ý nghĩa mà hội nghị mang đến cho Nghị định thư, vì hội nghị
Stockholm được xem là đã đặt nền móng quan trọng cho sự ra đời của hàng loạt văn bản
pháp lý quốc tế về môi trường, kể cả Nghị định thư Kyoto.
Tại hội nghị, nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra nhưng nhìn chung là có hai
luồng ý kiến: luồng ý kiến thứ nhất, các nước phát triển cho rằng vấn đề bảo vệ môi
trường cần được xem trọng và trở thành một trong các điều kiện cần đặt ra trong quan hệ
hợp tác quốc tế; luồng ý kiến thứ hai do các nước đang phát triển nêu lên, theo họ thì các
nước đang phát triển quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển kinh tế và không nên đem

vấn đề môi trường làm điều kiện để nước này có thể đặt ra đối với nước khác trong quan
hệ quốc tế . Tuy có sự khác nhau về quan điểm nhưng vì lợi ích của quốc gia, các nước
đã có sự nhượng bộ lẫn nhau và cùng nhau đi đến một thỏa hiệp quan trọng. Thỏa hiệp
này về sau được gọi là Tuyên bố Stockholm. Tuyên bố Stockholm bao gồm 26 nguyên tắc
thể hiện sự nhìn nhận của thế giới về mơi trường, ghi nhận vấn đề mơi trường là vấn đề
mang tính tồn cầu; kèm theo đó là 119 khuyến nghị về những hành động cần thực hiện
nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường.
Mặc dù các cam kết trong tuyên bố Stockholm không mang tính ràng buộc pháp
lý, chúng đơn thuần chỉ là sự thỏa thuận giữa các nước và chủ yếu là các quy phạm mang
tính chính trị, đạo đức nhưng từ tuyên bố này, chúng ta có thể thấy thế giới thật sự xích
lại gần nhau hơn trong vấn đề bảo vệ mơi trường, họ chính thức ghi nhận mơi trường là
một thể thống nhất (nguyên tắc số 21), việc bảo vệ môi trường không phải là trách nhiệm
của riêng một quốc gia mà đó là nhiệm vụ chung của tồn nhân loại.
Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển (năm 1992):
Sau khi Tuyên bố Stockholm ra đời, việc bảo vệ môi trường vẫn chưa được các
quốc gia quan tâm đúng mức, các nước chưa có những hành động cần thiết và kịp thời để
bảo vệ và cải thiện môi trường. Dựa trên các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
và hiện trạng thực tế diễn ra, con người nhận thấy, môi trường đang xuống dốc trầm
16


trọng, đặc biệt là khí hậu trái đất. Nhiều mơ hình dự báo do các nhà khoa học đưa ra
khẳng định nếu cả thế giới cứ chậm chạp như vậy thì những hậu quả mà họ gánh chịu từ
hiện tượng biến đổi khí hậu sẽ khơng thể nào ước lượng được. Với mục đích cứu lấy khí
hậu trái đất, năm 1988, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ra Nghị quyết số 45/53 yêu cầu các
nước cùng nhau tổ chức một hội nghị quốc tế để tiếp tục bàn về vấn đề biến đổi khí hậu.
Năm 1989, Chương trình mơi trường Liên Hiệp Quốc tiến hành hội nghị quốc tế
về môi trường tại La Haye (Hà Lan), kết quả thu được từ hội nghị là Tuyên bố La Haye.
Tuyên bố La Haye kêu gọi thành lập một cơ quan quốc tế chuyên về các vấn đề liên quan
đến hiện tượng biến đổi khí hậu (cơ quan này trực thuộc tổ chức Liên Hiệp Quốc), đồng

thời xây dựng những văn bản pháp lý quốc tế cần thiết để đảm bảo các hoạt động chống
lại xu hướng khí hậu biến đổi được tiến hành đúng như những thỏa thuận đạt được.
Đến tháng 6/1992, Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Môi trường và
Phát triển diễn ra tại Rio De Janeiro (Brazin). Hội nghị khẳng định lại Tuyên bố
Stockholm, đồng thời tìm cách phát huy những cam kết mà các quốc gia đã đạt được từ
hội nghị đó. Năm văn kiện quan trọng về vấn đề môi trường được thông qua tại Hội nghị
Rio De Janeiro, trong đó có Cơng ước khung về khí hậu biến đổi.21 Cơng ước khung về
khí hậu biến đổi là điều ước quốc tế toàn diện nhất về vấn đề biến đổi khí hậu. Cơng ước
xác định rõ mục tiêu của các quốc gia ký kết là nhằm đạt được:
Sự ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn
ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu. Mức
đó phải đạt tới trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích
nghi một cách tự nhiên với sự thay đổi khí hậu, bảo đảm rằng việc sản xuất lương
thực khơng bị đe dọa và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiến triển một cách
lâu bền. 22
Công ước khung thừa nhận biến đổi khí hậu là vấn đề mang tính tồn cầu, kêu gọi
các nước tiến hành ngay các hoạt động cụ thể, phù hợp và kịp thời nhằm giảm bớt sự ảnh
hưởng tiêu cực của hiện tượng khí hậu biến đổi, bên cạnh đó, Cơng ước khung cũng nhấn
mạnh một vấn đề không kém phần quan trọng đó là việc ứng phó với tình hình khí hậu
21

Năm văn kiện này là: Cơng ước khung về khí hậu biến đổi, Công ước khung về đa dạng
sinh học, Tuyên bố về các nguyên tắc về rừng, Tuyên bố Rio, Chương trình nghị sự 21.
22

Điều 2/ Cơng ước khung về khí hậu biến đổi của Liên Hiệp Quốc.
17


biến đổi hiện nay tuy là trách nhiệm chung của cả thế giới nhưng chúng ta phải tôn trọng

nguyên tắc trách nhiệm phổ biến song có sự phân biệt (nguyên tắc số 7/ Tuyên bố Rio).
Hội nghị Rio De Janeiro nhấn mạnh nguyên tắc này vì họ nhận thấy:
Phần lớn nhất phát thải các khí nhà kính tồn cầu trong lịch sử và hiện tại
bắt nguồn từ nước phát triển, rằng sự phát thải trên đầu người ở các nước đang
phát triển còn tương đối thấp và rằng phần phát thải toàn cầu bắt nguồn từ các
nước đang phát triển sẽ tăng để đáp ứng nhu cầu phát triển và xã hội của mình.23
Căn cứ vào tình hình thực tế đang diễn ra, các nước phát triển là thủ phạm chính
gây nên hiện tượng trái đất nóng dần lên nhưng người gánh chịu hậu quả nặng nề nhất lại
là những nước thuộc thế giới thứ ba, những nước này sẽ phải gánh trên vai cùng một lúc
hai vấn đề: vấn đề thứ nhất là những tác động đến từ hiện tượng khí hậu biến đổi, vấn đề
thứ hai đó là thực hiện “trách nhiệm chung” của mình. Để đảm bảo hiệu quả cho tiến
trình chống lại sự nóng dần lên của trái đất cũng như thực hiện mục tiêu phát triển thế
giới, các nước phát triển cần đi đầu trong việc đấu tranh chống thay đổi khí hậu đồng thời
đẩy mạnh sự hợp tác, tương trợ đối với các nước đang phát triển.
Mặc dù đây là văn bản pháp lý tồn diện nhất về vấn đề khí hậu biến đổi nhưng
Cơng ước khung về thay đổi khí hậu vẫn chưa ghi nhận được một nội dung hết sức quan
trọng, giúp Cơng ước có thể được thực thi trên thực tế, đó là danh sách cụ thể các khí nhà
kính cần kiểm sốt và lộ trình giảm phát thải các chất khí đó vào khí quyển. Sự hạn chế
này làm cho Cơng ước khung khơng thể hồn thành trọn vẹn sứ mệnh của mình.
Sau khi Cơng ước khung về biến đổi khí hậu ra đời mà khơng kèm theo “cuốn
sách hướng dẫn” của mình, hàng loạt các hội nghị quốc tế đã được tổ chức nhằm cụ thể
hóa các nội dung của Công ước khung, quy định chỉ tiêu cắt giảm khí nhà kính đối với
từng quốc gia và đề ra các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính. Nỗ lực này được đền
đáp bởi kết quả thu được tại hội nghị Kyoto.
Hội nghị Kyoto (tháng 12/1997):
Tại hội nghị, các bên đã thơng qua một văn kiện mang tính lịch sử, đó là Nghị định
thư Kyoto. Nghị định thư Kyoto là văn bản pháp lý bổ sung và cụ thể hóa một số nội
dung trong Cơng ước khung về biến đổi khí hậu. Nội dung của Nghị định thư Kyoto sẽ
23


Cơng ước khung về khí hậu biến đổi của Liên Hiệp Quốc.
18


được phân tích cụ thể hơn trong phần sau của bản luận văn, sau đây, tác giả tóm lược một
số nội dung chính của Nghị định thư.
Cũng như Cơng ước khung, Nghị định thư Kyoto khẳng định lại nguyên tắc trách
nhiệm phổ biến song có sự phân biệt. Theo nguyên tắc này, trách nhiệm ứng phó với sự
nóng lên của bề mặt trái đất là trách nhiệm chung của các nước, nhưng có sự phân biệt
dựa trên mức độ phát triển kinh tế và mức phát thải khí nhà kính vào khí quyển của các
quốc gia.
Trong Nghị định thư, các quốc gia công nghiệp cam kết trong thời kỳ cam kết đầu
tiên (từ năm 2008 đến 2012) sẽ giảm ít nhất 5% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính so
với tổng mức phát thải của họ vào năm 1990.24 Tính đến 01/6/2009, có 184 nước phê
chuẩn Nghị định thư nhưng nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính chỉ ràng buộc đối với 37
nước công nghiệp (hạn ngạch phát thải của 37 nước công nghiệp được quy định cụ thể
trong phụ lục B/ Nghị định thư Kyoto).25 Đối với các nước đang phát triển thì khơng bắt
buộc phải thực hiện nghĩa vụ này, họ được khuyến khích tham gia ứng phó với xu hướng
khí hậu biến đổi bằng cách tham gia vào cơ chế phát triển sạch (CDM) nhằm tìm kiếm và
thực hiện các biện pháp, phương thức phát triển mới thân thiện hơn với môi trường để đạt
được sự phát triển kinh tế và xã hội bền vững. Nghị định thư Kyoto dành khá nhiều sự ưu
ái đối với các nước đang trong giai đoạn phát triển vì tại hội nghị, các quốc gia tham dự
nhận thức được rằng nếu họ trói buộc ngay lập tức nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính
vào nhóm nước đang phát triển thì sẽ đánh đồng với việc đẩy lùi lại những nỗ lực mà
nhân loại đã cố gắng trong nhiều năm qua nhằm tìm ra giải pháp giải quyết vấn đề khí
hậu thay đổi. Để thực hiện được nhiệm vụ giảm phát thải khí nhà kính, mỗi quốc gia cần
có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nhiều mặt, như kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật… Nếu
khơng đáp ứng được những điều kiện cần thiết đó thì họ sẽ chẳng thể làm gì trước những
yêu cầu của Nghị định thư. Việc thực hiện Nghị định thư trong giai đoạn này là hết sức
24


Nghị định thư Kyoto khơng kiểm sốt hết các chất gây hiệu ứng nhà kính mà chỉ kiểm sốt
đối với các chất khí nhà kính điển hình. Nghị định thư Kyoto quy định sáu khí nhà kính cần kiểm
soát, gồm: SF6, PFCc, HFCs, N2O, CH4, CO2.
25

Trang web của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu:
http://64.233.189.132/translate_c?hl=vi&sl=en&u=http://unfccc.int/kyoto_protocol/items/2830.
php&prev=/search%3Fq%3D%2522UFNCC%2522%26hl%3Dvi%26sa%3DN%26as_qdr%3D
all&rurl=translate.google.com.vn&usg=ALkJrhi6speMfIAr7OdrvKTudFPl8YogFw
19


quan trọng nhưng mục tiêu phát triển bền vững cũng là vấn đề quan trọng không kém.
Nhằm thực hiện tốt cả hai nhiệm vụ nói trên, các quốc gia thỏa thuận với nhau cần cho
các nước đang phát triển một khoảng thời gian hợp lý trước khi chính thức ràng buộc họ
với nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính.
Bên cạnh việc quy định về danh mục các chất khí nhà kính cần kiểm sốt và hạn
ngạch phát thải dành cho các nước cơng nghiệp thì Nghị định thư Kyoto còn đưa ra ba cơ
chế quan trọng giúp thực hiện Nghị định thư, đó là các cơ chế: “Emissions Trading” (ET,
còn gọi là cơ chế mua bán quyền phát thải), “Joint Implementation” (JT, còn gọi là cơ
chế cùng thực hiện) và “Clean Development Mechanism” (CDM, còn gọi là cơ chế phát
triển sạch). Trong ba cơ chế thì cơ chế CDM là cơ chế đang được các quốc gia tiến hành
phổ biến nhất (trong đó có Việt Nam). Sự ra đời của ba cơ chế này giúp cho các quốc gia
công nghiệp có thể linh hoạt hơn khi thực hiện nghĩa vụ của mình đồng thời tạo điều kiện
để các nước phát triển quan hệ hữu nghị, đặc biệt là giữa các nước công nghiệp và các
nước đang phát triển.
1.2/ Quá trình phát triển Nghị định thư KYOTO
Nghị định thư Kyoto quy định cụ thể điều kiện phát sinh hiệu lực. Theo đó, chúng
ta có thể chia điều kiện này thành hai nhóm: điều kiện về số lượng quốc gia phê chuẩn

Nghị định thư và điều kiện liên quan đến lượng khí nhà kính bị phát thải vào khí quyển.
Cụ thể là:
- Điều kiện 1 (điều kiện về số lượng quốc gia phê chuẩn Nghị định thư): Nghị định
thư có hiệu lực khi có ít nhất 55 bên của Cơng ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến
đổi khí hậu phê chuẩn (có thể gọi đây là điều kiện cần).
- Điều kiện 2 (điều kiện liên quan đến lượng khí nhà kính phát thải vào khí
quyển): lượng khí nhà kính của các nước công nghiệp (là các nước thuộc phụ lục I/ Cơng
ước khung về biến đổi khí hậu) đã tham gia phê chuẩn Nghị định thư phải bằng ít nhất
55% tổng lượng phát thải khí nhà kính của tất cả các nước trong phụ lục I, trên cơ bản
năm 1990 (đây là điều kiện đủ).
Đây là những điều kiện cần và đủ để Nghị định thư Kyoto chính thức phát sinh
hiệu lực, hay nói cách khác, Nghị định thư chỉ có thể “sống” khi hội đủ cả hai điều kiện.
Những điều kiện làm phát sinh hiệu lực của Nghị định thư được đặt ra nhằm đảm bảo
việc áp dụng Nghị định thư là khả thi và có hiệu quả: khi có từ 55 bên của Cơng ước
20


khung về biến đổi khí hậu tham gia ký kết, điều này chứng tỏ Nghị định thư đã có tầm
ảnh hưởng nhất định lên trường quốc tế, tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ đặt ra điều kiện về số
lượng quốc gia tham gia ký kết Nghị định thư thì nó vẫn chưa thể mang lại cho con người
một cái nhìn khả quan rằng thông qua việc thực hiện Nghị định thư, con người có thể hạn
chế một cách hiệu quả sự nóng dần lên của bề mặt trái đất; khí hậu biến đổi xuất phát từ
việc con người thúc đẩy làm cho hiện tượng hiệu ứng nhà kính diễn ra quá mức, để làm
dịu đi hiện tượng này, chúng ta khơng cịn cách nào khác là hạn chế phát thải khí nhà
kính. Vấn đề đặt ra ở đây là lượng khí nhà kính cần kiểm sốt phải đạt đến mức nào, vì
vậy, hội nghị thống nhất lựa chọn con số 55% tổng lượng phát thải khí nhà kính của tất cả
các nước trong phụ lục I/ Công ước khung, trên cơ bản năm 1990 để làm ngưỡng cửa đưa
Nghị định thư vào cuộc sống, đảm bảo việc thực hiện Nghị định thư là có hiệu quả.
Ra đời từ tháng 12/1997 nhưng mãi đến 16/02/2005, Nghị định thư Kyoto mới
chính thức phát sinh hiệu lực. Trong gần một thập kỷ, Nghị định thư trở thành tâm điểm

của các cuộc tranh luận giữa nhiều quốc gia.
Tháng 3/2001, tổng thống Mỹ George Bush giáng một đòn mạnh mẽ lên Nghị
định thư Kyoto khi ông tuyên bố Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Nghị định thư. Quyết định của tổng
thống George Bush gặp phải sự chỉ trích từ nhiều nước trên trên thế giới: Australia, Anh,
Đức, Thụy Điển… Ban đầu, Mỹ là một trong những người khởi xướng nên sự ra đời của
Nghị định thư Kyoto nhưng sau khi nhận nhiệm vụ của mình (theo Nghị định thư, Mỹ
phải giảm 7% lượng khí nhà kính bị phát tán do các hoạt động công nghiệp của nước này
đã xả vào khí quyển trái đất một lượng khí nhà kính khổng lồ, chiếm đến 25% tổng
lượng khí cacbonic tồn cầu)26 thì Mỹ quyết định dừng bước, khơng đồng hành cùng
Nghị định thư nữa. Theo quan điểm mà chính quyền Mỹ đưa ra thì Nghị định thư Kyoto
khơng công bằng khi ấn định trách nhiệm cho Mỹ, sự khơng cơng bằng đó thể hiện ở hai
điểm:
- Nghị định thư chỉ đặt ra trách nhiệm giảm thải khí nhà kính đối với các nước
cơng nghiệp mà khơng đặt vấn đề ràng buộc đối với các nước đang phát triển, các nước
đang phát triển cịn được hỗ trợ tài chính để giảm ô nhiễm và giải quyết hậu quả do biến
đổi khí hậu gây ra. Bên cạnh đó, Mỹ cũng đặt vấn đề tại sao các nước đang xả rất nhiều
26

Đoan Trang (2001), “Thế giới phản đối việc Mỹ rút khỏi Kyoto1997”, Tạp chí Việt
Báo:http://vietbao.vn/Khoa-hoc/The-gioi-phan-doi-viec-My-rut-khoi-Kyoto1997/10717189/188/
21


khí nhà kính vào khí quyển như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazin lại khơng chịu chung trách
nhiệm giảm thải khí nhà kính.
- Thứ hai, Hoa Kỳ chỉ trích Nghị định thư Kyoto vì đã nhận định Hoa Kỳ là nước
gây ô nhiễm nhiều nhất thế giới mà không dựa trên bất kỳ bằng chứng hay cơ sở khoa
học nào. Đồng thời, tổng thống George Bush lo ngại nền kinh tế Mỹ chủ yếu dựa vào các
nguồn nguyên liệu hóa thạch và các chất khác thường thải ra nhiều khí cacbonic gây hiệu
ứng nhà kính, nếu Mỹ tán thành Nghị định thư Kyoto thì đồng nghĩa với việc Mỹ phải cắt

giảm sử dụng nguồn nguyên liệu này để thực hiện việc giảm thải, như vậy, sẽ ảnh hưởng
rất lớn đến nền kinh tế Mỹ.
Với tư cách là “ông trùm” trong vấn đề thải khí nhà kính, việc Mỹ rút khỏi Nghị
định thư Kyoto làm cho Nghị định thư rơi vào nguy cơ khơng thể thực hiện được, vì: đến
năm 2001, kế sau Mỹ trong vấn đề thải khí nhà kính là Nga-chiếm 17% lượng khí thải
tồn cầu-nhưng Nga vẫn chưa tiến hành phê chuẩn Nghị định thư.27 Do đó, tuy chúng ta
thỏa mãn được điều kiện thứ nhất thì hiệu lực của Nghị định thư vẫn bị “treo”. Điều này
có thể được giải thích bằng một bài tốn đơn giản như sau: năm 2001, Mỹ và Australia
phát thải hơn 1/3 tổng lượng khí gây hiệu ứng nhà kính trên tồn cầu (tức hơn 33,33%)28,
và Nga thì chiếm 17% tổng lượng khí nhà kính tồn cầu, dẫn đến lượng phát thải mà
những nước này chiếm giữ là khoảng 50,33% tổng lượng khí thải toàn cầu; trong thời
gian này, ngoài Mỹ đã thể hiện rõ ràng quan điểm của mình đối với Nghị định thư Kyoto
thì các nước cơng nghiệp khác (cũng nằm trong top dẫn đầu về thải khí nhà kính) như
Nga, Australia, Monaco... cũng đều chưa muốn bị ràng buộc với Nghị định thư. Vậy, dù
tất cả các nước công nghiệp khác trở thành thành viên của Nghị định thư Kyoto thì Nghị
định thư vẫn khơng thể phát sinh hiệu lực vì lượng khí thải mà họ chiếm giữ chỉ mới gần
50% (không đáp ứng điều kiện 2).
Sau chấn động gây ra từ Mỹ, nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức nhằm kêu gọi
các nước hãy quan tâm và cùng nhau hiện thực hóa Nghị định thư Kyoto dù khơng có sự
tham gia của Mỹ. Tại hội nghị các bên lần thứ sáu tổ chức tại Bonn (Đức) từ ngày 16 đến
27/7/2001, các nước đã thông qua Thỏa thuận Bonn. Đây là một thỏa thuận mới có liên
27

Minh Thương (2006), “Nghị định thư Kyoto có hiệu lực vào ngày 16/2/2005”, Tạp
chí Con người và thiên nhiên: http://www.thiennhien.net/?c=135&a=1107
28

Xem chú thích 2 ở trên, tr 215.
22



×