Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

Một vài đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết milan kundera

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (440.85 KB, 15 trang )

Một vài đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết
Milan Kundera


Nguyễn Thị Lan Anh


Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Lý luận văn học; Mã số: 60 22 32
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Thành Hưng
Năm bảo vệ: 2012


Abstract. Chỉ ra những nét độc đáo, riêng biệt trong thế giới nghệ thuật và trong
quan niệm về sáng tác của nhà văn Milan Kundera. Khẳng định vị trí của nhà văn và
những đóng góp mới mẻ của ông đối với nền văn học thế giới Hậu hiện đại, đặc biệt
là trong thể loại tiểu thuyết.

Keywords. Văn học Pháp; Lý luận văn học; Tiểu thuyết

Content
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Milan Kundera (viết tắt M.Kundera) sinh năm 1929 tại Brno, Tiệp Khắc, ông là một
tên tuổi nổi tiếng của nền văn học Pháp hiện đại nói riêng và thế giới nói chung. Ông cũng
từng được đề nghị trao giải thưởng Nobel văn học.
M.Kundera sáng tác thơ, tiểu luận, kịch và tiểu thuyết. Nhưng chủ yếu ông để lại dấu
ấn trong lĩnh vực tiểu thuyết và một số tiểu luận và đã được trao nhiều giải thưởng văn học
khác nhau.
Không thể phủ nhận những đóng góp của M.Kundera cho nền văn học nói chung và
cho tiểu thuyết nói riêng. Với tiểu thuyết, đóng góp của ông chính là đã mang lại cho thể loại


này một sắc diện mới. Cùng với đó là sự khẳng định sức sống và tầm quan trọng không thể
thay thế của tiểu thuyết.
Với những đặc điểm trên, việc nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá về nhà văn
M.Kundera là điều vô cùng cần thiết. Với mong muốn bước đầu tìm hiểu Một vài đặc
điểm nghệ thuật tiểu thuyết của Milan Kundera, chúng tôi mong muốn tìm hiểu về vai
trò của nhà văn này trong nền văn học hiện đại Pháp và thế giới, phần nào đánh giá được
tình trạng thực tế của nền văn học hiện đại nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
M.Kundera được xem như là một “hiện tượng” của văn học hậu hiện đại. Tuy đã có
nhiều công trình nghiên cứu về M.Kundera trong và ngoài nước, nhưng tiểu thuyết, truyện
ngắn và các chuyên luận của M.Kundera vẫn là một “vùng đất hoang” giàu tiềm năng để khai
thác, khám phá. Vì lý do đó, chúng tôi hi vọng luận văn này sẽ rút ra được những vấn đề lý
luận qua việc khám phá Một vài đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Milan Kundera.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ góp một tiếng nói khẳng định vị trí của nhà văn và những đóng góp mới
mẻ của ông đối với nền văn học thế giới Hậu hiện đại, đặc biệt là trong thể loại tiểu thuyết.
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận (đã được dịch sang tiếng Việt) của
nhà văn M.Kundera, trong đó tiểu thuyết chiếm đa số: phạm vi nghiên cứu chính.
Ngoài ra, chúng tôi còn xem xét một số tác phẩm của các nhà văn khác (cùng thời
hoặc khác thời) để đối chiếu so sánh.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi tiếp cận tác phẩm từ nhiều phương pháp khác nhau như: thi
pháp học, thống kê - phân loại, so sánh - đối chiếu, phân tích - tổng hợp và các phương pháp
liên ngành khác để có thể tiếp cận về các hình thức nghệ thuật của nhà văn này một cách tổng
quan, chính xác hơn.
5. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần, ngoài phần mở đầu và kết luận, thư mục tham khảo, nội dung
chính gồm ba chương:

Chương 1: Kết cấu tiểu thuyết Milan Kundera
Chương 2: Nhân vật trong tiểu thuyết của Milan Kundera
Chương 3: Ngôn ngữ tiểu thuyết Milan Kundera

B. NỘI DUNG

CHƢƠNG 1: KẾT CẤU TIỂU THUYẾT M.KUNDERA
1.1. Khái niệm kết cấu
1.1.1. Khái niệm
“Các tác phẩm văn học không chỉ khác nhau về chất liệu hiện thực”, “mà còn khác nhau về
cách bố trí sắp xếp, tổ chức sự xuất hiện của chất liệu hiện thực đó trong tác phẩm; khác nhau về
cách bố cục tác phẩm”… “Cách tổ chức bên trong và bên ngoài tác phẩm như vậy được gọi là kết
cấu” [5, tr.142]
Như vậy, “kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm,
là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời
sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định” [5, tr.143].
1.1.2. Tiểu thuyết và một số hình thức kết cấu của tiểu thuyết
Từ thủa sơ khai tiểu thuyết, chúng ta đã biết đến kiểu kết cấu chương hồi. Sau đó, tiểu
thuyết xuất hiện các hình thức kết cấu sau: kết cấu tâm lý, kết cấu đơn tuyến, kết cấu song
tuyến và kết cấu đa tuyến. Ngoài ra, còn một số hình thức kết cấu khác như kết cấu luận đề,
kết cấu theo trục nằm ngang…
1.2. Kết cấu tiểu thuyết Milan Kundera
1.2.1. Kết cấu con số 7 – kết cấu âm nhạc
Theo M.Kundera, ông thật sự không hề ngạc nhiên nếu như mỗi khi hoàn thành một
cuốn sách nào đó, hầu hết chúng đều kết thúc với 7 chương, 7 phần (đối với tiểu thuyết) và 7
truyện ngắn (đối với tuyển tập truyện ngắn).
Như một sự bức thiết của cảm giác, số 7 hiện diện trong hầu hết các tác phẩm của
M.Kundera. Nó khiến các tác phẩm mang âm hưởng của một bản nhạc khi duyên dáng, lúc
mạnh mẽ, khi ngẫu hứng, lúc quấn quýt với những nốt nhạc hòa quyện trong một bản hòa âm
không thể tách rời. Mỗi chương, mỗi phần là một nốt nhạc khác nhau hòa chung tạo thành một

bản nhạc hoàn chỉnh.
Nếu coi phần/chương có độ dài nhất là cung trầm nhất (Đồ), thì phần/chương ngắn
nhất sẽ là nốt Si (trong bảy nốt nhạc Đồ, Rê, Mi, Pha, Sol, La, Si). Dựa trên sự tương ứng
này, chúng ta thấy được độ dài, ngắn, nhanh, chậm của mỗi chương trong tiểu thuyết có ý
nghĩa thế nào đối với việc chiếu sáng nhân vật và qua đó, bộc lộ quan điểm của nhà văn về
lối xây dựng kết cấu.
Chúng ta nhận thấy một điều rằng, với những chương có nốt cao La và Si,
M.Kundera muốn giới thiệu, bộc lộ tính cách nhân vật một cách thật nhanh, gọn, dứt
khoát với những tình huống mà sự việc diễn ra trong khoảng thời gian ngắn. Còn ở những
chương dài hơn với nốt trầm Đồ, Rê, nhân vật được “khám phá” một cách từ từ, với thời
gian quy tụ từ quá khứ, hiện tại với tương lai. Những “khoảng lặng” để các nhân vật
ngừng lại, chăm chú tự soi vào trong chính bản ngã của mình đã tạo nên chiều sâu và thực
tính. Mạch truyện lặng là lắng lại như một nốt trầm nhấn nhá cho toàn bản nhạc. Bị mê
hoặc bởi nốt trầm ngân nga ấy, độc giả cũng sẽ có cơ hội tự suy tư và nhìn nhận lại chính
bản thân mình.
Điều đáng chú ý, là ở kết cấu 7 nốt nhạc này, M.Kundera vô tình mà lại dường như có
chủ ý, đó là sự tương ứng giữa kết cấu, mà M.Kundera gọi đó là “đối âm”. Trong các tác
phẩm, phần 4 ở giữa luôn là nốt nhạc tập trung chủ đề chính cho 6 nốt nhạc còn lại. Và 6 nốt
nhạc còn lại ấy sẽ đối xứng với nhau qua phần 4 là nốt nhạc trung tâm.
Kết cấu con số 7 – kết cấu âm nhạc này còn liên quan tới các cấu trúc toán học
không-chủ-ý khác. Nó thể hiện ở việc sử dụng các con số để đánh dấu các phần, các chương;
và thể hiện ở đặc điểm: ứng với tỷ lệ xuất hiện, độc thoại, nhân vật sẽ được “chiếu sáng” đến
mức nào.
Kết cấu con số 7 – kết cấu âm nhạc, cũng đồng thời là cấu trúc toán học là một trong
những cách tân mới không dễ bị trộn lẫn của M.Kundera cho hình thức của tiểu thuyết.
1.2.2. Tính cô đặc và đa âm
Tính cô đặc và tính đa âm tưởng như là hai thủ pháp đối lập nhau và không thể tồn tại
trong cùng một không gian văn bản. Nhưng ở các tác phẩm của M.Kundera, chúng không
những cùng hiện diện mà còn song hành, bổ sung lẫn nhau tạo nên hiệu ứng kết cấu độc đáo.
1.2.2.1. Tính cô đặc

M.Kundera khẳng định: “Tôi nghĩ rằng để nắm bắt được tính phức tạp của cuộc sống
cần có một kỹ thuật tinh lược, cô đặc” [37, p.4].
Tính cô đặc trước hết thể hiện ở việc nhà văn xây dựng nhiều tuyến cốt truyện trong
một tác phẩm, để đưa chúng về cùng một chủ đề chung bao quát. Ở mỗi phần, nhà văn lại có
chủ ý đưa vào đó những ý nghĩa riêng, mà nếu hoàn toàn đứng tách ra, thì có thể viết thành
một cuốn tiểu thuyết mới.
Sách cười và lãng quên có bảy phần, và cũng như Sự bất tử, M.Kundera đã có thể
xây dựng nên bảy cuốn tiểu thuyết khác nhau. Nhưng với mong muốn thâu tóm, “cô đặc”
chúng lại trong một tổng thể hoàn hảo, nhà văn đã tập hợp bảy “chương” tiểu thuyết ấy thành
một cuốn tiểu thuyết gọn gàng. Những mối tình nực cười tuy là bảy truyện ngắn khác nhau,
nhưng chúng cũng được cô đặc lại trong một chủ đề chung: Thân phận con người và sự thật
nhiều mặt của con người.
Tiếp theo, tính cô đặc thể hiện ở chỗ nhà văn cắt bỏ hết những thứ rườm rà: quá khứ,
tên tuổi của nhân vật, bối cảnh lịch sử…
Nhân vật của M.Kundera hầu như không có tiểu sử, không có quá khứ, không
chính xác ở độ tuổi bao nhiêu và ông cũng chẳng mô tả kỹ hình dáng bên ngoài, cử chỉ,
phong cách của nhân vật. Thậm chí, có những nhân vật chỉ được gọi bằng những cái
tên-không-phải-tên, như anh F, cô A, cô B, cô C, cô D, cô G (Sự bất tử).
Sự cô đặc này còn thể hiện rõ nét trong việc nhà văn lược bỏ đi các sự kiện chính trị
trong các tác phẩm của mình. Trong Đời nhẹ khôn kham, sự kiện Mùa xuân Praha 1968
tuy có được nhà văn nhắc đến, nhưng chỉ sơ qua để diễn tả lại việc thân phận con người
chịu sự tác động của lịch sử.
Thủ pháp cô đặc còn giúp người đọc nhanh chóng nắm bắt được ý đồ của tác giả,
khiến người đọc tự do phát huy trí tưởng tượng của riêng mình. Đặc điểm này khiến tác phẩm
của M.Kundera mang tính gợi mở, cũng đồng thời chứng tỏ sự sâu sắc và quan điểm vô cùng
hiện đại của nhà văn. Giống như nguyên lý “tảng băng trôi” – những gì M.Kundera tạo ra,
nếu chỉ đơn thuân đọc thì sẽ chỉ nhận thấy ba phần nổi trên mặt nước. Bảy phần còn lại, và
cũng là những phần quan trọng nhất, độc giả sẽ tự tìm tòi, khám phá. Đó chính là sự tôn trọng
mà M.Kundera dành cho độc giả
Bằng thao tác giản lược những tên địa danh, tên nhân vật và các sự kiện lịch sử,

M.Kundera đã đưa người đọc đến gần hơn “sự hiền minh”, xóa đi rào cản để người đọc dễ
tiếp nhận tác phẩm của mình hơn.
1.2.2.2. Tính đa âm
M.Kundera cho rằng: “Đa âm trong âm nhạc là lối triển khai đồng thời hai hay
nhiều giọng (tuyến giai điệu), những giọng này tuy hoàn toàn gắn liền vào nhau song vẫn giữ
được tính độc lập tương đối của chúng. Còn đa âm tiểu thuyết? Trước hết hãy nói cái ngược
đã: cấu trúc một dòng. Nhưng ngay từ đầu lịch sử của mình, tiểu thuyết đã tìm cách thoát ra
khỏi tính một dòng và mở ra những đột phá trong dòng kể liên tục một câu chuyện” [37, p.4]
Và ví dụ mà M.Kundera nêu ra giải thích gọn gàng và rõ ràng định nghĩa thế nào là
tính đa âm. Ông còn nêu ví dụ về tác phẩm Lũ người quỷ ám của Dostoievski. Tác phẩm
gồm ba tuyến phát triển đồng thời và có thể xây dựng nên ba cuốn tiểu thuyết độc lập.
Điều này xảy ra tương tự với Sự bất tử. Có những tuyến nhân vật không hề liên quan đến
nhau cả về suy nghĩ lẫn thời đại, do đó có thể chia thành các cuốn tiểu thuyết khác nhau
như: Câu chuyện xung quanh cuộc đời Agnés là ở thời hiện đại, với những trăn trở về
“khuôn mặt riêng mình” với “khuôn mặt bản thể”. Câu chuyện xung quanh mối tình
Goethe và Bettina, câu chuyện giữa Goethe với Napoleon, với Hemingway diễn ra ở một
thời đại khác ở thời quá khứ…
Tính đa âm thể hiện ở việc nhà văn đưa vào cùng một tác phẩm nhiều thể loại như
phóng sự, thơ, tiểu luận, truyện ngắn và tiểu thuyết. Hiện tượng này xảy ra ở rất nhiều tác
phẩm của M.Kundera. Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiểu thuyết của
M.Kundera có tính tiểu luận và các tiểu luận của ông thì lại mang tính tiểu thuyết.
Không chỉ tiểu thuyết mang tính tiểu luận hay tiểu luận mang tính tiểu thuyết,
các tập truyện ngắn của M.Kundera cũng mang tính tiểu thuyết rõ rệt. Những mối tình
nực cười tuy là bảy truyện ngắn riêng biệt, nhưng cả tập truyện ngắn cũng có thể coi là
một cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh, được xuyên suốt với truyện ngắn trung tâm Tranh
biện để nói về thân phận và sự thật về sự nhiều mặt của con người.
Tương tự, Sách cười và lãng quên được xây dựng trên các thể loại như: tiểu luận
(phê bình một số cuốn sách theo chủ nghĩa nữ quyền) và truyện ngắn (câu chuyện về Eluard,
câu chuyện về Tamina…) và nhiều câu chuyện khác. Chúng minh bạch, độc lập song vẫn
nằm trong cùng một kết cấu tiểu thuyết bởi chúng xoay quanh chủ đề về thiên thần.

Tính đa âm còn thể hiện ở việc tác giả đưa nhiều kiến thức vào cùng một tác phẩm.
Nổi bật nhất là kiến thức về âm nhạc, tiếp đó là những kiến thức về lịch sử, chính trị, tôn
giáo, phân tâm học và khoa học kỹ thuật. Đời nhẹ khôn kham mang tính đậm đặc của tri
thức. Đó là những tri thức tổng hợp và kinh điển về lịch sử, ngôn ngữ, triết học, tôn giáo,
khoa học và nghệ thuật. Tính hàn lâm trong tác phẩm này khiến người đọc không khỏi thán
phục sự sắp xếp khéo léo, gọn gàng của nhà văn khi xử lý cùng một lúc rất nhiều mảng kiến
thức khác nhau như vậy.
Mặc dù nguyên tắc của M.Kundera là lược bỏ đi những cái rườm rà của các sự
kiện lịch sử và chính trị của xã hội Tiệp Khắc, và ông không muốn làm công việc của
các sử gia – là người chép sử; song người đọc vẫn dễ dàng nhận ra những bộ phông lịch
sử to lớn âm thầm mà dữ dội cuốn xoáy con người vào những biến động không ngờ, làm
thay đổi cả cuộc đời, tâm tư suy nghĩ của họ.
Triết học có ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm của M.Kundera, đặc biệt là triết
học phương Tây, mà tiêu biểu là triết học Nietzsche với tâm thức thời hiện đại cùng học
thuyết Freud về phân tâm học và cái nhìn mới về con người. Bên cạnh đó còn là những
suy nghiệm của Heidegger về tính hiện thể, vong tính.
Hàng loạt những kiến thức khoa học khác cũng có mặt trong tác phẩm của
M.Kundera. Những tiến bộ vượt bậc của khoa học, như nhiếp ảnh với những ống kính, như
những thiết bị nghe trộm, như những máy quay camera. Rồi hội họa với suy nghĩ của các
nghệ sĩ với những phong cách khác nhau qua từng thời kỳ; những tiến bộ của y học; những
buổi hội thảo công bố các phát minh, các công trình nghiên cứu về sinh học của các nhà sinh
vật học.
Tóm lại, những đổi mới về mặt kết cấu đã tạo nên tính mới mẻ riêng biệt và độc
đáo trong thủ pháp của M.Kundera. Trong đó, việc đưa âm nhạc vào kết cấu tác phẩm
chính là đỉnh cao trong sáng tạo của M.Kundera. Những đổi mới về kết cấu không chỉ liên
quan tới hình thức tác phẩm, mà còn thông qua đó chiếu sáng nội dung, giúp nhà văn lột
tả được thân phận con người cùng tính nhiều mặt, sự mất phương hướng của họ trong xã
hội. Cũng thông qua lối kết cấu ấy, nhà văn đã phần nào thực hiện được những quan điểm
của mình về việc đổi mới và những nhiệm vụ của tiểu thuyết thời hiện đại.


CHƢƠNG 2: NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MILAN KUNDERA
2.1. Khái niệm nhân vật
“Nhân vật trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải
là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua
những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách” [5, tr.126]. “Cũng có khi đó
không phải là những con người, sự vật cụ thể, mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc có
liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm…” [5, tr.126].
Qua các chặng đường phát triển của văn học, cách xây dựng nhân vật trong tiểu
thuyết có sự chuyển biến rõ rệt: từ không gian hướng ngoại tới không gian hướng nội. Từ đơn
thuần mô tả hình dáng, hành động đến phức tạp hơn, là đi sâu khám phá tâm tư và những diễn
biến nội tâm.
Ở M.Kundera và những nhà văn thế kỷ XX, khi họ cùng chịu ảnh hưởng của những tư
tưởng triết học hiện đại của một số triết gia như Nietzsche, Heidegger… và ảnh hưởng bởi phân
tâm học Freud, cùng với đó là sự “xâm phạm” của khoa học kỹ thuật vào mọi ngõ ngách của đời
sống mỗi con người, thì cách xây dựng nhân vật của họ cũng có sự đổi mới theo hướng hiện đại,
hầu như khác biệt với các lối xây dựng nhân vật trước đây.
2.2. Nhân vật trong tiểu thuyết của Milan Kundera
2.2.1. Khắc họa nhân vật từ những nét nhỏ của hình dáng và cử chỉ
Nhân vật trong tiểu thuyết của M.Kundera không được giới thiệu rõ nguồn gốc, thân
phận, nơi sinh, quá trình trưởng thành từ bé tới hiện tại. Đặc điểm này khác hẳn với cách
miêu tả nhân vật ở các nhà văn khác. Tiêu biểu cho lối giới thiệu nhân vật một cách kỹ lưỡng
đến tỉ mỉ là Balzac. Nhân vật của ông được miêu tả rõ đến từng yếu tố: luôn có tên đầy đủ,
được miêu tả cụ thể từ ngày sinh, nơi sinh cho đến tuổi tác, hình thức và tính cách.
Không rõ tuổi tác, chẳng biết nơi sinh, quá khứ hay tuổi thơ cũng không được nhà văn
chú tâm khắc họa, nhân vật của M.Kundera hiện lên rất sơ sài trong những nét chấm phá,
nhưng vẫn để lại thật nhiều ấn tượng, thậm chí là những ám ảnh trong lòng người đọc.
Chúng ta có thể lấy ví dụ về hai chị em Agnes trong Sự bất tử. Khi miêu tả về vóc
dáng của Agnés, chỉ cần qua hình ảnh những mũi tên, M.Kundera đã hoàn toàn lột tả được
những tâm tư, diễn biến và tính cách của nàng. Đây là mũi tên tính cách Agnés:



“Thân thể vươn lên như ngọn lửa. Còn cái đầu thường xuyên cúi xuống: một đầu óc hoài
nghi nghiêng xuống mặt đất” [30, tr.327].
Chỉ với những chi tiết hết sức đơn giản và dường như mơ hồ của những mũi tên, cái
vẫy tay duyên dáng, của hình ảnh cô gái cầm nhành lưu ly đi trên phố… người ta thấy được
một Agnés luôn lơ đãng, luôn muốn thoát ra khỏi cái cuộc sống mà nàng đang hiện hữu; một
Agnés luôn băn khoăn với “khuôn mặt riêng mình” và “khuôn mặt bản thế”, cuộc sống của
nàng như một cuộc hành trình tìm lại ý nghĩa đích thực cho cuộc sống của mình. Agnés giống
như một nốt nhạc nhẹ nhàng thẩm thấu vào mạch truyện, trong suốt cuộc hành trình đi tìm ý
nghĩa đích thực của cuộc sống và tìm lại “khuôn mặt riêng” của mình - không hề giả tạo và
chủ ý, cũng không hề mong muốn những thứ hư danh - nàng đã đi đến sự bất tử.
Trái ngược với hình ảnh Agnés là những mũi tên nói lên tính cách của Laura, em gái
Agnés:


Bên cạnh hình ảnh mũi tên, nhà văn còn dùng hình ảnh chiếc kính để nói lên sự giả
tạo, tính hình thức của Laura. “Kính râm đối với nàng là dấu hiệu của nỗi buồn. Nàng mang
kính, nhưng không phải để giấu nước mắt mà để cho thấy nàng đang khóc. Chiếc kính trở
thành vật thay thế của nước mắt” [30, tr.124]. Một hành động đầy tính kịch cũng được
M.Kundera gán cho Laura: “Thoạt đầu nàng ngón tay vào điểm giữa hai bầu vú, dường như
muốn chỉ vào chính cái tâm điểm của cái chúng ta gọi là cái “tôi” của mình. Sau đó nàng hất
tay ra trước, như muốn gửi cái “tôi” đó đến chốn xa xôi tận chân trời vào cõi bất tận” [30,
tr.287].
Như vậy, chỉ qua những nét phác thảo đơn giản về hình thức, M.Kundera vẫn có thể
qua đó lột tả sâu sắc những diễn biến tâm lý và khắc họa rõ nét tính cách nhân vật.
Khi miêu tả nhân vật mà giản lược tới mức tối thiểu thân phận, tên tuổi, hình dáng của
họ, ông muốn nhấn mạnh một điều rằng: con người trong cuộc sống này nhỏ bé đến vô
chừng. Quan niệm này chứng tỏ sự ảnh hưởng của triết học hiện đại lên các sáng tác của nhà
văn. Ở đó, triết học hiện đại luôn khẳng định con người không phải là trung tâm vũ trụ như

quan niệm cũ. Do vậy mà đôi khi trong cuộc sống, họ mờ nhạt, dường như không có hình
dáng, số phận riêng mà chỉ là một sinh thể nhỏ bé giữa hàng nghìn hàng vạn “mẫu số chung”.
2.2.2. Tâm lý nhân vật và những giấc mơ
2.2.2.1. Tâm lý nhân vật
Mặc dù quan niệm: “Các tiểu thuyết của tôi… nằm ngoài cái thẩm mỹ của loại
tiểu thuyết mà người ta quen gọi là tiểu thuyết tâm lý” [37, p.2], nhưng dù sao thì M.Kundera
cũng phải công nhận một sự thật hiển nhiên: “Tất cả mọi tiểu thuyết của mọi thời đại đều
chăm chú vào bí ẩn của cái tôi” [37, p.2].
Như vậy, dù muốn hay không, M.Kundera cũng đi tới bước khám phá con người
và cái tôi của họ qua những diễn biến tâm lý. Điều nổi bật ở M.Kundera khi khai thác tâm lý
nhân vật, là ông không lách sâu theo cách thông thường, ông không chú trọng vào việc để
nhân vật độc thoại nội tâm (điều đó lý giải tại sao độc thoại nội tâm của nhân vật M.Kundera
rất hiếm hoi), ông cũng ít khi diễn tả những cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật. Ông để cho nhân
vật phát ngôn và đứng hẳn bên ngoài sự đoán định về chính bản thân họ. Như thể giữa nhân
vật và chính thể xác của họ không có mối liên quan đến nhau.
Thường mỗi con người có sự phát triển tâm lý từ thấp đến cao, và khi lên đến đỉnh
điểm thì mạch truyện sẽ lên đến cao trào, và bùng nổ với những sự kiện, diễn biến mới. Song,
tâm lý nhân vật của M.Kunbdera không đi theo con đường đã vẽ sẵn của quá trình phát triển
như vậy. Không phải là con đường phát triển theo chiều ngang, chiều dọc hay hình xoáy trôn
ốc, sự phát triển tâm lý các nhân vật của ông luôn bị “bẻ hướng”. Đột ngột, bất ngờ và thật
khó đoán định, họ làm theo những “chỉ bảo” ở tận sâu tâm hồn. Chính họ cũng không nhận
thức được rằng mình sẽ có những suy nghĩ, cảm xúc như vậy. Một tiếng nói chẳng biết từ nơi
nào vọng đến, và, không còn cách nào khác, họ chỉ biết làm theo sự chỉ dẫn của tiếng gọi như
từ sâu trong tiềm thức – điều mà họ chưa từng nhận biết, chưa từng cảm nhận. Có lẽ bởi vậy
mà trong tiểu thuyết của M.Kundera, không hiếm những nhân vật mà từ sự vận động nội tại
dẫn đến những hành vi khiến người đọc bất ngờ. Một giáo sư có thể chuyên chạy bộ ban đêm
để đâm nát những bánh xe ô tô như một cách giải trí (Sự bất tử), con rể có thể ngủ cùng với
mẹ vợ (Vô tri), có thể giết người mà không cảm thấy tội lỗi (Điệu Valse giã từ)…
Khám phá thế giới nội tâm nhân vật nhưng lại không thực sự xuất phát từ nhân
vật, ông muốn nêu bật lên cái “vô tri” thường trực của mỗi con người trong cuộc sống hiện

đại.
2.2.2.2. Những giấc mơ
M.Kundera bị ảnh hưởng bởi quan điểm mỹ học của hai tác giả Novalis và Kafka.
Ông khẳng định: “Cũng như Kafka (và cũng như Novalis), tôi thấy thích đưa những giấc mơ,
sự tưởng tượng vốn là đặc trưng của giấc mơ, vào tiểu thuyết” [34, p.4].
Với Santal trong Bản nguyên, những giấc mơ biểu lộ sự mất phương hướng. Nàng
quanh quẩn trong những giấc mơ và ra sức vùng vẫy để tìm lại chính mình. Nhưng càng vùng
vẫy, nàng lại càng tuyệt vọng. Không tìm thấy mình trong cuộc sống thật, nàng cũng không
thể tìm thấy bản thân trong những giấc mơ nặng về xác thịt. Thân thể nàng đã hoàn toàn tách
rời khỏi tâm hồn nàng.
Điều này cũng xảy ra tương tự với nhân vật Tereza trong Đời nhẹ khôn kham. Tereza
thường trực bị ám ảnh bởi những giấc mơ xảy lặp có chức năng tái hiện quá khứ và dự báo
tương lai. Nó cũng diễn tả một cách sâu sắc và tinh tế tất cả những ẩn ức trong tâm lý của cô.
Những giấc mơ lặp đi lặp lại từ ngày này qua ngày khác như muốn kéo cô quay trở lại với những
tháng ngày khủng khiếp, dù cô đã cố gắng vẫy vùng để thoát ra.
Trong Cuộc sống không ở đây, giấc mơ của Jaromil ám chỉ anh đang quỵ ngã bởi cái
nhẹ bồng vô phương hướng của cuộc sống. Bởi, từ trong sâu thẳm, anh nhận thức được cái vô
nghĩa của sự tồn tại bản thân, đó là sự vong tính, là cái “nhẹ” đến trĩu nặng khi người ta
không biết mình là ai, mình muốn gì, và sự sống của mình có vai trò gì trong thế giới này?
Qua mô típ giấc mơ, M.Kundera muốn đặt cái hữu hạn của con người vào cái vô hạn
đầy rẫy bất ngờ của các sự kiện xung quanh họ, để cảm thấu sự yếu đuối, bất lực của mình
trước thế giới rộng lớn.
2.2.3. Nhân vật và những tình huống hiện sinh tiêu biểu
Đặt nhân vật vào các tình thế hiện sinh tiêu biểu là cách M.Kundera khám phá nhân
vật với những gì bất ngờ, khó đoán định nhất. M.Kundera đứng ngoài nhân vật và để nhân vật
cũng đứng ngoài bản thân họ.
Mỗi một tác phẩm, M.Kundera lại khám phá nên một tình huống hiện sinh tiêu biểu.
Đó có thể là trò chơi xin quá giang của cặp đôi nọ. Để rồi họ khám phá ra bản chất thật sự
của nhau – khác xa với những nét tính cách tốt đẹp thường ngày. Kết thúc trò chơi, cô gái
nằm cạnh chàng trai, nức nở lặp đi lặp lại “em là em, em là em, em là em…” [31, tr.122] như

muốn tìm lại mình, tìm lại tình yêu trong niềm vô vọng đến cùng cực.
Tình huống hiện sinh đó cũng có thể là một vụ giết người. Jakub (Điệu Valse giã từ)
mặc dù hiểu rằng thật ra mình vừa giết người, nhưng anh không hề hối lỗi hay dày vò. Và anh
ngạc nhiên vì cái tâm trạng ấy của mình. Do đâu, anh có thể dửng dưng trước cái chết do
chính mình gây ra như vậy?
Chậm rãi đặt con người vào tình huống hiện sinh tiêu biểu khác, đó là thời gian và
tốc độ. Quay cuồng trong nhịp sống gấp của cuộc sống hiện đại, người ta đánh mất bản
thân. Họ ngơ ngác tìm lại con người mình giữa vô trùng sự kiện đang dồn dập xảy ra xung
quanh. Vòng xoáy cuộc sống đã làm biến mất con người! Đời nhẹ khôn kham lại đặt con
người vào tình thế hiện sinh với sự can thiệp của lịch sử. Ở tác phẩm này, sự biến mất của
con người, của cái tôi cá nhân không chỉ do những thiết bị khoa học hiện đại, mà họ còn
biến mất bởi lý do bao trùm hơn: lịch sử và chế độ xã hội thời họ sống. Bởi những diễn
biến của các sự kiện trong nước mà con người phải thay đổi hoàn toàn lối sống, suy nghĩ
của mình. Ước vọng của họ về một cuộc sống yên ả, ở đó họ được làm chủ chính bản thân
mình không bao giờ có thể trở thành hiện thực. Lịch sử, chính trị, xã hội loạn lạc và nhà
nước chuyên chế đã bóp nghẹt những ước vọng sâu kín mà nhỏ bé nhất của con người.
Trong Sự bất tử, Chậm rãi, Đời nhẹ khôn kham và hầu hết các tác phẩm khác,
M.Kundera đặt con người vào tình thế hiện sinh của những kỹ thuật tiên tiến với máy quay,
đài phát thanh, máy ảnh, máy nghe trộm… Những điều ấy đã thay cho con mắt, cho lời phán
xét của Chúa. Từ những tình huống hiện sinh đó, M.Kundera tái hiện lại những bi kịch “đánh
mất bản thân” của con người thời hiện đại.
Khai thác nhân vật qua những nét nhỏ của cử chỉ, hình dáng, rồi dõi theo diễn biến
tâm lý và những giấc mơ, để rồi đặt họ vào những tình thế hiện sinh tiêu biểu, M.Kundera
không đơn thuần “vẽ” nên thần thái riêng đặc biệt cho nhân vật của mình. Quan trọng nhất,
qua đó ông bày tỏ quan điểm: con người hữu hạn, nhỏ bé và yếu đuối trước thế giới, trước
bản năng và trước chính bản thân mình. Vậy, cần yêu thương và bảo vệ họ. Quan điểm này
cũng xuyên thấu tới một quan khác: sứ mệnh của tiểu thuyết là hướng tới con người, vì con
người và luôn luôn bảo vệ con người. Với những cách tân trong hình thức và nội dung sáng
tác, M.Kundera đã phần nào khiến tiểu thuyết dần hoàn thiện được sứ mệnh gian khó nhưng
vô cùng cao cả ấy.


CHƢƠNG 3: NGÔN NGỮ
TIỂU THUYẾT MILAN KUNDERA
3.1. Khái niệm ngôn ngữ
“Ngôn ngữ, đó chính là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng
của văn học. Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị
và sáng tạo tác phẩm; nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của người
đọc với tác phẩm… Về nguồn gốc tạo thành, ngôn ngữ của tác phẩm văn học cũng là
ngôn ngữ của đời sống, ngôn ngữ của toàn dân, nhưng đã được nâng lên đến trình độ
nghệ thuật” [5, tr.148].
Việc sử dụng ngôn ngữ như thế nào sẽ tạo nên phong cách của nhà văn. Có những
ngòi bút chứa chan tình cảm, có những lối viết dứt khoát, nhanh gọn, nhưng cũng có
những phong cách đầy tính suy triết, chiêm nghiệm. Bên cạnh đó, cũng không thiếu
những giọng văn tưởng như lạnh lùng, vô cảm, nhưng ẩn sâu trong đó lại là một tấm lòng
bao dung, thương yêu con người… Tình cảm hay mỉa mai, bình thản hoặc gai góc, dịu
dàng hay chế giễu, thậm chí sắc cạnh tàn nhẫn… thì tất cả những phong cách ấy đều góp
phần tạo nên một diện mạo, giá trị chung cho văn học.
3.2. Ngôn ngữ tiểu thuyết Milan Kundera
3.2.1. Tính tiết chế chặt chẽ, sắc sảo của ngôn ngữ
3.2.1.1. Lối viết giản lược, ngắn gọn và súc tích
Mặc dù dấu ấn của âm nhạc xuất hiện rất nhiều trong kết cấu và nội dung của các tác
phẩm của M.Kundera, và nó khiến cho cấu trúc tác phẩm của ông đầy chất nhạc với nét
duyên dáng và quyến rũ, nhưng ngôn ngữ, văn phong của ông lại không có cái mượt mà, trữ
tình của một bản nhạc hay một điệu nhảy. Vắng bóng đi sự du dương êm ái thường thấy trong
ngôn ngữ của một tác phẩm văn học, văn của M.Kundera như đi đến tận cùng của sự khô
khan và tỉnh lạnh.
Với mong muốn tìm được sự đồng cảm, bằng tất cả thái độ tôn trọng đối với độc giả
của mình, M.Kundera lựa chọn một lối viết chặt chẽ, thẳng gọn, giản lược và súc tích, đạt
đến chiều sâu của tiết chế và sắc sảo.
Điệu Valse giã từ, Đời nhẹ khôn kham, Sự bất tử, Chậm rãi, Bản nguyên, Những

mối tình nực cười, Vô tri… đều không bình phẩm. Không cầu kỳ diêm dúa. Không sa vào tự
sự. Không cảm xúc cá nhân. Không chú tâm tả cảnh vật đất trời. Không xoáy sâu vào việc kể
lể những diễn biến cụ thể của nội tâm Tất cả đều sử dụng một lối viết giản dị gọn gàng.
Nếu M.Kundera đưa vào mạch truyện những “khúc dạo”, “khoảng trống” hay
“quãng lặng”, hẳn các tiểu thuyết của ông sẽ có độ dài gấp đôi gấp ba, thậm chí gấp nhiều
lần. Thử tưởng tượng nếu Sự bất tử có thêm những đoạn văn miêu tả diễn biến tâm lý của
riêng nhân vật Agnés? Hẳn M.Kundera cũng có thể từ đó xây dựng riêng thành một phiên
bản khác của Bà Bovary (Flaubert) hay một Anna Karenina (L.Tolstoi). Và nếu cứ dùng
kiểu văn phong dàn trải, trữ tình, khi đọc đến trang cuối Sự bất tử, độc giả - rất có thể -
quên đi những sự kiện đã xảy ra ở những trang sách đầu tiên.
3.2.1.2. Dùng từ ngữ và thuật ngữ để chỉ những sự việc có tính khái quát
Trong tiểu thuyết, truyện ngắn và tiểu luận của mình, M.Kundera rất hay đưa ra
những từ ngữ, thuật ngữ nhằm hướng tới mục đích: xây dựng được một hệ thống các quan
niệm, xác lập được ý nghĩa cốt truyện và nêu bật được tính cách, nội tâm của nhân vật.
Trong Đời nhẹ khôn kham, ông dành tới ba phần riêng biệt với rất nhiều trang sách
trong chương III chỉ để bàn luận về cái gọi là Những từ ngữ bị hiểu sai. Thông qua những từ
ngữ bị hiểu sai ấy, nhân vật soi chiếu lên nhau, “phản quang” lẫn nhau để phát lộ rõ ràng tính
cách, suy nghĩ của mình.
M.Kundera còn đưa ra thuật ngữ về cái Kitsch trong nhiều sáng tác của mình.
Thuật ngữ Kitsch có nguồn gốc từ tiếng Đức, ban đầu nó có nghĩa là “nghệ thuật tầm
tầm”. Nhưng sau này nó được hiểu theo nhiều nghĩa khác và gây nên sự tranh cãi ở
nhiều nhà nghiên cứu. Với M.Kundera, ông triển khai thuật ngữ Kitsch với quan điểm
của riêng mình. Kitsch là “nhu cầu được nhìn mình trong tấm gương dối trá làm đẹp bản
thân với một sự thỏa mãn đầy xúc động vì sự sợ hãi tự thể phơi bày” [14, tr.30]. Ông
chia thành thái độ Kitsch, nhu cầu Kitsch, cách ứng xử Kitsch… Như vậy, Kitsch là sự
che giấu, sự dối trá.
Với thuật ngữ cái Kitsch vô cùng ngắn gọn, M.Kundera đã thâu tóm một cách sắc sảo
trong nó toàn bộ hiện thực của cuộc sống hiện đại: sống trong những con mắt soi mói của
máy quay phim chụp ảnh tân tiến, con người sẽ trở nên giả trá, lừa lọc nhau.
Từ nhẹ bồng (légèreté) cũng được nhà văn khai thác trên rất nhiều tác phẩm khác

nhau – một cách vô thức. Trước hết nó bộc lộ ở tiêu đề Đời nhẹ khôn kham (còn được dịch
là Nhẹ bồng cái kiếp nhân sinh). Có nghĩa rằng cuộc sống này nhẹ lắm, như lông hồng, kiếp
người chỉ là kiếp khinh phù nhẹ bẫng. Trong Lời đùa cợt thì: “Tôi bước đi trên những vỉa hè
bụi phủi đó và tôi nhận ra cái nhẹ bồng nặng trĩu của hư không đè nặng cuộc đời tôi” [37,
p.6]. Trong Cuộc sống không ở đây thì: “Đôi khi Jaromil có những giấc mơ kinh hoàng: anh
mơ thấy mình phải nâng lên một vật cực kỳ nhẹ, một chén trà, một cái thìa, một chiếc lông,
và anh không làm sao nâng nổi, vật càng nhẹ thì anh càng yếu, anh quỵ gục xuống dưới sức
nhẹ bồng của nó” [37, p.6]. Trong Điệu Valse giã từ: “Raskolnikov đã trải qua tội ác của
mình như một bi kịch và cuối cùng đã gục ngã dưới sức nặng của hành động. Và Jakub ngạc
nhiên vì hành động của mình nhẹ bồng đến thế, không nặng nề chút nào, không hề đè nặng
lên anh. Và anh tự hỏi phải chăng sự nhẹ nhàng đó còn khủng khiếp hơn những tình cảm
cuồng loạn của nhân vật người Nga nọ” [34, c.5]. Trong Sách cười và lãng quên: “Cái túi
rỗng không trong dạ dày anh đó, chính là sự phi trọng lượng không thể chịu đựng nổi. Và
giống như một sự quá mức lúc nào cũng có thể biến thành cái ngược lại với nó, cái nhẹ bồng
bị đẩy đến cực độ đã trở thành trọng lượng khủng khiếp của cái nhẹ bồng và Tamina biết rằng
cô không thể chịu đựng được nó thêm một giây nào nữa” [37, p.6].
Từ nhẹ bồng thâu tóm các tác phẩm trong cùng một ý nghĩa: cái nhẹ bỗng của cuộc
đời, của kiếp nhân sinh. Rút cuộc, vị trí của mỗi cá thể là ở đâu giữ thế giới rộng lớn này?
Phần 6 của Nghệ thuật tiểu thuyết có tiêu đề Bảy mươi ba từ, trong đó, M.Kundera
đưa 73 từ ngữ vào “danh sách” cần giải nghĩa. Với 73 từ và cách giải thích gọn gàng đơn
giản, người đọc hầu như có thể giải mã toàn bộ quan điểm của nhà văn về con người và sứ
mệnh tiểu thuyết.
3.2.1.3. Sự khách quan, dửng dưng, bình tĩnh
Chính bởi đặc điểm riêng này trong giọng văn của M.Kundera mà có một số ý kiến từ
giới nghiên cứu và các độc giả cho rằng ông là một nhà văn lạnh lùng, đôi khi tàn nhẫn.
Ông không để lộ cảm xúc của mình qua con chữ và cũng không dùng con chữ để gán
lên các nhân vật của mình những thứ thuộc về cảm xúc. Không tức giận, không buồn tủi,
không thương xót cũng chẳng đồng cảm. Văn của ông không có cái vỡ òa của niềm vui, cũng
chẳng có cái dữ dội đến tột cùng của miền đau khổ (thế mà cuối cùng, độc giả vẫn có thể cảm
nhận một cách sâu sắc và thấm thía những điều ấy. Tại sao!?!).

3.2.2. Tính triết lý trong ngôn ngữ
Sự chắt lọc ngôn từ cộng với sự xâm nhập của triết học phương Tây hiện đại và tâm
phân học khiến ngôn ngữ của Kundera mang đậm tính triết lý. Từ một hiện tượng, sự việc rất
nhỏ, nhà văn cũng có thể khoác cho nó một phạm trù mới, và khái quát lên thành một ý nghĩa
sâu xa.
Mặc dù phủ định “sự chiêm nghiệm triết học” “là thủ pháp chính” [37, p.2] trong tiểu
thuyết của mình, bởi ông cho rằng “triết học triển khai tư tưởng của mình trong một không gian
trừu tượng, không có nhân vật, không có tình huống” [37, p.2], nhưng theo chúng tôi, triết học
trong sáng tác của M.Kundera là một yếu tố thường xuyên không thể thiếu. Chính M.Kundera
cũng đã từng thừa nhận những quan điểm của triết học hiện đại có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng
và sáng tác của mình. Từ sự ảnh hưởng ấy, nhà văn hình thành nên vô vàn những triết lý khác
nhau. Có điều, khác với triết học thông thường, triết học của M.Kundera có đầy đủ các yếu tố
cần thiết như không gian, nhân vật và tình huống để tác giả triển khai tư tưởng.
3.2.2.1. Triết lý về con người thời hiện đại
Thứ nhất, là triết lý về con người trong mối tương quan với thời hiện đại. Câu hỏi đặt
ra là, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng thế nào tới con người?
Nếu như các phát minh khoa học kỹ thuật mang lại cho con người vô vàn lợi ích, thì
nó cũng lấy đi quá nhiều thứ trong cuộc sống của họ. Con người hiện đại trở nên cô đơn và dễ
bị tổn thương hơn bao giờ hết. Họ không còn niềm tin vào Chúa, vào bản thân và cuộc sống.
Họ cũng chẳng còn cái tôi riêng, họ chỉ là những phiên bản giống nhau từ một khuôn mẫu mà
thôi.
Chậm rãi đưa ra triết lý về bi kịch của con người khi phải đối mặt với guồng quay của
cuộc sống hiện đại. Họ không thể làm chủ được tốc độ bản thân, lúc nào họ cũng phải sống
nhanh, sống gấp. Và, bất chợt một lúc nào đó, họ nhận ra mình đã đánh mất bao điều đẹp đẽ.
Thứ hai, đó còn là triết lý về con người trong mối tương quan với các biến động của
lịch sử.
Vô tri, Đời nhẹ khôn kham, Điệu Valse giã từ… với giọng văn bình thản,
M.Kundera đưa ra những khái quát, triết lý sâu sắc về sự biến đổi âm thầm mà dữ dội của con
người trước sự biến đổi của lịch sử. Sống trong những biến động lịch sử, con người không thể
tự quyết được số phận, vận mệnh của mình.

Qua sự biến đổi trong suy nghĩ của nhân vật trước các yếu tố lịch sử, M.Kundera
muốn xoáy sâu vào cảm giác lưu vong của con người: Họ lưu vong trên chính đất nước quê
hương của mình, và dù có tìm được cuộc sống mới ở một đất nước khác, mãi mãi họ vẫn
không thoát nổi cảm giác lưu vong ấy.
Thứ ba, M.Kundera đưa ra những triết lý về con người hiện đại trong tình yêu và tình
dục.
M.Kundera đề cập nhiều về tình yêu của con người trong thời hiện đại, ông cũng
không tránh né, chẳng ngại ngùng khi nhắc đến tình dục. Từ học thuyết Freud, tình dục chỉ là
cái cớ để M.Kundera đưa đến triết lý về giá trị thật của tình yêu trong cuộc sống. Đi đến tận
cùng của bản năng, con người sẽ càng cảm thấy cô đơn trong chính tiểu vũ trụ bản thân, nếu
như trong họ không tồn tại cái gọi là tình yêu nữa.
Nhân vật của M.Kundera không tìm thấy tình yêu nơi cuộc sống hiện tại.Trong khi
đó, cuộc đời riêng bị soi mói, phơi trần bởi cuộc sống hiện đại của những tiến bộ của khoa
học kỹ thuật, số phận bị đưa đẩy bởi dòng chảy chung lịch sử… Bị tổn thương, họ tìm nơi
bản năng, buông thả mình như tìm đến một cách giải phóng sự kìm kẹp, nhưng càng dấn sâu
vào, họ càng thấy cái vô nghĩa đến nhẹ bồng của cuộc sống, họ càng mất phương hướng,
càng không tìm thấy cái tôi của mình ở đâu.
Qua đó, M.Kundera đi đến một triết lý: tình dục chỉ thật sự có ý nghĩa khi được đặt
trong mối quan hệ bền chặt với cái gọi là tình yêu. Vậy đấy, hành vi tình dục sẽ trở nên thật
cao đẹp khi có tình yêu, nhưng tầm thường khi tình yêu biến mất. Cao đẹp hay tầm thường –
cái ranh giới ấy quá mỏng manh. Con người khó có thể phân định một cách rạch ròi.
3.2.2.2. Triết lý về sứ mệnh tiểu thuyết
Xuyên suốt các tác phẩm của M.Kundera là những trietse lý về sứ mệnh tiểu thuyết.
Quan điểm của M.Kundera về tiểu thuyết “là một sự chiêm nghiệm có tính thơ về sinh tồn…
Người ta tìm thấy ở đó nhiều sự kiện chính trị, chúng cung cấp cho người ta một cách giải
thích xã hội học, lịch sử hay ý thức hệ ” [37, p.2]. Như vậy, qua các tiểu thuyết của
M.Kundera, chúng ta có thể thấy được nhà văn có suy nghĩ như thế nào về vai trò và sứ mệnh
của tiểu thuyết.
Đã từng có nhiều cuộc tranh luận cho rằng tiểu thuyết đang đi đến hồi cáo chung
trong diễn tiến phát triển của các hình thức văn học. M.Kundera không phủ nhận một điều

rằng, các giá trị hiện đang bị xuống cấp, song ông vẫn tin tưởng vào sức sống của tiểu thuyết.
Thậm chí ông còn cho rằng, trong thời đại như hiện nay, khi các giá trị bị xuống cấp, thì hơn
bao giờ hết, tiểu thuyết càng có sứ mệnh to lớn hơn trong việc bảo vệ các giá trị ấy.
Từ những tác phẩm của mình, M.Kundera đi đến triết lý về sứ mệnh của tiểu thuyết:
Trước hết, tiểu thuyết cần phải tự vận động, đổi mới mình. Thứ hai, tiểu thuyết phải khôi
phục lại các giá trị nhân loại. Thứ ba, tiểu thuyết phải nâng đỡ con người thời hiện đại.
3.2.3. Tính châm biếm sâu cay ẩn trong sự hài hước
Thông qua cái hài, cái giễu biếm, M.Kundera khai thác sự “nhẹ bồng”, vô trọng
lượng, mất phương hướng của kiếp người thời hiện đại, đồng thời gửi một thông điệp đầy
tính nhân văn tới sứ mệnh của tiểu thuyết. Bởi, chỉ thông qua hình thức chế giễu, thông điệp
ấy mới trở nên thật sự rõ ràng và thấm thía.
3.2.3.1. Châm biếm con người
Con người là đối tượng, cũng đồng thời là nguyên nhân của cái hài. Cuộc sống giống
như một sân khấu rộng, ở đó diễn viên là những con người tấu lên những khúc hài riêng của
mình.
M.Kundera nắm bắt được con người - diễn viên hài ấy!
M.Kundera dùng tiếng cười để châm biếm con người qua những thói hư tật xấu,
qua sự giả trá, lừa lọc, và thói đạo đức giả. Ngay cả tình yêu vốn là điều thiêng liêng cũng
không tránh khỏi những tình cảnh thật đáng mỉa mai, châm biếm.
Người đọc, sau khi phì cười vì thứ ngôn ngữ hài hước dửng dưng nhưng chứa đầy
sự châm biếm, lại trầm tư trước cái kết của những mối tình. “Nực cười” đấy, mà sao buồn
mang mang.
3.2.3.2. Châm biếm Chúa
Chúa – một thế lực vô hình siêu nhiên và vô cùng thiêng liêng cũng không thoát khỏi
sự hài hước ẩn trong thứ ngôn ngữ châm biếm chua cay của M.Kundera. Tuy nhiên, khi đưa
Chúa trở thành “bia đỡ đạn”, việc ông hướng đến không phải là chĩa mũi dùi vào tôn giáo, mà
ông chỉ mượn Chúa để châm biếm, qua đó nói lên một sự thật: con người thời hiện đại bị sụp
đổ các giá trị, tan vỡ niềm tin. Những điều tưởng như thiêng liêng không thể chạm tới, những
thứ đã từng nâng đỡ tinh thần con người - trong thời hiện đại - hầu như không còn ý nghĩa gì
với họ.

Trong các tiểu thuyết của M.Kundera, Chúa được gắn với tất cả những gì phi lý, buồn
cười. Chúa có thể chỉ là những chiếc máy tính vô hồn của Tạo Hóa. Và thậm chí Chúa chỉ là
biểu trưng của những nơi phàm tục gắn trên cơ thể loài người.
Châm biếm sâu cay về con người và Chúa, nhưng nào phải M.Kundera ác độc, đem
con người hay Chúa ra làm trò đùa. Khai thác sự “nhẹ bồng”, vô trọng lượng, mất phương
hướng của kiếp người thời hiện đại, nhà văn muốn gửi một thông điệp đầy tính nhân văn tới
sứ mệnh của tiểu thuyết thông qua cái hài, cái giễu biếm. Bởi, chỉ thông qua hình thức chế
giễu, thông điệp ấy mới trở nên thật sự rõ ràng và thấm thía.
Ông quan niệm những thiên tài chân chính của cái hài không phải ở việc người ta có
thể gây cười nhiều cho mọi người, mà là ở việc có thể chạm tới miền chưa được biết đến của
cái hài.
Vậy, M.Kundera đã chạm tới miền chưa được biết đến của cái hài chưa? Hãy đọc
M.Kundera để có câu trả lời xác đáng nhất!
Tóm lại, M.Kundera mang ba đặc điểm chính của ngôn ngữ vào các tiểu thuyết
của mình: Tính tiết chế, chặt chẽ, sắc sảo; tính triết lý; và sự châm biếm sâu cay ẩn
trong sự hài hước. Sự hòa quyện của ba phong cách ngôn ngữ này đôi khi làm tiểu
thuyết của ông khó đọc, đôi khi khiến độc giả hiểu nhầm ông lạnh lùng và khó tính,
nhưng cũng rất nhiều khi mang lại cho họ sự thú vị, bất ngờ.
Bằng bút lực và sức sáng tạo không ngừng về mặt ngôn ngữ, M.Kundera đã phần
nào hiện thực hóa được quan niệm của mình về sứ mệnh của tiểu thuyết.

C. KẾT LUẬN
Nếu tìm đến M.Kundera với mong muốn có được những phút giây tĩnh tại trong tâm
hồn, người đọc sẽ bị hố to.
Nói là “bị hố” thì quả có nặng nề, nhưng chúng ta nhất thiết không nên che giấu sự
thật đó.
Ảnh hưởng bởi triết học Nietzsche, triết học Heidegger và học thuyết phân tâm học
của Freud, các tác phẩm của M.Kundera có chiều sâu của suy tư, đạt đến tầm khái quát về
con người, thời đại và sứ mệnh của tiểu thuyết. Sự ảnh hưởng này khắc sâu vào từng sáng tác
của nhà văn, qua hệ thống đề tài và quan niệm thẩm mỹ.

1. Về mặt kết cấu
Một trong những yếu tố nổi bật làm nên sự khác biệt của M.Kundera, đó là việc đổi
mới, sáng tạo hình thức kết cấu cốt truyện. Đặc biệt là việc “khám phá” ra con số 7 – kết cấu
âm nhạc cho tiểu thuyết.
Sự độc đáo trong kết cấu tiểu thuyết của M.Kundera chứng tỏ một tài năng sáng tạo,
một bộ óc thông minh, một tính cách khoa học và một phong cách nghệ sĩ. Bằng việc đưa vào
tiểu thuyết những hình thức kết cấu lạ, nhà văn đã phần nào hiện thực hóa quan niệm về sự
đổi mới và sứ mệnh của tiểu thuyết hiện đại.
2. Về cách xây dựng nhân vật
Với quan niệm “tiểu thuyết không phải là một lời tự thú của tác giả mà là một cuộc
thăm dò cuộc sống của con người trong cái thế giới đã trở thành cạm bẫy” [37, p.2],
M.Kundera “thăm dò” con người qua ba phương diện: Qua những nét nhỏ của cử chỉ, hình
dáng; qua tâm lý và những giấc mơ; và trong những tình huống hiện sinh tiêu biểu. Trong
đó, việc đưa nhân vật vào những tình huống hiện sinh tiêu biểu chính là một đặc điểm độc
đáo và nổi bật.
Qua nhân vật của mình, M.Kundera bày tỏ quan điểm: con người hiện đại là những
sinh thể nhỏ bé, yếu ớt và thật đáng thương trước thế giới rộng lớn, đầy rẫy cạm bẫy. Họ luôn
băn khoăn đi tìm lại “khuôn mặt riêng” giữa “khuôn mặt bản thể”.
3. Về yếu tố ngôn ngữ
Ngôn ngữ tiểu thuyết M.Kundera trước hết có tính tiết chế, chặt chẽ, sắc sảo. Tiếp
đến là tính triết lý. Và đặc điểm cuối cùng, đó là tính châm biếm sâu cay ẩn trong sự hài
hước.
Với ba ưu thế về đặc điểm ngôn ngữ ấy, M.Kundera tạo nên những tác phẩm bề thế,
nhiều lớp ý nghĩa, mang chiều sâu của khái quát và triết lý. Quan trọng nhất là thông qua lớp
vỏ ngôn ngữ của mình, ông đề cập được đến hai nhiệm vụ chính của nhà tiểu thuyết: trước
hết, tiểu thuyết phải tái hiện được sinh động và chân thật cuộc sống của con người thời hiện
đại. Thứ hai, nhận ra những bế tắc, mâu thuẫn trong họ, tiếu thuyết phải lên tiếng bảo vệ,
bênh vực, phải thực hiện sứ mệnh của mình là nâng đỡ và đưa lại nhận thức cho con người.
Bằng bút lực và sức sáng tạo không ngừng về mặt ngôn ngữ, nhà văn đã phần nào
hiện thực hóa được quan niệm của mình về sứ mệnh tiểu thuyết.

Việc khảo sát, nghiên cứu M.Kundera trên ba phương diện: Kết cấu tiểu thuyết,
nhân vật tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết đã phần nào xác lập được một hệ thống các đặc
điểm nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn. Nếu như ở phần kết cấu tiểu thuyết, M.Kundera đã
đi đến những cách tân về mặt hình thức thì ở phần nhân vật và ngôn ngữ, nhà văn đã thực
hiện được những sáng tạo về mặt nội dung.
Và như vậy, M.Kundera đang đi trên con đường hiện thực hóa quan niệm của
mình về nhiệm vụ của nhà tiểu thuyết và sứ mệnh của tiểu thuyết trong thời hiện đại!


References
1. Lại Nguyên Ân (chủ biên), Văn học Hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lý thuyết,
NXB Hội nhà văn, HN, 2003
2. Nguyễn Văn Dân, Nghiên cứu văn học, lí luận và ứng dụng, NXB Giáo Dục, HN,
1999.
3. Nguyễn Văn Dân, Lý luận văn học so sánh, NXB ĐHQGHN, 2003
4. Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB ĐHQG Hà
Nội, 2001
5. Hà Minh Đức (chủ biên), Lý luận văn học, NXB Giáo Dục HN, 2002
6. Lưu Phóng Đồng, Triết học phương Tây hiện đại, NXB Chính trị quốc gia, HN, 1994
7. Trần Thiện Đạo, Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc, NXB Tri Thức, HN, 2008
8. Trần Thái Đỉnh, Triết học hiện sinh, NXB Thời Mới, Sài Gòn, 1972
9. Foulquie.P, Chủ nghĩa hiện sinh, NXB Nhị Nùng, Sài Gòn, 1970
10. Freud.S, Phân tâm học, NXB An Tiêm, Sài Gòn, 1969
11. Freud.S, Phân tâm học và tính dục, NXB Nhị Nùng, Sài Gòn, 1970
12. Bùi Giáng, Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại, NXB Văn Học, HN, 2001
13. Gustave Flaubert, Bà Bovary, NXB Văn Học, HN, 2005
14. Trần Thanh Hà, Quan niệm của Milan Kundera về tiểu thuyết qua lý luận và thực
tiễn sáng tác, luận án Tiến sĩ Ngữ văn, viện KHXH, HN, 2010
15. Đặng Thị Hạnh (chủ biên), Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XX, NS Ngoại Văn, HN,
1991

16. Lê Thị Tuyết Hạnh, Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự, NXB
DDHSP, HN, 2003
17. Khrapchenko. M.B, Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học,
NXB ĐHQG, HN, 2002
18. Lyotard.JF, Hoàn cảnh hậu hiện đại, NXB Tri Thức, HN, 2007
19. Nguyễn Trường Lịch, Khái quát văn học Nga và Lev Tolstoi, Chuyên luận tổng hợp
các bài viết của tác giả, khoa Văn học, ĐH Quốc gia HN
20. Phương Lựu (chủ biên), Lý luận văn học (tập 1,2,3), NXB ĐH Sư Phạm, HN, 1988
21. Phương Lựu, Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, NXB Văn Học, HN,
2001
22. Phương Lựu, Mười trường phái lí luận phê bình văn học phương Tây hiện đại, NXB
Giáo Dục, HN 1999
23. Phương Lựu, Tìm hiểu lý luận văn học phương Tây hiện đại, NXB Văn Học, HN,
1995
24. Phương Lựu, Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học, NXB Giáo Dục, HN,
1997
25. Trần Huy Lưu, Nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết “Trần trụi giữa bày sói”
của Bruno Apit, khóa luận tốt nghiệp, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội, 1967.
26. Vũ Đình Lưu, Hành trình vào phân tâm học, NXB Hoàng Đông Phương, Sài Gòn,
1968
27. Vũ Đình Lưu, Phân tâm học áp dụng vào các ngành học vấn, NXB Gió, Sài Gòn,
1969
28. Marcuse. H, Dục tính và văn minh, NXB Kinh Thi, Sài Gòn, 1996
29. M.Gorki, Bàn về văn học, NXB Văn Học, HN, 1965
30. M.Kundera, Sự bất tử, Chậm rãi, Bản nguyên, Nguyên Ngọc dịch, HN, NXB Văn
Học, 1999
31. M.Kundera, Những mối tình nực cười, NXB Văn Học, HN, 2009
32. M.Kundera, Vô tri, Cao Việt Dũng dịch, NXB Văn Học, HN, 2010
33. M.Kundera, Đời nhẹ khôn kham, E-book.com
34. M.Kundera, Điệu valse giã từ, E-book.com

35. M.Kundera, Những di chúc bị phản bội, E-book.com
36. M.Kundera, Sẽ không ai cười, E-book.com
37. M.Kundera, Nghệ thuật tiểu thuyết, E-book.com
38. M.Kundera, Tiểu luận, NXB Văn hóa thông tin, HN, 2001
39. Lê Tôn Nghiêm, Những vấn đề triết học hiện đại, NXB Ra Khơi, Sài Gòn, 1971
40. Thế Phong, Frederich Nietzsche và chủ nghĩa đi lên con người, NXB Nhận Định, Sài
Gòn, 1965
41. Trần Đình Sử, Lý luận và phê bình văn học, NXB Giáo Dục, HN, 2000
42. Trần Đình Sử, Văn học và thời gian, NXB Văn Học, HN, 2001
43. Lê Hồng Sâm (chủ biên), Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XIX, NS Ngoại Văn, HN, 1990
44. Doãn Quốc Sỹ, Văn học và tiểu thuyết, NXB Sáng Tạo, Sài Gòn, 1973
45. Lưu Đức Trung (chủ biên), Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường,
NXB Giáo Dục, HN, 2001
46. Đỗ Lai Thúy (biên soạn), Nghệ thuật như là thủ pháp, NXB Hội Nhà Văn, HN, 2001
47. Hoàng Ngọc Tuấn, Văn học hiện đại và hậu hiện đại - những tìm tòi đổi mới, NXB
Văn Nghệ, HN, 2002
48. Nguyễn Thị Kim Tiến, Nghệ thuật tiểu thuyết trong “Sự bất tử” của M.Kundera,
khóa luận tốt nghiệp, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội khóa 1988-2002
49. Phạm Tăng, Nội dung nghệ thuật triết lý Voltaire rút ra kinh nghiệm sáng tác thể loại
này, khóa luận tốt nghiệp, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội, năm 1969
50. Phạm Xuân Thạch, Tiểu thuyết như là trạng thái kiếm tìm ý nghĩa cuộc sống, báo
Văn nghệ số 45 ngày 11/11/2006.
51. Phạm Công Thiện, Ý thức mới trong văn nghệ và trong triết học, NXB Lá Bối, Sài
Gòn, 1970
52. Vladimir Mayakovsky, Bàn về văn học, NXB Văn Học, HN, 1965
53. Nhiều tác giả, Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, NXB Giáo Dục, HN,
1976
54. Nhiều tác giả, Martin Heidegger – Tác phẩm triết học, NXB ĐH Sư Phạm, HN, 2004
55. , Tìm hiểu về cốt truyện (sưu tầm), 2010
56. , Lời giới thiệu tiểu thuyết Vô tri

57. , Lời giới thiệu tiểu thuyết Đời nhẹ khôn kham
58. M.Kundera trong Điệu valse giã từ, 2010
59. , Nhà văn M.Kundera và một văn bản gây sốc, Từ Bình Tâm,
2008
60. , Bản thân tiểu thuyết là sự giải thiêng, Cao Việt Dũng, 2010
61. , Lan man về Kundera, Đặng Thiều Quang, 2011
62. , M.Kundera khiến tôi bật cười và hổ thẹn, Đặng
Thiều Quang, 2008
63. , Sự bất tử của M.Kundera – một sắc diện mới của
tiểu thuyết, 2008
64. , M.Kundera trong chính lăng mộ của mình, Hương Liên,
2011
65. o, M.Kundera, nhà tiểu thuyết sáng suốt và cách tân, Hoài Anh,
2009
66. , Sứ mệnh của tiểu thuyết trong thời đại cáo chung của
văn học, Svetlana Sherlaimova (Ngân Xuyên dịch), 2012
67. , Đi vào linh hồn của sự vật, Trịnh Y Thư dịch, 2011
68. , Giây khắc và mãi mãi, Nguyễn Kim Anh, 2007
69. , Các kiểu kết cấu của truyện ngắn Pháp đương đại, Phạm
Thị Thật, ĐHQG HN, 2007
70. Về Kundera, 2009 (lấy tư liệu từ báo Nhịp sống Sài
Gòn)
71. Nơi ngộ nhận bắt đầu, 2010





×