Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

Nghiên cứu chế tạo hạt bạc có cấu trúc nano trên nền than hoạt tính và định hướng ứng dụng trong xử lý môi trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 25 trang )

Nghiên cứu chế tạo hạt bạc có cấu trúc nano
trên nền than hoạt tính và định hướng ứng
dụng trong xử lý môi trường

Nguyễn Văn Sơn

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Vật lý Chất Rắn; Mã số: 60 44 07
Người hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Hoàng Hải
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Trình bày các tính chất của hạt nano bạc và cấu trúc của than hoạt tính.
Nghiên cứu quy trình chế tạo và các phép đo nghiên cứu tính chất của hạt nano bạc.
Trình bày qui trình chế tạo than hoạt tính và các phép đo tính chất của than hoạt tính
cũng như cách phân tán hạt nano bạc lên nền than hoạt tính. Đưa ra kết quả các phép
đo nghiên cứu tính chất hạt nano bạc, than hoạt tính và hạt nano bạc phân tán trên nền
than hoạt tính.

Keywords: Vật lý chất rắn; Công nghệ Nano; Than hoạt tính; Xử lý môi trường

Content
Chương 1: Tổng Quan Vật Liệu
I.1.Tính chất cơ bản của hạt nano bạc
I.1.1. Tính chất cấu trúc
Hạt bạc kim loại thường có cấu trúc tinh thể kiểu
mạng lập phương tâm mặt (hình 1.1), với thông số của ô
cơ sở là: a = 4.08Ǻ, b = 4.08 Ǻ, c = 4.08 Ǻ, α = 90°, β =
90°, γ = 90° [5, 14, 15]. Các nguyên tử được bố trí tại 8
đỉnh của hình lập phương tương ứng với tọa độ (000),
(100), (110), (010), (001), (101), (111), (011) và 6
nguyên tử bố trí ở tâm của 6 mặt của ô cơ sở tương ứng


có tọa độ (1/2 0 1/2), (1 1/2 1/2), (1/2 1 1/2), (0 1/2 1/2),
(1/2 1/2 0), (1/2 1/2 1
I.1.2. Tính chất hình thái
Để thỏa mãn nguyên lí năng lượng cực tiểu, tùy điều
kiện chế tạo mà hạt bạc có thể sắp xếp với nhau theo các
Hình 1.1. Cấu trúc lập phương
tâm mặt.

2
kiểu khác nhau và hình thành nên nhiều hình dạng của hạt bạc như: hình cầu (sphere), que
(rod), đĩa phẳng (plate)…
I.1.3. Hiệu ứng bề mặt
Hạt bạc cũng như những vật liệu khác, khi chúng có kích thước nano thì các hiệu ứng liên
quan đến bề mặt sẽ trở nên quan trọng, làm cho tính chất của vật liệu khác biệt so với khi
chúng ở dạng khối.
I.1.4. Hiệu ứng kích thước
Khi kích thước của vật liệu có thể so sánh được với độ dài đặc trưng đó thì tính chất có liên
quan đến độ dài đặc trưng bị thay đổi đột ngột, khác hẳn so với tính chất đã biết trước đó.
I.1.5. Tính chất quang
I.1.5.1. Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt
Hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt là hiện tượng các hạt nano kim loại hấp thụ mạnh
ánh sáng kích thích khi tần số của ánh sáng kích thích cộng hưởng với tần số dao động plasma
của các điện tử dẫn trên bề mặt hạt kim loại (surface plasmon resonance, SPR).
I.1.5.2. Lí thuyết Mie và hiện tượng plasmon cộng hưởng
Lí thuyết Mie được đưa ra vào năm 1908, xem xét tương tác của các hạt dẫn điện hình cầu
trong một môi trường đồng nhất với véctơ cường độ điện trường.
Lí thuyết Mie được áp dụng khi kích thước hạt nhỏ hơn nhiều lần so với bước sóng của ánh
sáng kích thích.
I.1.5.3. Tính chất quang của hạt bạc
Đối với các hạt kim loại có tính đối xứng cầu, các phương dao động là như nhau và chỉ

cộng hưởng ở một tần số nhất định.
Nhưng hạt nano bạc dạng hình cầu có một tính chất quang độc đáo là bước sóng ứng với
đỉnh cộng hưởng plasmon có thể thay đổi từ 400 nm (ánh sáng tím) cho đến 530 nm (ánh sáng
xanh lục nhạt) nếu như ta thay đổi kích thước hạt hoặc chiết suất môi trường bao quanh bề
mặt hạt.
I.1.6. Tính diệt khuẩn
I.1.6.1. Cấu trúc và hình thái của vi khuẩn
Vi khuẩn là sinh vật đơn bào, có nhiều hình thái, kích thước và cách sắp xếp khác nhau.
Đường kính của phần lớn vi khuẩn nằm trong khoảng 0.2 đến 2.0 µm, chiều dài cơ thể khoảng
2.0 đến 8.0 µm [43].
I.1.6.2. Cơ chế tiêu diệt vi khuẩn của hạt bạc
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ chủ yếu sự tấn công của hạt bạc đến vi khuẩn tập
trung vào lớp peptidoglycan của thành tế bào vi khuẩn [5, 11 - 13]. Do đó, hạt bạc không có

3
khả năng tấn công đến các tế bào của động vật bậc cao, đặc biệt là con người. Đây là lí do
khiến hạt bạc được sử dụng làm tác nhân diệt khuẩn.
I.2. Than hoạt tính (Activated Carbon - AC)
I.2.1. Sơ lược về than hoạt tính
Than hoạt tính có diện tích bề mặt lớn (từ 500 tới 2500 m
2
/g). Do diện tích bề mặt lớn, than
hoạt tính có nhiều vị trí có khả năng hấp thụ. Các lỗ trong than hoạt tính được phân chia thành
3 nhóm chính: nhóm lỗ nhỏ (d <2 nm), nhóm lỗ vừa (2 nm < d < 5 nm) và nhóm lỗ lớn (d > 5
nm) [27].
I.2.2. Cấu trúc của than hoạt tính
I.2.2.1. Cấu trúc tinh thể
Thành phần chủ yếu của than hoạt tính là cacbon, ngoài ra còn có một lượng nhỏ các oxit
kim loại, các oxit này ở dạng tro và hàm lượng của nó phụ thuộc vào nguyên liệu ban đầu.
I.2.2.2. Cấu trúc xốp

Than hoạt tính được đặc trưng bởi cấu trúc xốp đa phân tán, với nhiều phương thức phân
bố thể tích lỗ theo kích thước. Đặc tính cấu trúc xốp của than hoạt tính là chứa các loại lỗ với
kích thước khác nhau.
I.2.2.3. Cấu trúc bề mặt của than hoạt tính
Nghiên cứu nhiễu xạ tia X cho thấy rằng các nguyên tử khác loại hoặc các loại phân tử
được liên kết với cạnh hoặc góc của các lớp thơm hoặc với các nguyên tử cacbon ở các vị trí
khuyết làm tăng các hợp chất cacbon – oxy, cacbon – hydro, cacbon – nitrơ, cacbon – lưu
huỳnh, cacbon – halogen trên bề mặt, chúng được biết đến như là các nhóm bề mặt hoặc các
phức bề mặt.
I.2.2.3.1. Nhóm cacbon – oxy bề mặt
Nhóm cacbon – oxy bề mặt là những nhóm quan trọng nhất ảnh hưởng đến đặc trưng bề
mặt như tính ưa nước, độ phân cực, tính axit, và đặc điểm hóa lý như khả năng xúc tác, dẫn
điện và khả năng phản ứng của các vật liệu này.
Chương 2: Thực nghiệm
II.1. Chế tạo hạt nano bạc (Silver nanoparticles - AgNP)
Điện hoá siêu âm điện cực tan là phương pháp chế tạo hạt nano bạc được chúng tôi lựa
chọn. Phương pháp này đã được xây dựng và phát triển tại trung tâm Khoa Học Vật Liệu –
ĐH KHTN trước đó.

4

Hình 2.1. Sơ đồ hệ điện hoá siêu âm điện cực tan và ảnh chụp các điện cực (góc trái).
Bảng 4: Hoá chất chế tạo hạt nano bạc bằng phương pháp điện hoá siêu âm điện cực tan
STT
Tên
CTPT
KLPT
Xuất xứ
1
Bạc khối

Ag
108
C.ty SJC
2
Trisodiumcitrát
Na
3
(C
6
H
5
O
7
).2H
2
O
275
Merck
3
Nước cất 2 lần
H
2
O
18
ĐHKHTN

Thể tích dung dịch là 200 mL có chứa TSC. Hai điện cực đặt cách nhau 5mm, có diện tích
bằng nhau và bằng 1cm
2
. Mật độ dòng điện được điều chỉnh từ 10 đến 50 mA/cm

2
. Nồng độ
của TSC được thay đổi từ 0.5 đến 3.5 g/l. Thời gian bật, tắt xung dòng điện đều là 0.5 s, thời
gian chế tạo mẫu là 2 h.
II.2. Chế tạo than hoạt tính - AC (Thực hiện tại Viện Hóa Học và Môi Trường – Bộ Quốc
Phòng)
II.2.1. Than hóa
Than tre hoặc gáo dừa được đốt yếm khí bằng lò điện ở nhiệt độ 350 °C tới 500 °C.
II.2.2. Hoạt hóa
Hoạt hóa là quá trình cho cacbon tác dụng với tác nhân hoạt hóa (CO
2
, Oxy, hơi nước) để
tạo ra hệ thống lỗ xốp trong thể tích than.
II.3. Phân tán hạt nano bạc trên nền than hoạt tính (AgAC)
Chúng tôi cho than hoạt tính vào dung dịch nano bạc, dùng khuấy từ khuấy cho phân tán
đều kết hợp với rung siêu âm hệ mẫu. Thời gian khuấy và rung siêu âm là 1 h, sản phẩm thu
được đem sấy ở 75
0
C cho tỷ lệ khối lượng hạt bạc trên than hoạt tính là 1%.
II.4. Khả năng hấp phụ của than hoạt tính (AC) và than hoạt tính tẩm nano bạc (AgAC)
II.4.1. Hấp phụ xanh mêtylen (MB)
Máy tính
điều khiển
Máy phát
dòng điện
Nước
Dây dẫn
TSC
Khung giữ
điện cực

Điện cực
Bể siêu
âm
Cốc

5
Thực hiện đo phổ hấp thụ - truyền qua của dung dịch MB theo thời gian khi cho 200 mg
AC và AgAC vào hấp phụ lượng MB khác nhau (200 mL dung dịch MB có nồng độ 100
mg/L, 200 mg/L, 300 mg/L, 400 mg/L, 500 mg/L), khuấy với tốc độ 120 vòng/phút ở nhiệt độ
phòng trong thời gian 360 phút, chúng tôi có thể xác định được một số thông số về tính chất
của AC và AgAC.

II.4.2. Hấp phụ Asen
Dung dịch chứa Asen được chuẩn bị bằng cách pha 1.0 mg As
2
O
5
với 1 lít nước cất hai
lần. Quá trình hấp phụ được chỉ ra bằng cách khuấy 100 mg AC hoặc AgAC trong 50 mL
dung dịch Asen trong 3 h. Sau đó chất hấp phụ được loại bỏ bằng cách quay li tâm. Nồng độ
Asen trong dung dịch còn lại được đánh giá bằng phổ hấp thụ nguyên tử AAS.
II.5. Thí nghiệm về khả năng kháng khuẩn (được thực hiện tại khoa Sinh Học – ĐH
KHTN)
Tính chất diệt khuẩn của AgAC được được nghiên cứu định tính thông qua khả năng ức
chế sự phát triển của vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) DH5α trên môi trường thạch Luria -
Bertani (LB) 1,5%, trong khi đó các nghiên cứu định lượng được thực hiện trên môi trường
dung dịch LB (10 g tryptone, 4 g yeast extract, 10 b NaCl hòa với nước để thu được 1 lít dung
dịch).
II.5.1. Khả năng diệt khuẩn của AgAC
Thí nghiệm kiểm tra định tính khả năng diệt khuẩn của AgAC: sau khi môi trường LB

đông đặc lại, E.coli được đánh dấu giống nhau trên 3 đĩa (A- môi trường thạch, B- môi trường
thạch có thêm 0.15 g AC, C- môi trường thạch có thêm 0.15 g AC có 1% hạt nano bạc) và
được ủ tại 37

°C trong 24 h. Sự phát triển của vi khuẩn được quan sát qua các đốm trắng xuất
hiện trên bề mặt các đĩa.
II.5.2. Nồng độ ức chế tối thiểu của dung dịch nano bạc
Chúng tôi đã chuẩn bị các mẫu dung dịch như sau:
 Chỉ có nước LB (đối chứng âm)
 LB có chứa 120
μl
dung dịch TSC (đối chứng TSC)
 LB có chứa hạt nano bạc (để kiểm tra khả năng diệt khuẩn của hạt nano Ag)
Mỗi mẫu dung dịch trên có thể tích 2mL được chứa trong 1 ống tuýp.
Lượng nano Ag trong các mẫu được điều chỉnh trong khoảng
μg/ml2002 
.

6
II.6. Các phép đo khảo sát tính chất của hạt nano bạc và than hoạt tính
II.6.1. Giản đồ nhiễu xạ tia X
Để xác định cấu trúc mẫu chế tạo, chúng tôi thực hiện đo giản đồ nhiễu xạ tia X trên máy
SIEMENS D5005.
II.6.2. Ảnh hiển vi điện tử truyền qua
Hình dạng và kích thước của hạt nano bạc được xác định qua phép chụp ảnh kính hiển vi
điện tử truyền qua (TEM) trên máy JEM 1010-JEOL.
II.6.3. Phổ hấp thụ - truyền qua
Tính chất quang của hạt nano bạc được nghiên cứu bằng máy Shimadzu UV-2450.
II.6.4. Phổ tán xạ năng lượng tia X
Hạt nano bạc sau khi được phân tán đều trên nền than hoạt tính được đem đi đo EDS.

II.6.5. Đo phân bố lỗ và diện tích bề mặt của than hoạt tính (BET)
Để biết thông tin về diện tích bề mặt của than hoạt tính và phân bố lỗ trong than, chúng tôi
đem mẫu than đi đo BET (Brunaur-Emmett-Teller).
II.6.6. Đo phổ hấp thụ nguyên tử (AAS)
Cơ sở lí thuyết của phép đo AAS là sự hấp thụ năng lượng (bức xạ đơn sắc) của nguyên tử
tự do ở trạng thái hơi (khí) khi chiếu chùm tia bức xạ qua đám hơi của nguyên tố ấy trong môi
trường hấp thụ.
II.6.7. Đo thế Zeta
Dùng phương pháp điện di để xác định thế Zeta, khi đặt hệ keo vào một điện trường thì các
hạt keo tích điện sẽ di chuyển về một cực, đó là hiện tượng điện di.

Chương 3: Kết quả và thảo luận
III.1. Cấu trúc, hình thái học và tính chất quang của AgNP, AC và AgAC
III.1.1. Giản đồ nhiễu xạ tia X của AgNP
Trên giản đồ nhiễu xạ tia X xuất hiện ba đỉnh nhiễu xạ tại vị trí góc 2θ là 38.10, 44.28 và
64.46 tương ứng với các mặt tinh thể (111), (200), (220) của mạng lập phương tâm mặt của
tinh thể bạc.
Kết luận 1: Như vậy vật liệu chúng tôi chế tạo được chính là các hạt nano bạc với cấu trúc
tinh thể lập phương tâm mặt.



7

Hình 3.1. Giản đồ nhiễu xạ tia X của hạt nano bạc chế tạo bằng phương pháp điện hoá
siêu âm với nồng độ TSC c = 1.5 g/l, mật độ dòng điện phân J=50 mA/ cm
2
,
thời gian tạo mẫu 2h.
Từ các giá trị tính toán được ta có giá trị trung bình của hằng số mạng: a = 4.0877 A

o
.
Độ bán rộng của các đỉnh nhiễu xạ cho phép chúng ta tính được kích thước hạt theo công
thức Scherer: D =
Kích thước hạt trung bình tính toán được từ giản đồ nhiễu xạ tia X là D = 24 nm.
Kết luận 2: Từ kết quả tính kích thước hạt tính theo công thức Scherer D=24 nm, chúng ta có
kết luận hạt bạc tồn tại ở kích thước nano.
III.1.2. Ảnh hiển vi điện tử truyền qua của AgNP
Ảnh hiển vi điện tử truyền qua của hạt nano bạc trên hình 3.2 cho thấy hạt nano bạc có
dạng gần hình cầu, kích thước hạt từ 10 – 35 nm.

8

Hình 3.2. Ảnh kính hiển vi điện tử truyền
qua của hạt nano bạc chế tạo bằng phương
pháp điện hoá siêu âm điện cực tan.

Hình 3.3. Phân bố kích thước của hạt nano
bạc chế tạo bằng phương pháp điện hoá siêu
âm điện cực tan.
Kết luận 3: Từ phổ X-ray sắc nét của hạt nano bạc (hình 3.1) và giá trị xấp xỉ nhau của kích
thước hạt nano bạc tính từ phổ X-ray và từ ảnh hiển vi điện tử truyền qua, chúng tôi có thể
khẳng định hạt nano bạc được tạo ra kết tinh rất tốt, độ tinh khiết cao và đơn pha. Điều này
khẳng định tính ưu việt của phương pháp điện hoá siêu âm điện cực tan dùng để chế tạo hạt
nano bạc: độ sạch cao và không độc.
III.1.3. Phổ hấp thụ - truyền qua của AgNP
Kết quả cho thấy, phổ xuất hiện một đỉnh hấp thụ cộng hưởng plasmon đặc trưng của hạt
nano bạc ở lân cận 410 nm trải rộng. Điều đó cho thấy mẫu chế tạo được là hạt bạc có kích
thước nanomet [6 – 10].


Hình 3.4. Phổ hấp thụ của dung dịch nano bạc khi thời gian điện hóa tăng lên
Vị trí đỉnh hấp thụ không thay đổi theo thời gian (413nm). Điều này chứng tỏ kích thước
hạt nano bạc là không đổi khi thời gian điện hóa tăng lên.

9


Hình 3.5. Sự thay đổi màu sắc của hạt nano
bạc theo thời gian chế tạo.
Hình 3.6. Sự tăng tuyến tính của cường độ
đỉnh hấp thụ theo thời gian chế tạo.
Kết luận 4: Từ phổ hấp thụ - truyền qua của mẫu bạc chế tạo với nồng độ TSC c = 1.5 g/l,
mật độ dòng điện phân J = 15 mA/cm
2
chúng ta thấy rằng: tốc độ tạo hạt nano bạc phụ thuộc
tuyến tính vào thời gian tạo mẫu, kích thước hạt không thay đổi khi thời gian tạo mẫu tăng
lên.
III.1.4. Ảnh hưởng của nồng độ TSC lên kích thước AgNP
Để khảo sát sự thay đổi kích thước hạt theo nồng độ TSC trong dung dịch, chúng tôi tiếp
tục cố định mật độ dòng điện phân (J = 15 mA/cm
2
) và chỉ thay đổi nồng độ TSC (c = 0.5, 1,
1.5, 2, 2.5, 3, 3.5, 4).



Hình 3.7. a, Phổ UV- Vis của hạt nano bạc chế tạo bằng phương pháp điện hóa siêu âm với
điều kiện J = 15 mA/cm
2
, c = 0.5 và 4 g/l.

b, Sự phụ thuộc của đỉnh phổ hấp thụ λ
max
vào nồng độ TSC.

Bảng 7: Sự phụ thuộc của vị trí đỉnh hấp thụ của hạt nano bạc vào nồng độ TSC trong
dung dịch.

10
Nồng độ
TSC
(g/l)

0.5

1

1.5

2

2.5

3

3.5

4
Vị trí đỉnh
hấp thụ
(nm)


415

414

413

412

409.5

407.5

407

406

Khi nồng độ TSC tăng thì đỉnh phổ dịch về phía bước sóng ngắn, có nghĩa kích thước hạt
nano bạc giảm và ngược lại khi nồng độ giảm thì đỉnh phổ dịch về phía bước sóng dài, có
nghĩa kích thước hạt tăng [7, 30-32].


Hình 3.8. Ảnh TEM của hạt nano bạc khi
c = 0.5 g/l, J = 15 mA/cm
2



Hình 3.9. Ảnh TEM của hạt nano bạc khi
c= 3.5 g/l, J = 15 mA/cm

2

Kết luận 5: Khi thay đổi nồng độ TSC trong dung dịch, kích thước hạt nano bạc được tạo
ra cũng thay đổi. Nồng độ TSC tăng thì kích thước hạt nano bạc giảm và ngược lại, điều này
cũng thể hiện tính chất hoạt hóa bề mặt nổi bật của TSC, chống sự kết đám của các hạt nano
bạc trong dung dịch.
III.1.5. Ảnh hưởng của mật độ dòng điện phân lên kích thước AgNP
Trong thí nghiệm này chúng tôi giữ nguyên nồng độ TSC là c=1.5 g/l và thay đổi mật độ
dòng điện phân J từ 15 mA/cm
2
tới 50 mA/cm
2
. Kích thước của hạt nano bạc tăng tương ứng
từ 6.0 nm đến 22.9 nm.
Bảng 8: Sự phụ thuộc của kích thước hạt và đồ thị phân bố kích thước theo mật độ dòng điện
phân J và nồng độ TSC c.
J(mA/cm
2
)
c (g/l)
d (nm)
σ (nm)
15
0.5
4.0
4.8
15
1.5
6.0
2.6


11
15
3.5
12.8
1.2
30
1.5
18.9
7.5
50
1.5
22.9
9.8

Bảng 8 cho thấy sự thay đổi kích thước hạt nano bạc khi thay đổi mật độ dòng điện phân
và nồng độ TSC trong dung dịch. Ta thấy khi mật độ dòng điện tăng thì kích thước hạt nano
bạc tăng và ngược lại. Sự phụ thuộc này có thể được giải thích do mật độ dòng điện tỉ lệ với
lượng ion Ag
+
di chuyển từ cực dương tới cực âm. Trong cùng một thời gian điện phân, mật
độ dòng điện phân lớn hơn thì tạo ra các hạt nano có kích thước lớn hơn và tốc độ hình thành
hạt nhanh hơn
Nhìn vào bảng 8 chúng ta cũng thấy độ bán rộng phổ (σ) trong sự phân bố kích thước hạt
nano bạc tăng lên khi mật độ dòng điện phân tăng. Điều này có nghĩa là khi mật độ dòng điện
phân tăng lên thì hạt nano bạc càng có thêm nhiều kích thước khác nhau hay độ đồng đều về
kích thước của mẫu giảm đi.
Kết luận 6: Khi mật độ dòng điện phân thay đổi thì kích thước hạt nano bạc được tạo
thành cũng thay đổi theo. Mật độ dòng điện phân J tăng thì kích thước hạt d tăng, độ đồng
đều về kích thước giảm và ngược lại. Tốc độ tạo thành hạt nano bạc ứng với trường hợp hợp

c = 1.5 g/l và J = 50 mA/cm
2
là 2 mg/min.
III.1.6. Than hoạt tính (Activated Carbon – AC)
Diện tích bề mặt của than hoạt tính gần như tăng tuyến tính với thời gian hoạt hóa từ
khoảng 200 m
2
đối với thời gian ủ là 2h đến một giá trị tối đa là 890 m
2
/g đối với thời gian ủ
là 5h, sau đó sẽ giảm nếu thời gian ủ dài hơn. Tương tự, thể tích của các lỗ hổng của than hoạt
tính tăng gần như tuyến tính với thời gian hoạt hóa và đạt được giá trị tối đa 0.45 cm
3
/g với
mẫu có thời gian là 5h. Thời gian hoạt hóa phải đủ để sọ dừa được đốt thành than hoàn toàn,
nếu thời gian quá dài than dễ vỡ có thể sẽ bịt các lỗ hổng bên trong. Do đó, thời gian tối ưu
cho quá trình hoạt hóa là 5h. Chúng tôi đã tẩm hạt bạc lên than hoạt tính được hoạt hóa trong
5h.

12

Hình 3.8. Sự phụ thuộc của tổng diện tích bề mặt và thể tích lỗ hổng theo thời gian hoạt hóa
(trái) và đường hấp phụ - giải hấp phụ (phải) phân tích bằng phương pháp BET
Đường đẳng hấp phụ của than hoạt tính cho thấy đoạn dốc xảy ra hiện tượng trễ khi tỉ số
áp suất là P/P
o
= 0.45 (hình 3.8 phải). Điểm sai khác giữa đường hấp phụ và đường giải hấp
phụ lớn hơn có thể do cấu trúc gãy vụn của than hoạt tính. Điều này làm các lỗ hổng bị chặn
và cuối cùng sai số tại áp suất khí nitơ cao hơn.



Hình 3.9. Ảnh SEM bề mặt than hoạt tính.
Hinh 3.10. Phân bố kích thước lỗ trong than
hoạt tính.
Hình 3.10 đưa ra giản đồ phân bố kích thước lỗ trong than hoạt tính. Có một sự tập trung
rất lớn các lỗ với kích thước d từ 20 A
o
tới 50 A
o
.
Kết luận 7: Từ phương pháp phân tích BET chỉ ra rằng than hoạt tính chúng tôi chế tạo là
vật liệu mao quản trung bình (2 nm<d<5 nm) có diện tích bề mặt lớn 890 m
2
/g. Khảo sát sự
phụ thuộc của tổng diện tích bề mặt và thể tích lỗ hổng theo thời gian hoạt hóa chỉ ra thời
gian hoạt hóa tối ưu của than sọ dừa là 5 h và quá trình hấp phụ - giải hấp phụ là một quá
trình bất thuận nghịch.

13
III.1.7. Than hoạt tính tẩm hạt nano bạc (AgAC)
Trên hình 3.11a xuất hiện các đỉnh chuẩn của hạt nano bạc có cấu trúc lập phương tâm
mặt. Trên hình 3.11b xuất hiện các đỉnh trải rộng ở 22
o
và 44
o
, chúng thể hiện cấu trúc vô
định hình của than hoạt tính. Trên hình 3.11 c xuất hiện cả đỉnh trải rộng của than hoạt tính và
đỉnh nhọn sắc nét của hạt nano bạc. Điều này khẳng định hạt nano bạc đã được phân tán trên
nền than hoạt tính.



a, Phổ X-ray của hạt nano bạc (AgNP)


b, Phổ X-ray của than hoạt tính (AC)

c, Phổ X-ray của than hoạt tính tẩm hạt
nano bạc (AgAC)
Hình 3.11. Phổ X-ray của mẫu nano bạc và than hoạt tính trước và sau khi trộn vào nhau


Hình 3.12. Ảnh FE-SEM của than hoạt tính
(AC)
Hình 3.13. Ảnh FE-SEM của than hoạt tính
tẩm hạt nano bạc (AgAC)

14
Phổ EDS một lần nữa cũng khẳng định
lại các mẫu “sạch” không lẫn tạp bằng
việc không quan sát thấy phổ của bất kỳ
nguyên tố nào khác ngoài C và Ag.
Để quan sát một cách chi tiết hơn nữa
về sự phân tán của hạt nano bạc trên nền
than hoạt tính, các mẫu được mang đi
quan sát ảnh TEM.
Hình 3.14. Phổ EDS của mẫu than hoạt tính
tẩm hạt nano bạc (AgAC)
Hình 3.15 và hình 3.16 là ảnh TEM của mẫu AC và AgAC. Sự xuất hiện của các chấm đen
trên nền mờ hơn của than hoạt tính chỉ ra sự có mặt của hạt nano bạc, các chấm đen này có
kích thước trung bình khoảng 30 nm tới 40 nm.



Hình 3.15. Ảnh TEM của mẫu than hoạt
tính (AC)
Hình 3.16. Ảnh TEM của mẫu than hoạt
tính có tẩm nano bạc (AgAC)
Kết luận 8: Từ kết quả các phép đo đối với mẫu than hoạt tính và than hoạt tính tẩm nano
bạc chúng ta có thể thấy các mẫu vật liệu được chế tạo có độ sạch cao, hạt nano bạc phân tán
tốt trên nền than hoạt tính và không bị thay đổi kích thước so với ban đầu.
III.2. Nghiên cứu khả năng diệt khuẩn của AgNP và AgAC
III.2.1. Nghiên cứu định tính khả năng diệt khuẩn của AgNP và AgAC


15
Hình 3.17. Nghiên cứu khả năng diệt khuẩn của vật liệu: (A) đối chứng âm, (B) than hoạt
tính, (C) than hoạt tính tẩm hạt nano bạc
Kết quả của đĩa (A- môi trường thạch) được chỉ ra trên hình 3.17 A cho thấy sự phát triển
bình thường của vi khuẩn E.coli do sự có mặt của các đốm trắng trên bề mặt đĩa thạch. Hình
3.17 B là kết quả của đĩa (B- môi trường thạch có thêm 0.15 g than hoạt tính) cũng cho thấy
sự phát triển bình thường của vi khuẩn E.coli. Điều này chỉ ra rằng than hoạt tính không ngăn
chặn được sự phát triển của E.coli hay không có tác dụng diệt khuẩn. Ngược lại, trên bề mặt
đĩa (C- môi trường thạch có thêm 0.15 g than hoạt tính tẩm hạt nano bạc với tỷ lệ 1%) không
quan sát thấy các đám vi khuẩn E.coli (hình 3.17 C).
Kết luận 9: Từ thí nghiệm nghiên cứu khả năng diệt khuẩn của than hoạt tính và than hoạt
tính tẩm hạt nano bạc ở trên, chúng ta thấy than hoạt tính có khả năng hấp phụ tốt nhưng lại
không có tác dụng diệt khuẩn, việc tẩm thêm hạt nano bạc có tác dụng diệt khuẩn mạnh vào
than hoạt tính làm cho vật liệu mới này ngoài tác dụng hấp phụ tốt còn có thêm đặc tính diệt
khuẩn mạnh. Đây hứa hẹn là 1 loại vật liệu có khả năng ứng dụng cao vào rộng rãi trong
thực tế.
III.2.2. Nghiên cứu định lượng khả năng kháng khuẩn của AgNP - Nồng độ ức chế tối

thiểu (MIC)

Hình 3.18. Biểu đồ sự phát triển theo thời gian của vi khuẩn E. Coli trong các môi trường
đối chứng âm, đối chứng TSC và môi trường dung dịch nano bạc có nồng độ thay đổi.
Trong vi sinh, nồng độ ức chế tối thiểu (The Minimal Inhibitory Concentration - MIC) là
nồng độ thấp nhất của một kháng sinh mà sẽ ức chế sự phát triển của vi sinh vật có thể quan
sát sau một thời gian đủ dài thường là ủ qua đêm (24 h hoặc 30 h). E. Coli vẫn phát triển trong
các ống có nồng độ nano bạc ≤ 12 µg/mL và bị ức chế trong các ống có nồng độ nano bạc ≥
16 µg/mL.

16
Do vậy nồng độ tác dụng tối thiểu (MIC) của hạt nano bạc đối với vi khuẩn E. Coli là 16
µg/mL.
Kết luận 10: Kết quả thí nghiệm trên cho ta giá trị đinh lượng chính xác khả năng ức chế
vi khuẩn của hạt nano bạc MIC=16 µg/mL, kết quả này khá tương đồng với khả năng ức chế
vi khuẩn tối thiểu của các loại kháng sinh. Nó chỉ ra hướng ứng dụng ức chế vi khuẩn của hạt
nano bạc trong y sinh và môi trường như một vật liệu tiềm năng mà vi khuẩn không có khả
năng kháng lại.
III.3. Nghiên cứu khả năng hấp phụ của AC và AgAC
III.3.1. Cơ chế hấp phụ MB của AC
Lượng MB được hấp phụ trên một đơn vị khối lượng của AC q (mg/g) phụ thuộc vào nồng
độ ban đầu của MB C
0
(mg/L), nồng độ của MB C (mg/L) tại thời điểm t, thể tích dung dịch
V (l), khối lượng AC được sử dụng m (g) theo công thức:
q =
Để giải thích cơ chế hấp phụ MB của AC, mô hình động học và mô hình đường đẳng nhiệt
được đưa ra.
Với mô hình động học, có 3 mô hình thường được sử dụng là: giả thuyết thứ nhất (The
pseudo – first – order model), giả thuyết thứ hai (Ho’s pseudo – second – order model) và mô

hình Elovich (Elovich model). Các phương trình tương ứng mô tả cho đúng cho những mô
hình này là:

)1(
1
tk
e
eqq


(1)


tkq
tkq
q
e
e
2
2
2
1

(2)
(3)
Trong đó: q
e
là lượng chất hấp bị
hấp phụ (MB) trên một đơn vị chất hấp phụ
(AC) tại trạng thái cân bằng.

k
1
là hằng số tốc độ của giả thuyết hấp phụ thứ nhất.
k
2
là hằng số tốc độ của giả thuyết hấp phụ thứ hai.
a là tốc độ hấp phụ ban đầu.
b là hằng số của giải hấp phụ.
Khớp dữ liệu thực nghiệm với các phương trình của các mô hình tương ứng sẽ đưa ra cơ
chế của quá trình hấp phụ [21, 23, 24, 26].
b
abt
q
)1ln( 


17
Với mô hình đường đẳng nhiệt, có một số mô hình được sử dụng nhưng 2 mô hình được sử
dụng phổ biến nhất là mô hình Langmuir và mô hình Freundlich.
Mô hình Langmuir đưa ra giả thiết: trên bề mặt chất hấp phụ tất cả các vị trí là như nhau và
có năng lượng tương đồng. Điều này ngụ ý rằng mỗi vị trí có thể giữ một phân tử chất bị hấp
phụ, sự hấp phụ chỉ xảy ra tại đơn lớp [21, 24].
Mô hình Freundlich giả thiết: năng lượng bề mặt không đồng nhất. Sự không đồng nhất
của bề mặt là do sự có mặt của những nhóm chức khác nhau trên bề mặt và tồn tại một số
tương tác giữa chất bị hấp phụ và chất hấp phụ [26].
Phương trình đường đẳng nhiệt tương ứng với 2 mô hình Langmuir và Freundlich có dạng:

ea
eam
e

ck
ckq
q


1
(4)

n
eFe
ckq
/1

(5)
Trong đó: q
m
là dung lượng hấp phụ tối đa (q
e
) của một đơn lớp.
k
a
là hằng số hấp phụ tại trạng thái cân bằng.
k
F
là hằng số hấp phụ Freundlich.
1/n là giá trị cường độ hấp phụ.
C
e
nồng độ dung dịch tai trạng thái cân bằng (mg/L).
Hình 3.19 chỉ ra lượng MB bị hấp phụ bởi AC như một hàm của thời gian (phút).

Điều kiện của những thí nghiệm là nồng độ ban đầu của dung dịch MB là C
0
= 100÷500
(mg/L), lượng AC là 0.2 g/200 mL, nhiệt độ phòng.


Hình 3.19. So sánh giữa kết quả thực
nghiệm (các điểm rời rạc) và giả thuyết
động học thứ 2 (các đường cong liền nét).
Trong khoảng 20 phút đầu tiên, khoảng 70% phân tử MB bị hấp phụ, sau đó số lượng vị trí
trống khả dĩ giảm dần và quá trình hấp phụ dần đi tới trạng thái bão hòa. Khớp số liệu thực
nghiệm với 3 mô hình động học chỉ ra rằng: giả thuyết động học thứ 2 là tốt nhất cho việc mô
tả cơ chế hấp phụ MB của AC. Hệ số tương quan R
2
là cao hơn 0.998. Giá trị q
e tính toán
liên hệ

18
với giá trị q
e thực nghiệm
được chỉ ra trong bảng 9. Khớp số liệu thực nghiệm với các mô hình
động học khác cho ta hệ số tương quan thấp hơn 0.8.
Bảng 9: Khớp thông số với phương trình động học thứ 2
c
0
(mg/L)

exp
e

q
(mg/g)
cal
e
q
(mg/g)
)10(
3
2

k

2
R

100
89.8
89.4
2.4
1.00
200
171.5
174.8
0.4
0.998
300
190.6
198.4
0.4
0.999

400
201.8
207.5
0.4
0.998
500
237.5
245.1
0.5
0.999
Áp dụng cho nghiên cứu này, tốc độ hấp phụ MB được quyết định bởi khả năng hấp phụ
của những vị trí trên bề mặt AC hơn là nồng độ của của MB.
Để xác định được các hệ số theo 2 mô hình Langmuir và Freundlich, ta đưa 2 phương trình
tương ứng về dạng đường thẳng:

e
mmae
e
c
qqkq
c
11

(6)
eFe
c
n
kq log
1
loglog 

(7)
Hệ số tương quan R
2
được chỉ ra cho mô hình Langmuir và mô hình Freundlich tương ứng
là 0.98 và 0.79. Từ đây ta thấy rằng mô hình Langmuir là phù hợp hơn mô hình Freudlich
trong việc miêu tả cơ chế hấp phụ của AC và 240 mg/g là giá trị thu được cho khả năng hấp
phụ tối đa của một đơn lớp (q
m
) theo mô hình Langmuir.
Kết luận 11: Qua việc nghiên cứu cơ chế hấp phụ MB của mẫu AC chế tạo, chúng ta thấy
rằng: sự hấp phụ MB của AC được quyết định bởi khả năng hấp phụ của những vị trí trên bề
mặt AC hơn là nồng độ của của MB và khả năng hấp phụ tối đa của một đơn lớp (q
m
) là 240
mg/g.
III.3.2. Ảnh hưởng của pH lên khả năng hấp phụ MB của AC
Để nghiên cứu ảnh hưởng của pH dung dịch lên sự hấp thụ MB, thí nghiệm được tiến hành
với nồng độ MB ban đầu là 500 mg/L, 200 mg than hoạt tính, 200 mL dung dịch ở nhiệt độ
25 °C.
Giả thiết rằng việc tăng sự hấp phụ phụ thuộc vào tính chất bề mặt của chất hấp phụ (AC)
và cấu trúc chất bị hấp phụ (MB). Khi dung dịch có pH thấp, nồng độ ion H
+
trong dung dịch
là rất lớn, lúc này các ion H
+
tham gia “ tranh chấp” các vị trí hấp phụ mang điện tích âm trên

19
bề mặt than hoạt tính [22, 23, 26]. Chính điều này làm giảm khả năng hấp thụ các cation MB
trong dung dịch.

Khi pH dung dịch lân cận giá trị trung tính (pH = 7) thì thực chất nồng độ H
+
là rất thấp
(10
-5
tới 10
-7
ion H
+
/l), với nồng độ H
+
nhỏ như vậy thì chúng ít có khả năng “ tranh chấp” các
vị trí hấp phụ trên bề mặt AC nên ở khoảng pH này lượng hấp phụ MB của AC là gần như
không đổi.



Hình 3.21. Khả năng hấp phụ MB
của AC phụ thuộc vào độ pH của
dung dịch và sự phụ thuộc của thế
Zeta vào độ pH.

Để chứng minh cách giải thích định tính bên trên, chúng tôi đã đo thế Zeta bề mặt của AC
tại các giá trị pH khác nhau. Thế Zeta chỉ ra điện tích bề mặt của AC thay đổi tại giá trị pH =
3.2. Điều đó có nghĩa là tại giá trị pH < 3.2, điện tích bề mặt của AC là dương, điều này dẫn
tới giá trị q
e
thấp. Tại giá trị pH > 3.2, điện tích bề mặt AC là âm, do đó một số lượng lớn
cation MB được hấp phụ trên bề mặt AC.
Kết luận 12: Việc thay đổi độ pH của dung dịch đã làm điện tích bề mặt của AC biến đổi,

điều này làm cho khả năng hấp phụ MB của AC cũng thay đổi theo. Sự thay đổi này là khác
nhau với những khoảng pH khác nhau, pH càng thấp thì sự thay đổi càng lớn, và không có sự
khác biệt nhiều về khả năng hấp phụ của AC khi pH ở mức trung tính.
III.3.3. So sánh khả năng hấp phụ của AC và AgAC
Chúng tôi đã kiểm tra khả năng hấp phụ MB của AC và AgAC với nồng độ MB ban đầu là
C
0
= 200 mg/L. Kết quả được trình bày trong hình 3.22 a.
Chúng ta không tìm thấy sự khác biệt rõ rệt giữa 2 đường hấp phụ MB của AC và AgAC
trong hình 3.22 a. Điều này chứng tỏ sự có mặt của AgNP với tỷ lệ 1% không gây ra ảnh
hưởng đáng kể lên khả năng hấp phụ MB cũng như tính chất bề mặt của AC. Sự tương đồng
giữa đường hấp phụ - giải hấp phụ của AC và AgAC trong hình 3.22 b một lần nữa xác nhận
kết luận trên.

20


Hình 3.22 a. So sánh khả năng hấp phụ
MB của AC và AgAC.
Hình 3.22 b. Đường hấp phụ và giải hấp phụ
của AC và AgAC.
Khả năng hấp phụ của AC và AgAC là khác nhau khi chất bị hấp phụ là Asen (As).
Kết quả chỉ ra rằng với 2 g AC và AgAC trên 1 lít dung dịch pH trung tính, AC làm giảm
lượng As đi 5.5% trong khi AgAC làm giảm lượng As đi 17.1%. Đã có một sự cải tiến trong
khả năng loại bỏ ion As
+
khi AgNP được phân tán trên nền AC.
Giá trị năng lượng tự do của quá trình hấp phụ Asen của than là 12.909 kJ.mol
-1
, và của

than chứa bạc là 22.360 kJ.mol
-1
[39]. Số liệu này chỉ ra rằng quá trình hấp phụ Asen của
AgAC là một tương tác hóa học mạnh, chính điều này đã dẫn tới khả năng hấp phụ Asen vợt
trội của AgAC so với AC.
Kết luận 13: Khả năng hấp phụ của AC và AgAC là không có sự khác biệt lớn khi chất bị
hấp phụ là MB do diên tích bề mặt của 2 vật liệu là gần như nhau hay lượng AgNP phân tán
vào AC không làm thay đổi đáng kể tính chất bề mặt của AC. Nhưng khả năng hấp phụ của 2
vật liệu này là khác nhau khi chất bị hấp phụ là Asen. AgAC là vật liệu có khả năng hấp phụ
Asen tốt hơn, từ đây mở ra khả năng ứng dụng của vật liệu này vào lĩnh vực diệt khuẩn và xử
lý môi trường.

References
Tài liệu tiếng anh
1. Ivan Sondi and Branka Salopek-Sondi, Silver nanoparticles as antimicrobial agent:
a case study on E. coli as a model for Gram-negative bacteria, Journal of Colloid
and Interface Science 275 (2004) 177–182
2. Woo Kyung Jung, Hye Cheong Koo,

Ki Woo Kim,

Sook Shin, So Hyun Kim, and
Yong Ho Park: Antibacterial Activity and Mechanism of Action of the Silver Ion
in Staphylococcus aureus and Escherichia coli, Appl Environ Microbiol. 2008

21
April; 74(7): 2171–2178
3. Virender K. Sharma, Ria A. Yngard, Yekaterina Li, Silver nanoparticles,Green
synthesis and their antimicrobial activities, Advances in Colloid and Interface
Science 145 (2009) 83–96

4. T.D. Reynolds, P. A. Richards, Unit Operations and Processes in Environment
Enginneering, 2
nd
ed. Publishing Co, p.25.
5. Nelson Durán, Priscyla D. Marcato, Roseli De Conti, Oswaldo L. Alves, Fabio T.
M. Costa, Marcelo Brocchi; Potential use of Silver Nanoparticles on pathogenic
bacteria, their toxicity and possible mechanisms of action; J. Braz. Chem. Soc. 21
(2010) No. 6, 949-959.
6. JianXu, XiaHan, HonglaiLiu,YingHu, Synthesis and optical properties of silver
nanoparticles stabilized by gemini surfactant, Colloids and Surfaces A:
Physicochem. Eng. Aspects 273 (2006) 179–183.
7. D. Jain, H. Kumar Daima, S. Kachhwaha, S. L. Kothari; Synthesis of plant –
mediated silver nanoparticles using papaya fruit extract and evaluation of their
antimicrobial activities; Digest Journal of Nanomaterials and Biostructures 4 (2009)
No. 3,p. 557 – 563.
8. Chang Chen, Li Wang, Guohua Jiang and Haojie Yu; Chemical preparation of
special – shaped metal nanomaterials through encasulation or inducement in soft
solution; Rev. Adv. Mater. Sci. 11 (2006) 1 – 18.
9. Hongyan Liang, Zhipeng Li, Wenzhong Wang, Youshi Wu, and Hongxing Xu;
Highly Surface-roughened ‘‘Flower-like’’ Silver Nanoparticles for Extremely
Sensitive Substrates of Surface-enhanced Raman Scattering; Adv. Mater 21 (2009)
p4614–4618.
10. David Bl´azquez S´anchez; The Surface Plasmon Resonance of Supported Noble
Metal Nanoparticles: Characterization, Laser Tailoring, and SERS Application;
PhD Thesis, Department of Chemistry, University of the Kassel von 2007.
11. Dhermendra K. Tiwari1, J. Behari, P. Sen; Time and dose-dependent antimicrobial
potential of Ag nanoparticles synthesized by top-down approach; CURRENT
SCIENCE 95 (2008) No. 5, p 647 – 655.
12. Jun Sung Kim, Eunye Kuk, Kyeong Nam Yu, Jong-Ho Kim, Sung Jin Park, Hu Jang
Lee, So Hyun Kim, Young Kyung Park, Yong Ho Park, Cheol-Yong Hwang, Yong-

Kwon Kim, Yoon-Sik Lee, Dae Hong Jeong, Myung-Haing Cho; Antimicrobial

22
effects of silver nanoparticles; Nanomedicine: Nanotechnology, Biology, and
Medicine 3 (2007) 95– 101.
13. Pavel Dibrov, Judith Dzioba, Khoosheh K. Gosink, Claudia C. Hase; Chemiosmotic
Mechanism of Antimicrobial Activity of Ag
+
in Vibrio cholerae; Antimicrobial
Agents and Chemotherapy 46 (2002) No.8, p2668 – 2670.
14. AngshumanPal, SunilShah, SurekhaDevi, Microwave-assisted synthesis of silver
nanoparticles using ethanol as a reducing agent, Material chemistry and physics
114 (2009) 530–532.
15. Zheng Min, Ang Zuo-shan, Zhu Ya-we; Preparation of silver nanoparticles via
active template under ultrasonic; Trans. Nonferrous Met. SOC. China 16 (2006)
1348-1352.
16. SukdebPal, YuKyungTak, JoonMyongSong, Does the Antibacterial Activity of
Silver Nanoparticles Depend on the Shape of the Nanoparticle? Astudy of the
Gram-Negative, Bacterium Escherichiacoli; Applied and environmental
microbiology 73 (2007) 1712–1720.
17. H. Hofmeister, G.L. Tan, M. Dubiel; Shape and internal structure of silver
nanoparticles embedded in glass; J. Mater. Res. Vol. 20, No. 6, Jun 2005.
18. Hongyan Liang, Huaixin Yang, Wenzhong Wang, Jianqi Li, Hongxing Xu; High-
Yield Uniform Synthesis and Microstructure Determination of Rice-Shaped Silver
Nanocrystals; J. Am. Chem. Soc., 2009, 131 (17), 6068-6069.
19. Hy e o n g - H o Pa r k , Xin Z hang, Yong-June C hoi, Hy u n g - H o Pa r k , and
Ross H. Hill, Synthesis of Ag Nanostructures by Photochemical Reduction Using
Citrate-Capped Pt Seeds, Journal of Nanomaterials Volume 2011, Article ID
265287,7 pages, doi:10.1155/2011/265287
20. Jorge Pérez – Juste, Isabel Pastoriza – Santos, Luis M.Liz – Marzán, Paul

Mulvaney; Gold nanorods: Synthesis, characterization and applications;
Coordination Chemistry Reviews 249 (2005) 1870 – 1901.
21. V. Zawani Z, Luqman Chuah A, Thomas S. Y. Choong, Equilibrium, Kinetics and
Thermodynamic Studies: Adsorption of Remazol Black 5 on the Palm Kernel Shell
Activated Carbon (PKS-AC), European Journal of Scientific Research ISSN 1450-
216X Vol.37 No.1 (2009), pp.67-76.

23
22. T. Santhi, S. Manonmani, Removal of Methylene blue from aqueous solution by
bioadsorption onto Ricinus communis epicarp activated carbon, Chemical
Engineering Research Bulletin 14 (2010) 11-18.
23. B.H.Hameed *, R.R. Krishni, S.A. Sata: A novel agrcultural waste adsorbent for
removal of cationic dye from aqueous solutions, Journal of Hazardous Materials 162
(2009) 305–311.
24. I.A.W. Tan, A.L. Ahmad, B.H. Hameed: Adsorption of basic dye on high-surface-
area activated carbon prepared from coconut husk: Equilibrium, kinetic and
thermodynamic studies, Journal of Hazardous Materials 154 (2008) 337–346.
25. B. H Hameed, A. T. M. Din, A. L. Ahmad: Adsorption of methylene blue onto
bamboo- based active carbon: kinetics and equibrium studies, Journal of Hazardous
Materials 141 (2007) 819–825.
26. B. H. Hameed, M. I. El – Khaiary: Equilibrium, Kinetics and mechanism of
malachite green adsoption on activated carbon prepared from bamboo by K
2
CO
3

activation and subsequent gasification with CO
2
, Journal of Hazardous Materials
157 (2008) 344–351

27. Master of Science thesis in process technology by Bjørnar Jensen, Department of
Physics and Technology University of Bergen, Norway November 2009: Modeling
Trapping Mechanism for PCB Adsorption on Activated Carbon
28. S. Pal, Y.K. Tak, J. Joardar, W. Kim, J.E. Lee, M.S. Han, J.M. Song,
Nanocrystalline silver supported on activated carbon matrix from hydrosol:
antibacterial mechanism under prolonged incubation conditions, J. Nanosci.
Nanotechnol. 9(2009) 2092–2103
29. P.C. Lee, D. Meisel, Adsorption and surface-enhanced raman of dyes on silver and
gold sols, J. Phys. Chem. 86 (1982) 3391–3395
30. V.I. Klimov (Ed.), Semiconductor and Metal Nanocrystals: Synthesis and
Electronic and Optical Properties, Marcel Dekker, New York, 2004
31. R.A. Alvarez-Puebla, D.J. Ross, G A. Nazri, R.F. Aroca, Surface-enhanced Raman
scattering on nanoshells with tunable surface plasmon resonance, Langmuir 21
(2005) 10504–10508.
32. S. Link, M.A. El-Sayed, Shape and size dependence of radiative, non-radiative and
photothermal properties of gold nanocrystals, Int. Rev. Phys. Chem. 19 (2000) 409–
453

24
33. G. Crini, H. Peindy, F. Gimbert, C. Robert, Removal of c.i. basic green 4 (malachite
green) from aqueous solutions by adsorption using cyclodextrinbased adsorbent:
kinetic and equilibrium studies, Sep. Purif. Technol. 53 (2007) 97–110
34. R. Malik, D. Ramteke, S. Wate, Adsorption of malachite green on ground-nut shell
waste based powdered activated carbon, Waste Manage. 27 (2007) 1129–1138.
35. C.A. Basar, Applicability of the various adsorption models of three dyes adsorption
onto activated carbon prepared waste apricot, J. Hazard. Mater. 135 (2006) 232–
241.
36. I.D. Mall, V.C. Srivastava, N.K. Agarwal, I.M. Mishra, Adsorptive removal of
malachite green dye from aqueous solution by bagasse fly ash and activated
carbon-kinetic study and equilibrium isotherm analyses, Colloids Surf. A 264

(2005) 17–28.
37. Y. Liu, New insights into pseudo-second-order kinetic equation for adsorption,
Colloids Surf., A 320 (2008) 275–278.
38. D. Kavitha, C. Namasivayam, Experimental and kinetic studies on methylene blue
adsorption by coir pith carbon, Bioresour. Technol. 98 (2007) 14–21
39. R. Selvakumar, N.A. Jothi, V. Jayavignesh, K. Karthikaiselvi, G.I. Antony, P.
Sharmila, S. Kavitha, K. Swaminathan, As(V) removal using carbonized yeast cells
containing silver nanoparticles, Water Res. 45 (2011) 583–592.
40. S. Kim, S.S. Kim, Y.J. Bang, S.J. Kim, B.J. Lee, In vitro activities of native and
designed peptide antibiotics against drug sensitive and resistant tumor cell lines,
Peptides 24 (2003) 945–953.

Tài Liệu tiếng Việt
41. Nguyễn Thế Khôi, Nguyễn Hữu Mình, Giáo trình Vật lí chất rắn, Nhà xuất bản giáo
dục, 1992
42. Nguyễn Ngọc Long, Giáo trình Vật lý chất rắn, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia,
2008
43. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty, Vi sinh vật học, Nhà xuất
bản giáo dục, 2009
44. Nguyễn Văn Hùng, Giáo trình Vật lí tia X.
45. Nguyễn Thị Thu, Giáo trình hoá keo, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm 2002.

25
46. PGS.TS. Đỗ Đình Rãng, PGS.TS. Đặng Đình Bạch, PGS.TS. Lê Thị Anh Đào, THs.
Nguyễn Mạnh Hà, TS. Nguyễn Thị Thanh Phong, Hoá học hữu cơ 3, Nhà xuất bản
giáo dục 1999.

Websize
47. />4%83ng_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_tia_X
48.

49. />xac-dinh-nong-do-khang-sinh-toi-thieu-uc-che-vi-khuan-MIC.vhtm
50.
51.
52. Roop Chand Bansal, Punjab
University, Chandigarh, India; Meenakshi Goyal, Punjab University, Chandigarh,
India, Activated Carbon Adsorption, May 24, 2005 by CRC Press - 520 Pages
53. />m
54.
55.

×