Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

Hoạt động của hội đồng dân tộc và các ủy ban của quốc hội thực trạng và hướng hoàn thiện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (380.46 KB, 13 trang )

Hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy
ban của Quốc hội - Thực trạng và
hướng hoàn thiện


Đỗ Thị Như Hảo


Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Đăng Dung
Năm bảo vệ: 2010


Abstract. Nghiên cứu sự hình thành các Ủy ban thường trực trong Quốc hội/ Nghị
viện các nước trên thế giới và sự ra đời của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban trong
Quốc hội nước ta. Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của Hội đồng dân tộc
và các Ủy ban của Quốc hội, trong đó tập trung vào hai hoạt động chính là hoạt động
thẩm tra và hoạt động giám sát. Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của
Quốc hội.

Keywords. Luật Hiến pháp; Quốc hội; Pháp luật Việt Nam


Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với tầm quan trọng trong hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
như Điều 83 Hiến pháp và điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội qui định: "Quốc hội là cơ quan đại


biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; Quốc
hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân; Quốc hội thực hiện quyền giám
sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước". Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được
đảm bảo bằng Kỳ họp Quốc hội, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, hoạt động của
Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội.
Cùng sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, thời gian qua, hoạt động của Quốc hội đã
không ngừng được đổi mới, khẳng định vị thế, vai trò quan trọng của cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất trong bộ máy nhà nước. Đánh giá những kết quả đã đạt được, tại báo cáo cố
18/BC-QH11, ngày 27 tháng 4 năm 2007, do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trình bày
tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XI nêu rõ: "Quốc hội khóa XI là nhiệm kỳ Quốc hội có
nhiều đổi mới về tổ chức, hoạt động, thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng nhiệm vụ của
mình. Hoạt động lập pháp được đẩy mạnh, số lượng, chất lượng được nâng lên. Hoạt động
giám sát đã mang tính định hướng, đi vào trọng tâm, có nhiều đổi mới về nội dung và hình
thức, đạt được những kết quả bước đầu rất tích cực. Việc quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước thực chất hơn, giảm dần tính hình thức. Hoạt động ngoại giao nghị viện tiếp tục
được mở rộng và tăng cường. Phương thức hoạt động, lề lối làm việc ngày càng phát huy
dân chủ; nhân dân quan tâm và tin tưởng hơn vào Quốc hội. Những kết quả đạt được này do
có sự lãnh đạo đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng; Quốc hội đã kế thừa và phát huy tốt
thành quả sự nghiệp đổi mới của đất nước và của Quốc hội các nhiệm kỳ trước; do nhận thức
của cả hệ thống chính trị và xã hội được nâng lên, sự đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng và tinh thần cộng tác phối hợp chặt chẽ của Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
các cơ quan hữu quan và nhân dân. Đồng thời cũng là từ sự nỗ lực phấn đấu, đổi mới mạnh
mẽ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các vị đại biểu
Quốc hội".
Phát huy những thành tựu đạt được, cùng xu hướng phát triển chung của đất nước, cơ cấu,
tổ chức của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đã và đang được nghiên cứu để có những qui
định phù hợp. Bên cạnh đó, công tác lập pháp, giám sát cũng từng bước được cải tiến, đổi mới

để tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động của Quốc hội. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng
Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội cũng được bố trí hợp lý hơn. Thường trực Hội đồng Dân tộc
và các Ủy ban cũng là những đại biểu quốc hội có uy tín, có kinh nghiệm hoạt động Quốc hội.
Năng lực hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội ngày càng được nâng
lên. Nhiều báo cáo thẩm tra, thuyết trình và kết luận, kiến nghị của các cơ quan Quốc hội - có
chất lượng cao, phản ánh trúng thực tế cuộc sống, có tính thuyết phục cao
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh, hoạt động của Quốc hội vẫn còn nhiều yếu kém.
Tại Báo cáo công tác của Quốc hội nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI đã ghi: "Bên cạnh những kết
quả đạt được, hoạt động của Quốc hội cũng còn những hạn chế: chất lượng một số dự án
luật, pháp lệnh chưa cao; quy trình lập pháp có đổi mới nhưng vẫn còn nhiều công đoạn có
thể rút ngắn, việc đổi mới chưa đồng bộ; hoạt động giám sát hiệu quả chưa cao, hiệu lực còn
hạn chế; giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật chưa làm được nhiều….Việc
quyết định các vấn đề quan trọng tuy đã có tiến bộ nhưng vấn phải tiếp tục khắc phục tính
hình thức… Tổ chức của Quốc hội vẫn chưa ngang tầm với nhiệm vụ". Những tồn tại ở trên
cũng một phần bắt nguồn từ hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội
hiện nay. Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội với địa vị pháp lý là những cơ quan
của Quốc hội, có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và các dự
án khác; thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; trình
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực
hiện quyền giám sát; kiến nghị với Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải thích Hiến pháp,
luật, pháp lệnh và những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Hội đồng dân
tộc, Ủy ban của Quốc hội có quyền kiến nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc
hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê
chuẩn. Nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội, cũng như mong muốn góp phần nhỏ vào việc kiện toàn các cơ quan chuyên môn của
Quốc hội, tôi xin chọn đề tài: "Hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội - Thực trạng và hướng hoàn thiện".
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động của Hội đồng dân tộc và
các Ủy ban của Quốc hội, nhưng trong điều kiện đổi mới đất nước, tình hình quốc tế có nhiều

biến đổi lớn với xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa một cách mạnh mẽ cũng đòi hỏi phải
phân tích, đánh giá và nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò cũng như hoạt động của Hội đồng
dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội phục vụ mục đích tiếp tục hoàn thiện nhà nước pháp
quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong phạm vi đề tài của mình, tác giả sẽ tập trung đi sâu
vào hai mảng hoạt động chính và cơ bản của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội đó
là hoạt động thẩm tra và hoạt động giám sát.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích
Mục đích của đề tài là làm rõ hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội -
thực trạng và đề ra giải pháp hoàn thiện. Để đạt được mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ nghiên
cứu về nguồn gốc, tính chất, vai trò, chức năng của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội,
nhằm chỉ ra những tồn tại, đề xuất những giải pháp để tiếp tục đổi mới hoạt động đặc biệt là hoạt
động thẩm tra và hoạt động giám sát nhằm góp phần phát huy vai trò của Quốc hội trong quá trình
xây dựng Nhà nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
* Nhiệm vụ
Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu sự hình thành các ủy ban thường trực trong Quốc hội/ Nghị viện các nước
trên thế giới và sự ra đời của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban trong Quốc hội nước ta.
- Đánh giá thực trạng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong
đó tập trung vào hai hoạt động chính là hoạt động thẩm tra và hoạt động giám sát.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn tác giả có đưa ra một số đề xuất phương hướng và giải
pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của
Quốc hội.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Là một đề tài thuộc chuyên ngành Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, những vấn đề
được nêu ra trong luận văn được khái quát thông qua việc phân tích, tổng hợp những nội
dung liên quan đến việc quy định của pháp luật về hoạt động thẩm tra và giám sát của Hội
đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Bên cạnh đó, tác giả phân tích, tổng hợp thực
trạng của các hoạt động này để đề ra những giải pháp nhằm đổi mới hoạt động của Hội đồng
dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay.

5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Dựa trên phương pháp luận của triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các
nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nguyên
tắc của lý luận về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng về Nhà nước, pháp luật
trong thời kỳ đổi mới, Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp
thống kê, phân tích, phương pháp rà soát, tập hợp, tổng hợp, so sánh
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Một là, dựa vào những tài liệu, luận văn đã tìm hiểu những chế định của pháp luật quốc
tế và pháp luật Việt Nam về hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.
Hai là, dựa vào tình hình hoạt động hiện nay của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của
Quốc hội tác giả đánh giá những mặt đã làm được và những mặt còn tồn tại trong hoạt động
của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Đây là những đóng góp nhằm tổng kết
thực tiễn hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội tập trung vào hai mảng
hoạt động chính là thẩm tra và giám sát, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các
cơ quan này.
Ba là, luận văn đã đề xuất những phương hướng và giải pháp có tính khả thi, góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong giai
đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội
Chương 2: Thực trạng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.
Chương 3: Đổi mới hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI ĐỒNG DÂN TỘC
VÀ CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI
1.1. Sự ra đời và khái niệm Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của quốc hội
1.1.1. Sự cần thiết phải có cơ quan chuyên môn trong hoạt động của Quốc hội

1.1.1.1. Sự hình thành các ủy ban thường trực trong Quốc hội/ Nghị viện
Ủy ban của Nghị viện là một cơ cấu tổ chức được thành lập chính thức ở hầu hết tất cả
Nghị viện các nước trên thế giới. Sự hiện diện của các ủy ban bắt nguồn từ nhu cầu khách
quan của hoạt động của cơ quan đại diện: với một cơ quan lớn và đông đảo như nghị viện
hoặc từng viện thì việc thảo luận bất kỳ vấn đề gì cũng không thể có hiệu quả nếu không có
sự xem xét trước. Hơn nữa càng ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề thuộc trách nhiệm xem xét
của nghị viện. Vì vậy mà vị trí các ủy ban của nghị viện ngày càng phát triển và cần thiết cho
việc thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của nghị viện.
Ủy ban Nghị viện xuất hiện đầu tiên ở Viện bình dân Anh với tư cách là ủy ban của toàn
viện (Committee of the whole House). Đến cuối thế kỷ XIX, do nhu cầu ngày càng phải xem
xét nhiều dự luật và mang tính chuyên môn cao nên người ta đi đến sự cần thiết phải tổ chức
những ủy ban tồn tại thường xuyên với những trình tự hoạt động được quy định một cách chặt
chẽ từ đó được gọi là ủy ban thường trực.
Phân loại Ủy ban:
- Ủy ban thường trực
- Ủy ban lâm thời
1.1.1.2. Sự cần thiết phải có các Ủy ban trong hoạt động của Quốc hội
Ủy ban của Quốc hội được định nghĩa một cách đơn giản là một tập hợp các nghị sĩ được
phân công làm một số công việc cụ thể của Quốc hội. Ủy ban được hình thành là một yêu cầu
tất yếu và bắt nguồn bởi những nguyên nhân sau:
- Việc duy trì hệ thống Ủy ban giúp cho công việc của Nghị viện được chia nhỏ thành
những nội dung cụ thể.
- Giúp cho các nghị sĩ được chuyên môn hóa và dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với công
việc phù hợp với trình độ chuyên môn của mình.
- Có thể dễ dàng tiến hành thu thập và xử lý thông tin làm cơ sở cho các quyết định của
nghị viện.
1.1.2. Sự ra đời Hội đồng dân tộc và các Ủy ba trong Quốc hội nước ta
Tính từ năm 1946 đến nay, Quốc hội đã trả qua gần 12 khóa hoạt động, nhưng cơ quan
chuyên môn (gồm Hội đồng dân tộc và các Ủy ban) lại mới chỉ ra đời và hoạt động từ năm
1960 đến nay. Cũng không phải tất cả các cơ quan chuyên môn nhất loạt cùng lúc ra đời, mà

là sự hình thành và phát triển dần dần qua các khóa Quốc hội.
- Khóa I (1946-1960), Quốc hội chưa có cơ quan chuyên môn nào.
- Khóa II (1960-1964), Quốc hội mới thành lập hai Ủy ban, đó là Ủy ban Dự án pháp luật
và Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách.
- Khóa III (1964-1971), ở khóa này, Quốc hội đã thành lập 5 Ủy ban, ngoài hai Ủy ban
được thành lập tại Quốc hội khóa II, thì có thêm Ủy ban Dân tộc, Ủy ban Thống nhất và Ủy
ban Văn hóa xã hội.
- Khóa IV (1971-1975), Quốc hội vẫn duy trì 5 Ủy ban như khóa III.
- Khóa V (1975-1976), Quốc hội thành lập thêm Ủy ban Đối ngoại.
- Khóa VI (1976-1981), sau khi thống nhất đất nước, Ủy ban Thống nhất cũng chấm dứt
vai trò lịch sử của mình.
- Khóa VII (1981-1987), và khóa VIII (1987-1992), Quốc hội được tổ chức và hoạt động
theo Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981. Ở hai khóa này, Quốc hội thành
lập 8 cơ quan chuyên môn, bao gồm Hội đồng Dân tộc và 7 Ủy ban (Ủy ban pháp luật, Ủy
ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Ủy ban khoa học và kỹ
thuật, Ủy ban Y tế và Xã hội, Ủy ban Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, Ủy ban Đối
ngoại).
- Khóa IX (1992-1997) và khóa X (1997-2002), các cơ quan chuyên môn của Quốc hội
được tổ chức và hoạt động theo Luật tổ chức Quốc hội năm 1992, số lượng vẫn là 8 (gồm Hội
đồng dân tộc và 7 Ủy ban) nhưng có sự sáp nhập, đổi tên và thành lập mới. Ủy ban Kinh tế,
Kế hoạch và Ngân sách được đổi thành Ủy ban Kinh tế và Ngân sách, Ủy ban Y tế và Xã hội
được đổi thành Ủy ban Về các vấn đề xã hội; Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật đổi thành Ủy ban
Khoa học, Công nghệ và Môi trường; sáp nhập 2 Ủy ban (Ủy ban Văn hóa và Giáo dục và Ủy
ban Thanh niên, Thiếu niên, Nhi đồng) thành Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu
niên và Nhi đồng; thành lập mới Ủy ban Quốc phòng và An ninh.
- Khóa XI (2002-2007) và Khóa XII (2007-2012), các cơ quan chuyên môn của Quốc hội
được tổ chức và hoạt động theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức của Quốc
hội (Luật số 83/2007/QH11 ngày 11-4-2007) với 7 cơ quan giữ nguyên tên gọi trước đây và 3
ủy ban mới là Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính, Ngân sách (trên cơ sở
tách Ủy ban Pháp luật thành Ủy ban Tư pháp và Ủy ban Pháp luật; tách Ủy ban Kinh tế Ngân

sách thành Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính, Ngân sách).
1.1.3. Khái niệm Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội
Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội là những cơ quan của Quốc hội, do Quốc
hội thành lập. Có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và các dự
án khác; thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; trình
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực
hiện quyền giám sát; kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc giải thích Hiến pháp,
luật, pháp lệnh và những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
1.2. Vị trí, vai trò, chức năng cơ bản của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội
Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội là những cơ quan của Quốc hội, do Quốc
hội thành lập có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án
pháp lệnh và các dự án khác; thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ
Quốc hội giao; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát; kiến nghị với Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc
giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình. Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có quyền kiến nghị Ủy ban thường vụ Quốc
hội xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do
Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội:
- Hội đồng dân tộc (Điều 26, Luật tổ chức Quốc hội)
- Ủy ban Pháp luật (Điều 27, Luật tổ chức Quốc hội; Khoản 2, Điều 28, Quy chế hoạt
động của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội)
- Ủy ban Tư pháp (Điều 27a, Luật tổ chức Quốc hội)
- Ủy ban Kinh tế (Điều 28, Luật tổ chức Quốc hội)
- Ủy ban Tài chính, Ngân sách (Điều 28a, Luật tổ chức Quốc hội; Điều 17, Luật Ngân
sách nhà nước)
- Ủy ban Quốc phòng và An ninh (Điều 29, Luật tổ chức Quốc hội)
- Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (Điều 30, Luật tổ chức
Quốc hội)

- Ủy ban về các vấn đề xã hội (Điều 31, Luật tổ chức Quốc hội; Khoản 1, Điều 22, Luật
bình đẳng giới)
- Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Điều 32, Luật tổ chức Quốc hội)
- Ủy ban Đối ngoại (Điều 33, Luật tổ chức Quốc hội; Điều 35 Luật ký kết, gia nhập và
thực hiện điều ước quốc tế; Khoản 2, Điều 28; khoản 2, Điều 30 Pháp lệnh ký kết và thực hiện
thỏa thuận quốc tế)
1.3. Mô hình của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội
1.3.1. Ủy ban chuyên môn (Ủy ban thường trực)
Quốc hội thành lập Hội đồng dân tộc và chín ủy ban chuyên môn. Thành phần của Hội
đồng dân tộc gồm có: Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, các Phó Chủ tịch và các ủy viên. Số Phó
Chủ tịch và số ủy viên của Hội đồng Dân tộc do Quốc hội quyết định. Thành phần Ủy ban
của Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các ủy viên. Số Phó Chủ nhiệm và
số ủy viên của mỗi Ủy ban do Quốc hội quyết định. Thành viên của Hội đồng dân tộc, các Ủy
ban của Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban có một số ủy
viên hoạt động chuyên trách do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định. Thành viên Hội
đồng Dân tộc, thành viên Ủy ban do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội theo trình
tự, thủ tục quy định. Khi cần thiết, Quốc hội có thể bầu bổ sung, miễn nhiệm, bãi nhiệm
thành viên Hội đồng Dân tộc, Ủy ban theo đề nghị của Chủ tịch Quốc hội.
1.3.2. Ủy ban lâm thời (Điều 23, Luật tổ chức Quốc hội)
Khi xét thấy cần thiết, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một
dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định.
1.3.3. Mô hình ủy ban một số nước
Tổ chức nghị viện của các nước trên thế giới chia thành hai loại: nghị viện một viện và
nghị viện hai viện. Đối với những nước có nghị viện hai viện thì ở cả hai viện đều thành lập
các ủy ban thường trực. Tuy nhiên, số lượng ủy ban ở hạ viện thường nhiều hơn số lượng ủy
ban ở thượng viện.
Nghị viện một viện thường có 2 loại ủy ban: Ủy ban thường trực và ủy ban lâm thời.
Nghị viện hai viện, bên cạnh ủy ban thường trực của mỗi viện, nghị viện còn thành lập
một số loại ủy ban khác chung cho cả hai viện hoặc riêng ở từng viện.


Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC
VÀ CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI
2.1. Thực trạng hoạt động thẩm tra
2.1.1. Các quy định pháp luật về hoạt động thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Ủy
ban của Quốc hội
Trước đây, quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trước đây theo
quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 được sửa đổi năm 2002
(theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2002).
Hiện nay được thực hiện theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
Hoạt động thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của
Quốc hội được quy định trong các văn bản pháp luật.
Trên cơ sở Điều 95 của Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001, Luật tổ chức
Quốc hội năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2007 quy định: "Hội đồng dân tộc và các Ủy ban
của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và các dự
án khác; thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao…."
(Điều 21).
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng đã quy định các vấn đề từ sự cần thiết
đến thời hạn, phạm vi và hình thức thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội.
2.1.2. Thc trng hot ng thm tra ca Hi ng dõn tc v cỏc y ban ca Quc
hi
2.1.2.1. Nhn xột chung
Hot ng thm tra ca Hi ng Dõn tc v cỏc y ban ca Quc hi ó gúp phn
quan trng vo vic y mnh hot ng lp phỏp ca Quc hi. S lng lut v phỏp lnh
c Quc hi v y ban Thng v Quc hi thụng qua trong nhng nm gn õy ó tng
lờn ỏng k (Trong mỗi nhiệm kỳ Quốc hội khoá II, III, IV, V Quốc hội chỉ ban hành từ 1
đến 6 luật và Uỷ ban th-ờng vụ Quốc hội thông qua một số pháp lệnh, thì từ năm 1986 (từ

khi Nhà n-ớc ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất n-ớc) đến nay số l-ợng luật,
pháp lệnh đ-ợc Quốc hội, Uỷ ban th-ờng vụ Quốc hội ban hành tăng lên rõ rệt. Cụ thú là,
nhiệm kỳ Quốc hội khoá VIII đã ban hành Hiến pháp 1992, 31 luật, bộ luật và Hội đồng
Nhà n-ớc ban hành 42 pháp lệnh. Nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX đã ban hành 41 luật, bộ
luật và Uỷ ban th-ờng vụ Quốc hội đã ban hành 43 pháp lệnh. Nhiệm kỳ Quốc hội khoá X
đã ban hành 35 luật, bộ luật và Uỷ ban th-ờng vụ Quốc hội ban hành 43 pháp lệnh. Trong
nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI, Quc hi ó thụng qua 84 lut, b lut, 15 ngh quyt cú cha
quy phm phỏp lut, y ban Thng v Quc hi ó xem xột thụng qua 34 phỏp lnh. Ti
nhim k Quc hi khúa XII, tớnh n k hp th 7 Quc hi ó thụng qua c 55 lut,
y ban Thng v Quc hi ó thụng qua c 10 Phỏp lnh. Tuy nhiờn, cn phi ci tin
hn na hot ng lp phỏp mi ỏp ng c yờu cu t ra. õy l mt trong nhng yu
t quan trng giỳp Quc hi y mnh hot ng lp phỏp, khc phc tỡnh trng kộo di l
hng nm Quc hi ch thụng qua c t 50-70% s d ỏn ra trong chng trỡnh xõy
dng lut, phỏp lnh.
2.1.2.2. Ni dung thm tra
- i tng v phm vi iu chnh
- Ni dung vn bn v nhng vn cũn cú ý kin khỏc nhau
- S phự hp ca ni dung d ỏn vi ng li, ch trng, chớnh sỏch ca ng, vi
Hin phỏp, phỏp lut
2.1.2.3. Phng thc thm tra
C quan ch trỡ thm tra phi t chc phiờn hp ton th thm tra; i vi d ỏn lut,
d ỏn phỏp lnh trỡnh y ban Thng v Quc hi cho ý kin thỡ cú th t chc phiờn hp
Thng trc Hi ng Dõn tc v Thng trc y ban thm tra s b.
Ch trỡ thm tra v phi hp thm tra:
- Mt s ỏn lut, d ỏn phỏp lnh cú th do mt c quan l Hi ng Dõn tc hoc y
ban ca Quc hi thm tra.
- i vi d ỏn lut, d ỏn phỏp lnh liờn quan n nhiu lnh vc hoc do tớnh quan trng,
tớnh phc tp ca nú m cú th c giao cho Hi ng Dõn tc hoc mt y ban ca Quc hi
ch trỡ thm tra. C quan ch trỡ thm tra t chc phiờn hp thm tra vi s tham gia ca c
quan thm tra hoc vi Thng trc c quan giam gia thm tra.

2.1.2.4. Bỏo cỏo thm tra
Kt qu thm tra c th hin bng bỏo cỏo thm tra. Trong bỏo cỏo ny, phi cp
cỏc ni dung m y ban ó thm tra v phn ỏnh y ý kin ca cỏc thnh viờn ca c
quan thm tra.
Nhng nguyờn nhõn dn n hn ch trong hot ng thm tra ca Hi ng dõn tc v
cỏc y ban ca Quc hi
- Thi hn gi d ỏn lut, phỏp lnh cho Hi ng, y ban tin hnh thm tra b vi
phm.
- Do tớnh cht phc tp ca nhiu d ỏn lut, phỏp lnh nờn trong vic phõn cụng thm tra
cỏc d ỏn lut, phỏp lnh thỡ khụng phi mi trng hp u ó khoa hc, phự hp vi chc
nng, nhim v ca mi y ban.
- Đa số thành viên trong cơ cấu tổ chức Hội đồng, Ủy ban là đại biểu Quốc hội hoạt động
kiêm nhiệm
- Hoạt động tham gia thẩm tra còn mang tính hình thức
- Phương thức tiến hành hoạt động thẩm tra còn chưa thực sự linh hoạt, phù hợp với cơ
cấu tổ chức của Ủy ban
- Việc xây dựng Báo cáo đánh giá tác động của dự án luật (RIA) là vấn đề mới và phức
tạp
- Việc cung cấp thông tin trong nước, kinh nghiệm nước ngoài và các điều kiện khác
phục vụ cho hoạt động thẩm tra còn hạn chế.
- Bộ máy giúp việc còn chưa đáp ứng được với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn.
2.2. Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội
2.2.1. Các quy định pháp luật về hoạt động giám sát
Hiến pháp năm 1992 đã quy định: "Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với
toàn bộ hoạt động của nhà nước" (Điều 83). Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Quốc hội
đã ban hành các đạo luật bảo đảm cơ sở pháp lý để Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao
như Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007), Luật hoạt động
giám sát của Quốc hội năm 2003; các nghị quyết về nội quy kỳ họp, quy chế hoạt động của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội … Như vậy,

pháp luật quy định về quyền giám sát tối cao của Quốc hội ngày càng được hoàn thiện. Tuy
nhiên, từ thực tiễn hoạt động, các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát tối cao của
Quốc hội cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định.
- Quy định về thẩm quyền, đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội chưa có sự
thống nhất trong các văn bản pháp luật.
- Quy định về thủ tục thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội còn những bất cập.
- Quy định về thẩm quyền, phân công trách nhiệm thực hiện quyền giám sát còn chưa rõ
ràng, khó thực hiện.
- Pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội còn thiếu quy định cụ thể về công tác
chỉ đạo điều hòa của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2.2.2. Thực trạng hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội.
- Việc xem xét báo cáo
- Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Tòa ánh nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan nhà nước khác.
- Việc thực hiện chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội
- Việc thực hiện giám sát chuyên đề tại kỳ họp Quốc hội
- Việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
2.2.3. Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội
- Kết quả đạt được
- Một số hạn chế:
+ Năng lực giám sát của các cơ quan của Quốc hội còn hạn chế
+ Phạm vi, đối tượng giám sát quá rộng
+ Chất lượng, hiệu quả giám sát trong một số trường hợp chưa đảm bảo yêu cầu đặt ra.
+ Các Đoàn giám sát tổ chức về địa phương còn quá nhiều, lại tập trung vào một số địa
phương trong cùng một khoảng thời gian.
+ Trong một số hoạt động giám sát chuyên đề còn chưa nhận được sự phối hợp chặt chẽ,
nghiêm túc của đối tượng giám sát
+ Cách thức tổ chức giám sát về địa phương chưa thật sự rõ ràng là "giám sát" hay chỉ là
"khảo sát"

+ Việc tập hợp, theo dõi, đôn đốc giải quyết các kiến nghị sau giám sát của Hội đồng Dân
tộc, các Ủy ban đối với các cơ quan chức năng sau giám sát vẫn còn là khâu yếu
2.3. Tham khảo cách thức tiến hành xem xét dự luật và giám sát ở ủy ban một số
nghị viện trên thế giới
2.3.1. Xem xét dự luật ở Ủy ban
2.3.2. Giám sát ở Ủy ban

Chương 3
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC
VÀ CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI
3.1. Những vấn đề đang đặt ra đối với hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy
ban của Quốc hội
- Vấn đề số lượng và tính chất của Hội đồng dân tộc và các ủy ban để có thể phù hợp và
bao quát các mặt hoạt động của Quốc hội.
- Vấn đề xác định lại chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng dân tộc và các ủy ban theo
hướng tăng cường vị trí vai trò của các cơ quan này.
- Vấn đề hình thức hoạt động, cơ cấu nhân sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong điều kiện
mới
3.2. Các giải pháp đổi mới hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội
3.2.1. Hoạt động thẩm tra
Tăng cường năng lực thực sự của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội:
Bảo đảm cung cấp đầy đủ kịp thời tài liệu, thông tin cho Hội đồng dân tộc và các Ủy
ban của Quốc hội để thẩm tra dự án luật, pháp lệnh
Cần có quy định rõ trách nhiệm chủ trì thẩm tra và phối hợp thẩm tra
Phát huy dân chủ, mở rộng sự tham gia của chuyên gia vào hoạt động thẩm tra dự án luật,
dự án pháp lệnh
3.2.2. Hoạt động giám sát
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động giám sát
3.2.2.1. Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội

Tăng cường hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội dưới hình thức xem xét báo cáo
Nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn
Tiếp tục cải tiến cách thức giám sát chuyên đề
Xem xét, hoàn chỉnh về quy định thẩm quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật của
Quốc hội
Đảm bảo tính khả thi của việc bỏ phiếu tín nhiệm
Nâng cao tính hiệu ích của việc ra nghị quyết sau giám sát
3.2.2.2. Hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội
Tập trung đầu tư nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng Dân
tộc, các Ủy ban của Quốc hội
Tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động "điều trần" tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban
của Quốc hội.
Nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hòa phối hợp trong hoạt động giám sát
3.3. Điều trần và khả năng áp dụng tại Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội Việt Nam
Tác giả nêu ra một số điểm tương đồng và khác biệt giữa hoạt động điều trần và hoạt
động thẩm tra, từ đó đưa ra một số đề xuất.
Một vài đề xuất:
- Thêm thẩm quyền cho Ủy ban,
- Những vấn đề về thủ tục (tính công khai, minh bạch; phạm vi thẩm tra, thành phần)

KẾT LUẬN
Quốc hội nước ta có lịch sử phát triển huy hoàng kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
(06/01/1946) bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt nam dân chủ cộng hòa. Từ khi ra đời
đến nay, trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau, tổ chức và hoạt động của Quốc hội đã
không ngừng hoàn thiện và phát triển, luôn thể hiện được đặc điểm cơ bản của chế độ chính
trị xã hội ở nước ta là cơ quan đại diện dân cử cao nhất và là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất.
Có thể nói, như
̃

ng tha
̀
nh tư
̣
u ma
̀
Quốc hô
̣
i Viê
̣
t Nam đa
̣
t đươ
̣
c trong như
̃
ng năm qua trên
các lĩnh vực lập pháp , giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước luôn gắn
liền vơ
́
i nô
̃

̣
c hoạt động của hệ thống các Ủy ban của Quốc hội. Nhất la
̀

̀
khi tiến ha
̀

nh
công cuô
̣
c đô
̉
i mơ
́
i dươ
́
i sư
̣
la
̃
nh đa
̣
o cu
̉
a Đa
̉
ng đến nay, một trong những đóng góp không nhỏ
đó là quá trình từng bước xác lập và hoàn thiện các quy trình hoạt động, rõ nhất là quy trình
tham gia xây dựng pháp luật của các Ủy ban và tham gia vào hoạt động giám sát tối cao của
Quốc hội. Nhơ
̀
không ngư
̀
ng đươ
̣
c cu
̉

ng cố va
̀
hoa
̀
n thiê
̣
n , các Uỷ ban của Quốc hội ngày
càng có khả năng thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ mà Hiến pháp, pháp luật quy định.
Với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay,
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định mục tiêu
"xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh
bạch, trọng tâm và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của
pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập
quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do,
dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
vào năm 2020". Để có thể đạt được mục tiêu này, một trong những giải pháp quan trọng được
đề ra trong Nghị quyết là phải "Đổi mới cơ bản quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật từ sáng
kiến pháp luật đến thông qua luật nhằm đẩy nhanh quá trình soạn thảo, ban hành luật. Nâng
cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật….". Tại kết luận số 144 của Bộ Chính trị nêu rõ
nhiệm vụ "Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động giám sát, tích cực hoàn
thiện cơ sở pháp lý, đổi mới phương thức giám sát và tăng cường sự lãnh đạo sát sao của Ủy
ban thường vụ Quốc hội là những yếu tố rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả giám sát của Quốc hội". Có thể thấy hoạt động xây dựng luật và hoạt động giám sát của
Quốc hội là hai mảng hoạt động "nóng" trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền.
Trong những hoạt động mà Quốc hội đã đạt được phải kể đến sự đóng góp của quá trình đổi
mới, nâng cao chất lượng và hiệu của hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của
Quốc hội.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban
của Quốc hội trong lĩnh vực thẩm tra và giám sát vẫn còn tồn tại những bất cập mà cần được
cải tiến. Trong phạm vi đề tài "Hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc
hội - Thực trạng và hướng hoàn thiện", tác giả đã nêu ra những vấn đề lý luận cũng như
thực trạng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội từ đó đề ra những
giải pháp nhằm đổi mới hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong
lĩnh vực thẩm tra và giám sát, góp phần hoàn thiện dần hoạt động của các cơ quan này.
Trong quá trình nghiên cứu, với sự hạn chế về thời gian và trình độ nên không thể tránh khỏi
còn thiếu sót. Tác giả rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để luận
văn được hoàn thiện hơn nữa.



References
1. Vũ Hồng Anh (2001), Tổ chức và hoạt động của nghị viện ở một số nước trên thế giới,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Ban Công tác lập pháp (2005), Quy trình, thủ tục trong hoạt động của Quốc hội, Hà Nội.
3. Ban Công tác lập pháp (2006), Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, (Tài
liệu tham khảo), Hà Nội.
4. Lương Phan Cừ (2005), "Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội: Sự phát triển về tổ
chức và hoạt động", Nghiên cứu lập pháp, (12).
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị
về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị
về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội
7. Phan Trung Lý (2010), Quốc hội Việt Nam - Tổ chức, hoạt động và đổi mới, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
8. Ngô Đức Mạnh (2006), "Suy nghĩ về việc đổi mới tổ chức các Ủy ban của Quốc hội",
Hiến kế lập pháp, (5).

9. Hoàng Văn Minh (2007) "Vai trò của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tại
phiên họp toàn thể thảo luận dự án luật", Hội thảo khoa học: Quy trình, thủ tục làm việc
của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Hải Phòng.
10. Nguyễn Quang Minh (2002), "Xây dựng báo cáo thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh và
dự thảo nghị quyết", Nghiên cứu lập pháp, (7).
11. Quốc hội (1946), Hiến pháp, Hà Nội.
12. Quốc hội (1959), Hiến pháp, Hà Nội.
13. Quốc hội (1960), Luật Tổ chức Quốc hội, Hà Nội.
14. Quốc hội (1980), Hiến pháp, Hà Nội.
15. Quốc hội (1981), Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, Hà Nội.
16. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
17. Quốc hội (1992), Luật Tổ chức Quốc hội, Hà Nội.
18. Quốc hội (1996), Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
19. Quốc hội (2001), Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
20. Quốc hội (2001), Luật Tổ chức Quốc hội, Hà Nội.
21. Quốc hội (2002), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành Văn bản quy
phạm pháp luật, Hà Nội.
22. Quốc hội (2002), Nghị quyết số 07/2002/QH11 ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội, Hà
Nội.
23. Quốc hội (2002), Nghị quyết số 12/2002/QH11 về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XI (2002-2007), Hà Nội.
24. Quốc hội (2002), Luật Ngân sách Nhà nước, Hà Nội
25. Quốc hội (2003), Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Hà Nội.
26. Quốc hội (2004), Nghị quyết số 27/2004/QH11 ban hành kèm theo Quy chế hoạt động của
Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Hà Nội.
27. Quốc hội (2005), Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, Hà Nội.
28. Quốc hội (2006), Luật Bình đẳng giới, Hà Nội.
29. Quốc hội (2007), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, Hà Nội.
30. Quốc hội (2007), Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 2 (1960-1964), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.

31. Quốc hội (2007), Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 3 (1964-1971), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
32. Quốc hội (2007), Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 5 (1971-1976), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
33. Quốc hội (2007), Báo số 18/BC-QH11 ngày 27/4 về báo cáo công tác của Quốc hội tại
kỳ họp thứ 11 khóa XI, Hà Nội.
34. Quốc hội (2008), Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
35. Nguyễn Đình Quyền (2006), "Tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội". Trong
sách: Quốc hội Việt Nam: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nx Tư pháp, Hà Nội.
36. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (2009), Quốc hội và các thiết chế trong nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội.
37. Nguyễn Văn Thuận (2007), "Ảnh hưởng và tác động của quy trình lập pháp hai bước đến
thủ tục làm việc của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Thực trạng và giải
pháp", Hội thảo khoc học: Quy trình, thủ tục làm việc của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban
của Quốc hội, Hải phòng.
38. Trung tâm thông tin, thư viện và Nghiên cứu khoa học - Văn phòng Quốc hội (2006), Tổ
chức và hoạt động của hệ thống ủy ban ở nghị viện một số nước, Chuyên đề nghiên cứu
so sánh.
39. Trung tâm Thông tin, thư viện và Nghiên cứu khoa học - Văn phòng Quốc hội (2007),
Báo cáo tổng kết hội thảo Quy trình thủ tục làm việc của các uỷ ban trong hoạt động lập
pháp của Quốc hội, Hà Nội.
40. Trung tâm Thông tin thư viện và Nghiên cứu khoa học - Văn phòng Quốc hội (2008),
Báo cáo nghiên cứu xây dựng quy trình, thủ tục làm việc mẫu của Uỷ ban của Quốc hội ,
Hà Nội.
41. Trung tâm Thông tin, thư viện và Nghiên cứu khoa học, Dự án hỗ trợ thể chế cho Việt
Nam (2009), Bộ pháp điển về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Nxb Chính trị - hành
chính, Hà Nội.
42. Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Khóa XI (2005), Ủy ban pháp luật - 60 năm tổ chức và
hoạt động, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
43. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007), Pháp lệnh Ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế ,

Hà Nội.
44. Văn phòng Quốc hội (2004), Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội.
45. Văn phòng Quốc hội (2005), Quốc hội Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Nxb Tư pháp, Hà Nội.
46. Văn phòng Quốc hội (2006), Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển, Nxb
chính trị quốc gia, Hà Nội.

TIẾNG ANH
47. Constitusia pravo zarubeznu stran. Uz. BEK, M.1997, c.514-515.
48. David M. Olson (1994), "Demoratic Institution: Comparative Wiew", NewYork p.56.
49. David Whiteman (1985), "The fate of policy Analysis in Cogressional Decision Making:
Three Types of Use in Committees", The Western Political Quaterly, Vol.38, No.2,
pp.294-311.
50. Lowell H. hattery, Susan Hofheimer, "The Legislator’s Source of Exert Information",
The Public Opinion Quaterly, Vol.18, No.53 (1954), pp.300-303.
51. Mattson, Ingvar và Strom, Kaare (1995), Parliaments and Majority Rule in Western
Europe, New York
52. Micheal L. Mezey (1979), Comparative Legislatures, p.67.
53. National Democratic Institute, "Committees in Legislatures: a division of labor",
Legislative Research Series 1.

TRANG WEB
54.
55.
56.




×