Tải bản đầy đủ (.pdf) (23 trang)

Kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh thanh hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (432.16 KB, 23 trang )

Kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Doãn Đình Tiến

Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Hoàng Anh
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Tổng hợp những thành tựu lý luận cơ bản về hoạt động ban hành, kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Phân tích thực trạng hoạt động ban
hành, kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương qua khảo sát thực tiễn tại
tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra các kết luận đánh giá và kinh nghiệm đúc kết. Xây
dựng và kiến giải các biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm tra VBQPPL của
chính quyền địa phương.
Keywords: Luật hành chính; Pháp luật Việt Nam; Quy phạm pháp luật; Hội đồng
Nhân dân; Ủy ban nhân dân

Content
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, xây dựng Nhà nước pháp
quyền, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, chủ động hội nhập quốc tế là những quyết
sách quan trọng đã được Đảng ta xác định và khẳng định trong nhiều văn kiện quan trọng
như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW
ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Nhằm triển khai thực hiện các


chủ trương này, tại Nghị quyết số 287/2001/NQ-UBTVQH10 ngày 29/01/2001 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội khóa 10 quy định thi hành một số điểm của Nghị quyết về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 đã chuyển giao hoạt động
kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) (công tác kiểm sát chung) từ
các cơ quan kiểm sát sang cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND), để các cơ quan, đơn vị này
tiếp tục thực hiện.
Thực hiện các quy định của Hiến pháp (sửa đổi), Luật số 02/2002/QH11 ngày 16 tháng
12 năm 2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL (hiện nay là Luật
ban hành VBQPPL năm 2008), Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi), Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 về kiểm tra và xử lý
VBQPPL, hiện nay đã được thay thế bởi Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4
năm 2010. Kiểm tra, xử lý VBQPPL là thiết chế mới, có ý nghĩa quan trọng đối với các
cơ quan hành pháp, nhất là trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước bằng pháp luật
theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân.
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đặt ra
nhiều nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, trong đó có nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật
thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ và là cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ
chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.
Trong bối cảnh chính quyền Trung ương đang tiến hành những cải cách mạnh mẽ
nhằm phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương các cấp, nhằm phát huy quyền
chủ động, sáng tạo của mỗi địa phương trong quản lý nhà nước, các cấp chính quyền địa
phương đang sử dụng pháp luật như một công cụ quan trọng, hiệu quả để quản lý và phát
triển. VBQPPL của chính quyền địa phương ban hành cũng đã và đang phục vụ đắc lực
cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Theo quy định của Luật ban hành VBQPPL của HĐND và UBND năm 2004, Luật
ban hành VBQPPL năm 2008 thì HĐND và UBND các cấp được ban hành VBQPPL
theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục luật định để thực hiện việc quản lý nhà nước
ở địa phương.

Trong thời kỳ đổi mới chính quyền địa phương đang rất quan tâm tới việc xây dựng
và ban hành VBQPPL theo thẩm quyền, các văn bản này được ban hành chủ yếu để cụ
thể hóa và thực hiện những quy định của các VBQPPL của cơ quan nhà nước ở Trung
ương cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương hoặc quy định những vấn đề mà
chính quyền địa phương được ủy quyền ban hành. Tuy nhiên, trong quá trình ban hành
VBQPPL, ở một số nơi chính quyền các cấp vẫn còn ban hành văn có nội dung trái pháp
luật, không đúng thẩm quyền, sai về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, trình tự thủ
tục ban hành…
Trong bối cảnh đó, việc tăng cường công tác kiểm tra VBQPPL là trách nhiệm của
các cơ quan hành pháp nhằm hoàn thiện các VBQPPL, trước hết là các VBQPPL do các
bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND các cấp ban hành, bảo đảm văn bản của các cơ
quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương, tôn trọng thứ bậc hiệu lực của văn
bản pháp luật - một trong những nguyên tắc quan trọng của nhà nước pháp quyền.
Do tính thời sự, cấp bách của vấn đề nên tác giả đã chọn đề tài: "Kiểm tra và xử lý đối
với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và ?y ban nhân dân (qua thực tiễn
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa)" cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta hiện nay, các vấn đề về VBQPPL, văn bản hành chính, quyết định quản lý
nhà nước đã và đang được nhiều nhà khoa học (luật học, hành chính học, ngôn ngữ
học ) quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu, như:
- GS.TS Nguyễn Đăng Dung, GS.TS Hoàng Trọng Phiến, Hướng dẫn soạn thảo văn
bản, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998.
- Nguyễn Chí Dũng, "Những nội dung cần làm khi lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12/2005.
- Phạm Tuấn Khải, "Nhà khoa học với công tác xây dựng pháp luật: vai trò, ý nghĩa
và thực trạng", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14, 6/2006).
- Uông Chu Lưu (Chủ biên), Bình luận Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005.
- Nguyễn Công Long, Hoàn thiện thủ tục xây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính

công, 2005.
- TS. Nguyễn Thế Quyền, "Hiệu lực của văn bản pháp luật những vấn đề lý luận và
thực tiễn", Tạp chí Luật học, số 2/2005.
- PGS.TS. Lê Minh Tâm (2003), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
- Hà Quang Thanh, Hoàn thiện việc ban hành văn bản quản lý nhà nước của hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước, Luận văn Thạc sĩ Quản lý nhà nước, 2000.
- TS. Lưu Kiếm Thanh, Hướng dẫn soạn thảo văn bản quản lý hành chính nhà nước,
Nxb Thống kê, Hà Nội, 1999.
Ngoài ra, còn có một số bài báo, công trình nghiên cứu khác đăng trên các tạp chí
chuyên ngành: Tạp chí Quản lý nhà nước; Tạp chí Cộng sản; Tạp chí Luật học.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều góc độ của VBQPPL, quyết
định quản lý nhà nước, văn bản hành chính nói chung. Tuy nhiên chưa có nhiều công
trình nghiên cứu một cách riêng lẻ, cụ thể về ban hành văn bản của chính quyền địa
phương và đặc biệt về vấn đề kiểm tra và xử lý VBQPPL của chính quyền địa phương.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục đích
Xuất phát từ những quan điểm, chủ trương cải cách nền hành chính và kiện toàn bộ
máy nhà nước, trên cơ sở những thành tựu lý luận hành chính- luật học, từ khảo sát thực
tế hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL của các cấp chính quyền địa phương tại Thanh
Hóa, với mục đích nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý VBQPPL của HĐND và
UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Do đó, nội dung đề tài không chỉ tập trung đánh giá
riêng hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL, mà còn có cả một số đánh giá liên quan đến
hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL. Trên cơ sở đó rút ra được những ưu điểm,
những tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại và quan trọng hơn là đề ra được các giải
pháp về hoàn thiện hoạt động kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương và đưa hoạt
động kiểm tra, xử lý đối với VBQPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
đi vào nề nếp, đúng pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính khả thi trong thực
tiễn.
* Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, tác giả tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp những thành tựu lý luận cơ bản về hoạt động ban hành, kiểm tra
VBQPPL;
- Phân tích thực trạng hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa
phương qua khảo sát thưc tiễn tại tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra các kết luận đánh giá và
kinh nghiệm đúc kết;
- Xây dựng và kiến giải các biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm tra VBQPPL
của chính quyền địa phương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các VBQPPL do HĐND và UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban
hành; các hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL của HĐND và UBND tỉnh Thanh Hóa
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với 27 huyện, thị xã, thành phố
trong tỉnh.
- Phạm vi thời gian: trong 7 năm (từ năm 2004 khi Nghị định 135/2003/NĐ-CP của
Chính phủ về kiểm tra và xử lý VBQPPL được ban hành có hiệu lực cho đến nay).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về Chính phủ phục vụ nhân
dân; quán triệt các quan điểm, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Trong quá trình tiếp cận, xúc tiến nghiên cứu đề tài, tác giả đồng thời sử dụng tổng
hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: các phương pháp phân tích - tổng
hợp, phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp thống kê - so sánh, phương pháp
chuyên gia trong việc thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến nội dung đề tài.
6. Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
Từ góc độ khoa học quản lý hành chính nhà nước, có thể xem đây là một trong những
cố gắng đầu tiên trong việc nghiên cứu vấn đề kiểm tra đối với VBQPPL của chính quyền
địa phương một cách chuyên sâu và toàn diện. Vì vậy luận văn có ý nghĩa:

- Góp phần hoàn thiện hoạt động kiểm tra đối VBQPPL của HĐND và UBND.
- Đóng góp cho công tác tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng và ban
hành, xử lý VBQPPL của HĐND và UBND;
- Góp phần hoàn thiện chương trình các môn học về kỹ thuật soạn thảo và ban hành
văn bản.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm
pháp luật.
Chương 2: Thực trạng kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ năm 2004 đến nay.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA
VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1.1. Khái quát về văn bản quy phạm pháp pháp luật của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân
1.1.1. Khái niệm, các dấu hiệu đặc trưng của văn bản quy phạm pháp luật do Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành
Tác giả đi từ làm rõ khái niệm văn bản theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp, trên
cơ sở đó đưa ra khái niệm VBQPPL. Xuất phát từ quy định của pháp luật hiện hành và kinh
nghiệm thực tiễn, tác giả nêu bật điểm khác biệt giữa VBQPPL của các cơ quan nhà nước
nói chung với VBQPPL của HĐND và UBND (gọi chung là VBQPPL của chính quyền địa
phương) đó là về chủ thể có thẩm quyền ban hành là HĐND, UBND các cấp và phạm vi
áp dụng văn bản là tại địa phương.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nêu bật được các dấu hiệu đặc trưng của VBQPPL do
HĐND và UBND ban hành gồm: chứa đựng quy phạm pháp luật; ban hành theo trình tự,

thủ tục luật định; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; được nhà nước bảo đảm
thi hành.
1.1.2. Vai trò của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân trong quản lý nhà nước và phát triển
Dưới góc độ xã hội, tác giả đã nêu lên tầm quan trọng của VBQPPL của chính quyền
địa phương đối với vấn đề quản lý và phát triển, cụ thể:
- VBQPPL có thể điều tiết những vấn đề thực tiễn của địa phương;
- VBQPPL thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chính sách của cơ quan nhà nước
cấp trên;
- VBQPPL có thể tạo ra, phân bổ, phát huy các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế;
- VBQPPL góp phần làm ổn định trật tự xã hội, tạo cơ hội quản lý tốt và phát triển.
Tóm lại, VBQPPL có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ quy định các giá trị mà
người quản lý coi đó là giá trị cơ bản của xã hội, không chỉ đưa ra các biện pháp khuyến
khích thực thi pháp luật, đem lại ổn định trật tự xã hội mà còn bảo đảm cho xã hội phát
triển.
1.2. Khái quát về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp pháp luật của Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
1.2.1. Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Đi từ khái niệm chung "kiểm tra", phân tích các dấu hiệu đặc trưng của hoạt động
kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương, tác giả đi đến định nghĩa: Kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND các cấp ban hành là hoạt động được tiến
hành thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các văn bản quy phạm
pháp luật theo quy định của pháp luật, qua đó, phát hiện những dấu hiệu trái pháp luật
về hình thức, về nội dung để kịp thời xử lý, hoặc đề xuất với cơ quan có thẩm quyền xử lý
văn bản trái pháp luật nhằm góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất
của hệ thống pháp luật.
1.2.2. Mục đích, ý nghĩa của công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Từ khái niệm kiểm tra VBQPPL, tác giả đã chỉ ra mục đích cũng như ý nghĩa của
hoạt động kiểm tra văn bản, đó là:
Thứ nhất, phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản;

Thứ hai, kiến nghị các hình thức xử lý thích hợp đối với nội dung sai trái đó, đồng
thời kiến nghị xử lý cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật;
Thứ ba, góp phần bảo đảm việc soạn thảo, ban hành văn bản có chất lượng cao hơn,
nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, bảo đảm tính
hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi, phục vụ trực tiếp yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, mở rộng quan hệ quốc
tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Ý nghĩa hoạt động kiểm tra: phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật; giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời những văn bản trái
pháp luật; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; bảo đảm tính kỷ cương
trong công tác ban hành VBQPPL.
1.2.3. Đặc trưng của kiểm tra văn bản
Hoạt động kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương mang những đặc trưng
sau: mang tính quyền lực nhà nước; là hoạt động có tính chất phòng ngừa; là hoạt động
độc lập và có tính chủ động cao đòi hỏi phải có sự xử lý, giải quyết dứt điểm.
1.2.4. Phân biệt kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và các hoạt động tương tự
Để hiểu rõ về khái niệm kiểm tra VBQPPL, cần phân biệt hoạt động kiểm tra với các
hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo VBQPPL (hoạt động diễn ra trước khi ban hành
văn bản) và hoạt động giám sát, rà soát VBQPPL (hoạt động diễn ra sau khi ban hành văn
bản).
1.3. Quy định của pháp luật hiện hành về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
1.3.1. Nguyên tắc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Tác giả trình bày nội dung cơ bản của các
nguyên tắc kiểm tra và xử lý đối với nhưng VBQPPL có nội dung sai trái. cụ thể là:
- Công tác kiểm tra văn bản, xử lý văn bản trái pháp luật được tiến hành tường xuyên,
toàn diện, kịp thời; khách quan, công khai, minh bạch; đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục;
kết hợp giữa kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền với việc tự kiểm tra của cơ quan ban
hành văn bản, bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan.
- Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức và cá nhân lợi dụng việc kiểm tra văn bản vì mục
đích vụ lợi, gây khó khăn cho hoạt động bình thường của cơ quan, người đã ban hành văn

bản và can thiệp vào quá trình xử lý văn bản trái pháp luật.
- Sau khi kiểm tra, cơ quan kiểm tra văn bản phải có kết luận về việc kiểm tra và
thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản được kiểm tra theo
quy định của pháp luật.
- Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về kết luận và quyết định xử lý của mình; nếu quyết định xử lý trái pháp luật thì phải
khắc phục hậu quả pháp lý do quyết định đó gây ra.
1.3.2. Đối tượng của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Đối tượng kiểm tra là các VBQPPL do HĐND và UBND các cấp ban hành. Điều này
đã được pháp luật quy định khá rõ. Tuy vậy, trong thực tiễn, còn có những văn bản có
chứa quy phạm pháp luật do địa phương ban hành bằng hình thức không đúng với hình
thức VBQPPL do luật định (ví dụ: ban hành dưới hình thức thông báo, công văn hoặc
giấy tờ hành chính khác…) hoặc văn bản có chứa quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ
chức, cá nhân không có thẩm quyền ban hành VBQPPL ban hành (cơ quan chuyên môn
thuộc UBND…). Do vậy, đối tượng kiểm tra bao gồm cả các văn bản có chứa quy phạm
pháp luật.
1.3.3. Nội dung kiểm tra văn bản
Nội dung kiểm tra văn bản là xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp
của văn bản dựa trên năm tiêu chí theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP:
- Được ban hành đúng căn cứ pháp lý;
- Được ban hành đúng thẩm quyền;
- Nội dung phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành;
- Được ban hành đúng thể thức và kỹ thuật trình bày;
- Tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thủ tục xây dựng, ban hành và đăng
Công báo, đưa tin hoặc công bố văn bản.
1.3.4. Phương thức tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Hoạt động kiểm tra văn bản được tiến hành bằng các phương thức: tự kiểm tra của cơ
quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền
kiểm tra văn bản theo nhiệm vụ được phân công.
1.3.5. Thẩm quyền kiểm tra, xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội

đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và vai trò của cơ quan tư pháp địa phương trong
hoạt động kiểm tra
Tác giả đã nêu rõ trong luận văn thẩm quyền của UBND các cấp trong việc kiểm tra,
xử lý VBQPPL của HĐND và UBND và vai trò của cơ quan tư pháp địa phương trong
hoạt động kiểm tra.
1.4. Các quy định về xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân
Căn cứ các quy định của Nghị định 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010; Thông tư số
20/2010/TT-BTP, tác giả đã nêu bật các biện pháp xử lý cơ quan, người ban hành văn
bản trái pháp luật: bao gồm các biện pháp khắc phục và các biện pháp xử lý và được xác
định theo hình thức, mức độ xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp
luật.
Ngoài ra, việc công bố kết quả xử lý văn bản trái pháp luật cũng là một căn cứ
quan trọng nhằm xác định hiệu lực của văn bản đó, mặt khác việc thông báo văn bản
sai trái (một phần hoặc toàn bộ) do chính những người kiểm tra lập được thực hiện
nhằm mục đích để cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật đó tự kiểm tra,
xử lý và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản trong thời hạn luật
định.
Một trong những nội dung quan trọng mà tác giả đề cập đến đó là xác định các hình
thức xử lý văn bản sai trái như: Hình thức đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ văn
bản; hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản; hình thức hủy bỏ một phần hoặc
toàn bộ văn bản; đính chính văn bản.
Theo tác giả, việc xác định đúng hình thức bãi bỏ hay hủy bỏ đối với văn bản có sai
trái sẽ giúp cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản sai trái, xử lý hoặc kiến nghị xử
lý đối với người, cơ quan đã ban hành văn bản sai trái đó đảm bảo chính xác, khách quan,
đúng quy định của pháp luật.
1.4.5. Trình tự, thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật
Tác giả không chỉ nêu lên trình tự, thủ tục kiểm tra, xử lý đối với văn bản do Bộ Tư
pháp kiểm tra mà còn đối với cả các văn bản do UBND tỉnh kiểm tra.
Chương 2

THỰC TRẠNG KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
THANH HÓA
2.1. Những thành tựu và hạn chế trong công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
2.1.1. Những kết quả đạt được trong hoạt động xây dựng, ban hành; kiểm tra, xử
lý văn bản quy phạm pháp luật
Thông qua các số liệu ban hành văn bản và các số liệu đã kiểm tra, tác giả thấy rằng
công tác kiểm tra và xử lý VBQPPL trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ khi bắt đầu triển khai
(từ năm 2004) đến nay đã đạt được những kết quả, góp phần tích cực trong việc đảm bảo
tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Từ kết quả đạt được trong thực tiễn hoạt động xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý
VBQPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đánh giá một số
ưu điểm nổi bật trong xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản.
2.1.2. Những bất cập trong việc xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý đối với văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
Mặc dù đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận trong công tác ban hành, kiểm
tra và xử lý VBQPPL. Song, so với yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra, công tác ban hành văn
bản của UBND các cấp còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần khắc phục kịp thời. Có thể
thấy rõ những bất cập này qua các dẫn chứng phân tích cụ thể về những sai sót trong hệ
thống VBQPPL của HĐND, UBND như: sai căn cứ ban hành văn bản; sai thẩm quyền
ban hành văn bản; về nội dung văn bản; về thể thức và kỹ thuật trình bày; về quy trình
xây dựng, thông qua và ban hành văn bản.
Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những hậu quả pháp lý của việc ban hành văn bản trái
pháp luật và đánh giá những nhược điểm trong hệ thống VBQPPL của HĐND, UBND.
2.2. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong công tác xây dựng, ban hành;
kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Thông qua những kết quả và hạn chế trong xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý văn

bản của chính quyền địa phương, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân chủ quan và khách
quan làm ảnh hưởng đến công tác kiểm tra và xử lý VBQPPL của chính quyền địa
phương trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá đó là các nguyên nhân về thể chế, về tổ chức, biên
chế; về cơ sở dữ liệu và các điều kiện đảm bảo cung cấp thông tin cho công tác kiểm tra
văn bản; về các điều kiện khác để phục vụ cho công tác kiểm tra - trang thiết bị, phương
tiện, kinh phí và cơ sở vật chất

Chương 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY
PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
Từ phân tích thực trạng hoạt động ban hành, kiểm tra và xử lý VBQPPL của HĐND và
UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, xác định những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những
hạn chế của công tác này, tác giả rút ra các bài học kinh nghiệm sau:
1. Tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra
VBQPPL của chính quyền địa phương, biến công tác này thành hoạt động thường xuyên,
có kế hoạch, lộ trình triển khai chủ động; thoát khỏi tâm lý đùn đẩy, né tránh, tính chất vụ
mùa, tùy nghi trong tiến hành của các cơ quan quản lý nhà nước.
2. Nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động ban hành và kiểm tra
VBQPPL của chính quyền địa phương theo hướng quy định thẩm quyền, trách nhiệm của
các cơ quan dứt khoát, rõ ràng; ấn định quy trình, thủ tục tiến hành cụ thể bảo đảm cho
công tác triển khai thống nhất, thuận lợi và hiệu quả; đưa ra biện pháp xử lý kết quả đánh
giá chi tiết.
3. Cần có các văn bản hướng dẫn kịp thời về tổ chức bộ máy; chức năng hoạt động
của cơ quan tư pháp địa phương và biên chế chuyên trách làm công tác kiểm tra văn bản,
chuẩn hóa các tiêu chí để hình thành đội ngũ nhân sự thực hiện công tác kiểm tra văn bản
được đào tạo bài bản, có kiến thức chuyên sâu về pháp luật đồng thời am tường nhiều
lĩnh vực kinh tế- xã hội, hiểu biết về quản lý nhà nước, có năng lực phân tích chính sách,
nắm vững kỹ thuật soạn thảo văn bản, đánh giá văn bản, tích lũy kinh nghiệm xây dựng,
thực hiện pháp luật trong và ngoài nước.

4. Chú trọng việc xây dựng quy trình, phương pháp kiểm tra VBQPPL của chính
quyền địa phương dựa trên các nguyên tắc, tiêu chí khách quan, khoa học, sát thực tế, đưa
ra những kỹ năng, nghiệp vụ tiến hành trong từng công đoạn tiếp thu và vận dụng đúng
đắn các kinh nghiệm đánh giá văn bản của các nước để tiếp cận với chuẩn mực chung
trong điều kiện hội nhập.
5. Đầu tư đúng mức các nguồn lực, phương tiện thực hiện công tác kiểm tra VBQPPL
của chính quyền địa phương.
Để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng, ban hành VBQPPL và thực hiện tốt
công tác kiểm tra, xử lý VBQPPL nhằm góp phần hoàn thiện thể chế, bảo đảm tính hợp
hiến, hợp pháp của văn bản; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất và tính khả thi của
VBQPPL của các cấp chính quyền địa phương với hệ thống pháp luật hiện hành; góp
phần đẩy nhanh tiến trình cải cách hành chính, tác giả đề xuất một số giải pháp sau đây.
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp
luật
3.1.1. Sửa đổi, bổ sung một số văn bản hiện hành
- Cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của
Chính phủ về kiểm tra và xử lý VBQPPL theo hướng: quy định cụ thể hơn về trách
nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản trái pháp luật, xử lý đối
với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong quá trình tham mưu, soạn thảo, ký, ban
hành VBQPPL trái pháp luật; rà soát, sửa đổi những quy định không còn phù hợp; thống
nhất các loại biểu mẫu về kiểm tra văn bản.
- Sửa đổi Thông tư liên tịch số 158/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 28/12/2007 của Bộ
Tài chính và Bộ tư pháp về việc quản lý và sử dụng kinh phí đảm bảo cho công tác kiểm
tra VBQPPL theo hướng quy định thêm các mục chi, mức chi và chế độ thù lao cho đội
ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản.
- Bên cạnh việc hoàn thiện những văn bản trực tiếp quy định về công tác kiểm tra, xử
lý VBQPPL, cần nhanh chóng bổ sung hoàn thiện hệ thống VBQPPL về việc soạn thảo,
ban hành, rà soát, hệ thống VBQPPL nhằm hỗ trợ cho công tác kiểm tra văn bản.
Đối với địa phương tỉnh Thanh Hóa, trên cơ sở Quyết định số 2398/2002/QĐ-UB
ngày 26/7/2002 của UBND tỉnh về việc quy định trình tự, thủ tục soạn thảo và ban hành

VBQPPL của UBND tỉnh, tiến hành đánh giá và tổ chức sơ kết việc thực hiện văn bản này
trên thực tế. Qua đó, sửa đổi, bổ sung những nội dung chưa phù hợp, những vấn đề thực tế
quản lý đặt ra mà văn bản chưa điều chỉnh, theo hướng: mở rộng phạm vi, đối tượng điều
chỉnh cả việc ban hành văn bản của UBND cấp huyện, cấp xã; quy định rõ hơn về nguyên
tắc soạn thảo, ban hành VBQPPL của UBND các cấp, trong đó cần khẳng định rõ trách
nhiệm, lập chương trình, tổ chức soạn thảo văn bản, khảo sát thực tế, thẩm định, chuẩn bị hồ
sơ trình, thảo luận thông qua văn bản. Đặc biệt cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan
soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan ban hành văn bản trong việc ban hành văn bản sai
thẩm quyền, có nội dung trái pháp luật; quy định rõ hơn các điều kiện bảo đảm cho việc
ban hành văn bản, kiểm tra văn bản trong thực tiễn.
3.1.2. Xây dựng, ban hành văn bản mới
- Xây dựng văn bản quy định về chức danh kiểm tra viên kiểm tra VBQPPL và quy
định về tiêu chuẩn, chế độ, chính sách đối với Kiểm tra viên; Thống nhất công tác tổ
chức và quản lý đội ngũ cộng tác viên, xây dựng văn bản hướng dẫn, tạo cơ sở pháp lý
cho các cơ quan kiểm tra tiến hành đồng bộ trong phạm vi toàn quốc.
- Ban hành các văn bản quy định về trình tự, thủ tục kiểm tra văn bản, cơ chế phối hợp
và trách nhiệm cụ thể của cá nhân, tổ chức trong phối hợp thực hiện công tác kiểm tra văn
bản. Nghiên cứu áp dụng các quy định về xây dựng, thực hiện, kiểm tra, chứng nhận hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động kiểm tra
văn bản.
- Quy định kinh phí đảm bảo cho công tác soạn thảo, thẩm định VBQPPL, công tác rà
soát, hệ thống hóa VBQPPL; kinh phí hỗ trợ cho hoạt động kiểm tra văn bản và người
kiểm tra văn bản, kinh phí cho công tác tự kiểm tra; nâng cao mức thù lao đối với cộng
tác viên.
- Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ có văn bản hướng dẫn cụ thể về tổ chức bộ máy,
biên chế cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản ở địa phương.
- Ban hành quy định về trang thiết bị, phương tiện làm việc cho hệ thống đơn vị
chuyên trách kiểm tra văn bản nhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kiểm tra
văn bản.
- Đối với địa phương, quan tâm chỉ đạo việc ban hành VBQPPL về kiểm tra, xử lý

VBQPPL nhằm cụ thể hóa các quy định của Trung ương áp dụng cho địa phương mình
như quy chế kiểm tra văn bản, Quy chế tổ chức quản lý đội ngũ cộng tác viên; Chỉ thị
đôn đốc công tác kiểm tra văn bản…Đối với những địa phương chưa ban hành VBQPPL
về kiểm tra, xử lý văn bản hoặc ban hành nhưng chưa đầy đủ thì cần phải đẩy nhanh việc
xây dựng, ban hành; tuyệt đối không được ban hành văn bản cá biệt thay thế. Đồng thời
khi thể chế ở trung ương sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới thì cần nhanh chóng sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế tại các địa phương.
3.1.3. Tăng cường hoạt động rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật
Để khắc phục những mâu thuẫn, chồng chéo, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính
thống nhất của hệ thống pháp luật, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ để từ đó làm cơ
sở phục vụ tốt cho hoạt động xây dựng ban hành văn bản và kiểm tra VBQPPL, trong
thời gian tới cần phải đẩy mạnh hoạt động rà soát, hệ thống hóa VBQPPL thường xuyên,
mỗi cấp, mỗi ngành phải tự rà soát văn bản của cấp mình, ngành mình và coi đây là một
nhiệm vụ trọng tâm; Các VBQPPL khi được ban hành phải quy định rõ, cụ thể những văn
bản, điều khoản tương ứng của văn bản khác bị bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung theo đúng quy
định;
3.2. Giải pháp xây dựng quy trình kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
của chính quyền địa phương
Tác giả đề xuất xây dựng quy trình kiểm tra, xử lý VBQPPL của chính quyền địa
phương, bao gồm các bước sau đây.
3.2.1. Xác định văn bản cần kiểm tra, mục đích, phạm vi kiểm tra
Lên danh mục văn bản cần kiểm tra; Xác định mục đích kiểm tra và Phạm vi đánh giá
trong kiểm tra.
3.2.2. Lập kế hoạch kiểm tra
Kế hoạch kiểm tra văn bản được xây dựng nhằm sử dụng có hiệu quả thời gian và các
nguồn lực để đảm bảo đạt được mục đích đề ra. kế hoạch kiểm tra sau khi thông qua phải
được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
3.2.3. Thu thập thông tin và minh chứng
Các thông tin và minh chứng thu được phục vụ 2 mục đích: mô tả được những điểm
đạt và không đạt của văn bản trên những phương diện đánh giá: tính khả thi, tính chất

pháp lý và yêu cầu kỹ thuật, đồng thời đề ra được các kế hoạch và các giải pháp khắc
phục những tồn tại.
3.2.4. Xử lý, phân tích các thông tin và minh chứng thu được
Các thông tin thu được phải qua xử lý mới sử dụng được. Các kỹ thuật thống kê được
sử dụng nhiều ở công đoạn này. Các thông tin điều tra phải được sử dụng ở dạng số liệu
tổng hợp, tránh sử dụng những thông tin làm ảnh hưởng đến các cá nhân cung cấp thông
tin.
3.2.5. Viết báo cáo kiểm tra
Kết quả kiểm tra phải được trình bày dưới dạng một bản báo cáo về các kết quả kiểm
tra so với các yêu cầu và tiêu chí đã định, đồng thời cũng đề xuất những kế hoạch xử lý
văn bản sau kiểm tra.
3.2.6. Các hoạt động sau khi hoàn thành kiểm tra
Các hoạt động đã đề ra trong "Phần kế hoạch" trong báo cáo kiểm tra; tổ chức lưu giữ
các thông tin, minh chứng thu được, có biện pháp để bảo quản các thông tin và minh
chứng đó; đề xuất với cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với văn bản bị khiếm khuyết.
3.3. Giải pháp về cơ chế chính sách thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp
luật của chính quyền địa phương
Để thực hiện tốt giải pháp này, tác giả đã tập trung đề cập đến:
3.3.1. Công tác chỉ đạo và phối hợp của các cấp, các ngành trong hoạt động kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương
- Triển khai một cách sâu rộng, có hiệu quả Luật ban hành VBQPPL của HĐND và
UBND các cấp được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 5 thông qua tháng 11/2004.
- HĐND cấp tỉnh cần chỉ đạo Ban pháp chế tăng cường giám sát việc ban hành
VBQPPL do HĐND và UBND huyện ban hành.
- Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND các cấp cần quan tâm, đôn đốc, chỉ đạo và kiểm tra
thực hiện công tác kiểm tra văn bản của địa phương mình.
- Các cơ quan kiểm tra thuộc địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ, chia sẻ thông
tin kịp thời trong công tác kiểm tra văn bản.
3.3.2. Hoàn thiện tổ chức và phát triển nguồn nhân lực phục vụ công tác kiểm tra
Trong thời gian tới, vấn đề tổ chức, biên chế cho công tác kiểm tra, xử lý VBQPPL

cần được thực hiện theo hướng sau đây:
Một là, cần được thực hiện dựa trên những quy định pháp luật hướng dẫn về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn giúp UBND quản
lý nhà nước về công tác tư pháp ở địa phương (xác định số lượng cán bộ, công chức và
cơ cấu phòng chuyên môn thực hiện kiểm tra văn bản tai địa phương.
Hai là, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công tác kiểm tra VBQPPL: Cần xây dựng
chiến lược đào tạo lâu dài những kiến thức cơ bản về công tác kiểm tra văn bản tại các
trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trường đào tạo cử nhân luật và trường
đào tạo các chức danh tư pháp. Nhưng trước mắt tập trung vào hoạt động tập huấn
chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, tại chỗ về công tác kiểm tra văn bản cho các
đối tượng có liên quan.
Ba là, xây dựng cơ chế thu hút, nâng cao chất lượng kiểm tra VBQPPL của cộng tác viên.
3.4. Giải pháp về tài chính, ngân sách và các điều kiện khác đảm bảo cho công
tác kiểm tra
3.4.1. Về tài chính, ngân sách
Cần phải bảo đảm ưu tiên về tài chính, ngân sách cho hoạt động kiểm tra VBQPPL.
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan chuyên
trách kiểm tra VBQPPL để bố trí kinh phí và nguồn kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm
tra văn bản được dự toán chung trong kinh phí hoạt động thường xuyên của cơ quan có
trách nhiệm kiểm tra văn bản.
3.4.2. Về kinh phí, trang thiết bị làm việc
Các cơ quan kiểm tra cần lập dự toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra trong
năm. Đồng thời yêu cầu các cấp, các ngành trang bị máy móc, thiết bị phục vụ công tác
kiểm tra văn bản, tiến hành tin học hóa công tác kiểm tra văn bản.
3.4.3. Tổ chức mạng lưới thông tin
- Cơ quan kiểm tra của các bộ, ngành, địa phương phải tổ chức xây dựng kênh tiếp
nhận và xử lý các kiến nghị, yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân và phản ánh của
dư luận về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; có cơ chế phù hợp để địa phương có
điều kiện khai thác, sử dụng hiệu quả hệ cơ sở dữ liệu VBQPPL thuộc Bộ Tư Pháp,
cũng như các hệ cơ sở dữ liệu quốc gia có liên quan đến công tác kiểm tra văn bản.

3.5. Các giải pháp khác: xây dựng hệ cơ sở dữ liệu; nguồn thông tin và các yếu
tố tổ chức kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Đây là nhóm giải pháp cuối cùng mà tác giải đưa ra với mong muốn hoạt động kiểm
tra VBQPPL tại địa phương ngày càng được nâng cao và có chất lượng hơn.
Hệ thống cơ sở dữ liệu này phải đáp ứng các yêu cầu khoa học, đáp ứng thường
xuyên, kịp thời đòi hỏi của công tác kiểm tra; phải được cập nhật liên tục những văn bản
mới; xây dựng, nâng cấp các phần mềm giúp quản lý và tổ chức công việc bao gồm phần
mềm quản lý cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản; phần mềm hỗ trợ
nghiệp vụ kiểm tra văn bản.

KẾT LUẬN
Thực hiện công việc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã đẩy mạnh công tác xây
dựng và ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật, nhằm cụ thể hóa kịp thời đường
lối chính sách của Đảng thành pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đáp ứng
yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật - một trong những nguyên tắc đã được Hiến pháp
ghi nhận. Cùng với hệ thông VBQPPL do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính
phủ, các bộ, ngành Trung ương ban hành; HĐND, UBND các cấp trên cơ sở chức năng,
nhiệm vụ và thẩm quyền theo quy định của pháp luật đã ban hành các văn bản hướng dẫn
và tổ chức thực thi pháp luật. Có thể nói, công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra và xử lý
VBQPPL đối với các văn bản do HĐND và UBND các ban hành có một vị trí, vai trò hết
sức quan trọng trong việc quản lý nhà nước ở địa phương. Việc xây dựng, ban hành, kiểm
tra và xử lý VBQPPL kịp thời, đúng thẩm quyền, đúng pháp luật, phù hợp với yêu cầu
thực tế ở địa phương, sẽ góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý của bộ máy nhà nước.
Trong bối cảnh hiện nay đang có quá nhiều VBQPPL thì việc triển khai công tác
kiểm tra, xử lý văn bản sẽ là cơ sở tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác soạn thảo, ban hành VBQPPL tại địa phương. Công tác này góp phần bảo
đảm kỷ cương trong việc xây dựng và ban hành văn bản, từng bước hạn chế tình trạng
chồng chéo, mâu thuẫn, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật không chỉ trong phạm
vi các văn bản thuộc đối tượng kiểm tra mà còn đề xuất sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện

các văn bản pháp luật khác như luật, pháp lệnh, nghị định Đặc biệt, khi chúng ta đã trở
thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, công tác kiểm tra, xử lý
VBQPPL ngày càng có ý nghĩa thiết thực. Đây là tiền đề quan trọng để chúng ta hoàn
thiện thể chế, xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ, công khai, minh
bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước
trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra và xử
lý VBQPPL của HĐND, UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay để
tiếp tục thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách nền hành chính Nhà nước, trọng tâm là
cải cách thể chế, thủ tục hành chính, xây dựng nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
trong sạch, vững mạnh theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng. Công tác soạn thảo, ban
hành, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm của chính quyền địa phương cần phải được đổi
mới, nâng cao chất lượng.
Ở tỉnh Thanh Hóa, HĐND và UBND đã có những động thái tích cực trong triển khai
chỉ đạo của Trung ương, bước đầu đã quán triệt tầm quan trọng của vấn đề, chú trọng
công tác chỉ đạo, xây dựng khung pháp lý, thiết lập cơ cấu tổ chức, đưa ra kế hoạch, giải
pháp vận dụng phù hợp với tình hình của tỉnh. Từ những kết quả đạt được, những việc
còn chưa làm được của tỉnh, có thể rút ra kinh nghiệm đúc kết có ý nghĩa tham khảo cho
các địa phương khác trong cả nước.
Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định hoạt động kiểm tra VBQPPL của chính
quyền địa phương trên cơ sở rà soát, hệ thống hóa, khảo sát một cách khoa học chính quy
về nhu cầu thực tiễn để xác định chương trình sửa đổi, bổ sung; xây dựng, ban hành mới
theo hướng minh bạch về thẩm quyền, rõ ràng về cơ chế và chắc chắn về tính khả thi.
Trong công tác triển khai, chú trọng việc xây dựng quy trình, phương pháp kiểm tra
văn bản dựa trên các nguyên tắc, tiêu chí khách quan, khoa học, sát thực tế, đưa ra những
kỹ năng nghiệp vụ tiến hành trong từng công đoạn, tiếp thu và vận dụng đúng đắn các
kinh nghiệm đánh giá văn bản của các nước để tiếp cận với chuẩn mực chung trong điều
kiện hội nhập.
Cần tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra,
biến công tác này thành hoạt động thường xuyên, có kế hoạch, lộ trình triển khai chủ

động; thoát khỏi tâm lý đùn đẩy, né tránh, tính chất vụ mùa, tùy nghi trong tiến hành của
các cơ quan quản lý nhà nước.
Đã đến lúc cần có sự đầu tư đúng mức các nguồn lực, phương tiện thực hiện công tác
kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương. Hình thành đội ngũ chuyên gia thực hiện
công tác đánh giá văn bản được đào tạo bài bản, có kiến thức chuyên sâu về pháp luật đồng
thời am tường nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội, hiểu biết về quản lý nhà nước, có năng lực
phân tích chính sách, nắm vững kỹ năng soạn thảo văn bản, đánh giá văn bản, tích lũy
kinh nghiệm xây dựng, thực hiện pháp luật trong và ngoài nước.
Cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng, cơ chế thu hút đội ngũ cộng tác viên trên các lĩnh
vực, kinh nghiệm của các chuyên gia giỏi vào các giai đoạn kiểm tra văn bản; nghiên cứu
thực hiện chế độ hợp đồng đối với các viện nghiên cứu, các trường đại học trong hoạt
động xây dựng văn bản, kiểm tra văn bản ở địa phương.

References
1. Bộ Nội vụ - Văn phòng Chính phủ (2005), Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-
BNV-VPCP ngày 06/5 hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, Hà Nội.
2. Bộ Tài chính (2001), Thông tư số 15/2001/TT-BTC ngày 21/3 hướng dẫn quản lý cấp
phát và quyết toán kinh phí hỗ trợ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, Hà
Nội.
3. Bộ Tài chính (2006), Thông tư số 100/2006/TT-BTC ngày 23/10 hướng dẫn việc
quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
4. Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp (2007), Thông tư liên tịch số 158/2007/TTLT-BTC-BTP
ngày 28/12 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ cho công tác kiểm tra
văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
5. Bộ Tư pháp (1999), Quyết định số 280/1999/QĐ-BTP ngày 27/9 của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp về việc ban hành Quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật, Hà Nội.
6. Bộ Tư pháp (2006), Báo cáo số 18/BC-BTP ngày 04/01 tổng kết công tác năm 2005
và phương hướng công tác năm 2006, Hà Nội.

7. Bộ Tư pháp (2006), Báo cáo số 2711/BTP-KHPL ngày 31/7 tổng kết Chương trình
đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm
pháp luật, Hà Nội.
8. Bộ Tư pháp (2010), Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30/11 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của
Chính phủ, Hà Nội.
9. Chính phủ (2000), Quyết định số 69/2000/QĐ-TTg ngày 19/6 của Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật, Hà Nội.
10. Chính phủ (2002), Quyết định số 40/2002/QĐ-TTg ngày 18/3 của Thủ tướng Chính
phủ về thẩm quyền ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện quản lý
nhà nước đối với ngành, lĩnh vực do các cơ quan thuộc Chính phủ quản lý, Hà Nội.
11. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10 về chế độ, chính sách
đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, Hà Nội.
12. Chính phủ (2003), Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11 quy định chi tiết thi
hành một số điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, Hà Nội.
13. Chính phủ (2004), Nghị định số 104/2004/NĐ-CP ngày 23/3 về Công báo nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.
14. Chính phủ (2004), Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4 về công tác văn thư, Hà
Nội.
15. Chính phủ (2004), Quyết định số 933/QĐ-TTg ngày 28/7 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật của Chính phủ,
Hà Nội.
16. Chính phủ (2004), Nghị định số 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9 quy định tổ chức các cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hà
Nội.
17. Chính phủ (2004), Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11 về kiểm tra và xử lý
văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
18. Chính phủ (2005), Chỉ thị số 32/2005/CT-TTg ngày 10/10 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.

19. Chính phủ (2005), Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 27/12 về việc quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật, Hà Nội.
20. Chính phủ (2006), Nghị định 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9 quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân năm 2004, Hà Nội.
21. Chính phủ (2007), Quyết định số 05/2007/QĐ-TTg ngày 10/01 của Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Hà
Nội.
22. Chính phủ (2008), Nghị định 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11 về sửa đổi bổ sung một số
điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003, Hà Nội.
23. Chính phủ (2010), Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3 về bán đấu giá tài sản,
Hà Nội.
24. Chính phủ (2010), Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4 về kiểm tra và xử lý văn
bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
25. Chương trình phát triển Liên hợp quốc (2002), Tăng cường năng lực pháp luật tại
Việt Nam, Dự án VIE/98/001, Hà Nội.
26. Nguyễn Chí Dũng (2005), "Những nội dung cần làm khi lấy ý kiến nhân dân về các dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật ", Nghiên cứu lập pháp, (12).
27. Dự án VIE/02/015 và UNDP (2006), Sổ tay nghiệp vụ soạn thảo, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, Nxb Tư
pháp, Hà Nội.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung
ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ
Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5 của Bộ Chính

trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020, Hà Nội.
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6 của Bộ Chính
trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
33. Phạm Tuấn Khải (2006), "Nhà khoa học với công tác xây dựng pháp luật: vai trò, ý
nghĩa và thực trạng", Nghiên cứu lập pháp, (14).
34. Nguyễn Lân (2002), Từ điển Từ và Ngữ Hán - Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà
Nội.
35. Uông Chu Lưu (Chủ biên), Bình luận Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
Nxb Tư pháp, Hà Nội.
36. "Nhà khoa học đang và sẽ ở đâu trong hoạt động lập pháp?" (2006), Nghiên cứu lập
pháp, (14).
37. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
38. Quốc hội (1992), Nghị quyết kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XI về công tác xây dựng
pháp luật, Hà Nội.
39. Quốc hội (1996), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
40. Quốc hội (2002), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung), Hà
Nội.
41. Quốc hội (2003), Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Hà Nội
42. Quốc hội (2004), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân, Hà Nội.
43. Quốc hội (2008), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
44. Đinh Dũng Sĩ (2006), "Thực trạng và giải pháp khắc phục vấn đề "Luật khung" ở
Việt Nam", Nghiên cứu lập pháp, (4).
45. Lê Hồng Sơn (Chủ biên), Tình huống nghiệp vụ kiểm tra văn bản quy phạm pháp
luật, Tập I, II, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
46. Lê Hồng Sơn (Chủ biên) (2005), 100 câu hỏi - đáp về kiểm tra và xử lý văn bản quy
phạm pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
47. Lê Hồng Sơn (Chủ biên) (2010), Nghiệp vụ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp
luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

48. Lê Minh Tâm (2003), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam: Những
vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
49. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
50. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2002), Quyết định số 2398/2002/QĐ-UB ngày 26/7
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc ban hành quy định về trình tự,
thủ tục soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân
tỉnh Thanh Hóa, Thanh Hóa.
51. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2004), Chỉ thị số 08/CT-UB ngày 26/3 của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc triển khai thực hiện Nghị định
135/2003/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật,
Thanh Hóa.
52. Viện Ngôn ngữ học (1996), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
53. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2000), Nghiên cứu cơ chế thẩm
định của Bộ Tư pháp đối với dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, Báo cáo
phúc trình đề tài, mã số 2000-58-144, Hà Nội.

×