Tải bản đầy đủ (.doc) (64 trang)

phân tích báo cáo TC của CT cổ phần thủy điện nà lơi trong giai đoạn 2006 2011

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (836.82 KB, 64 trang )

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT Công ty
DN Doanh nghiệp
NLC Công ty thủy điện Nà Lơi
RHC Công ty thủy điện Ry Ninh II
TCDN Tài chính doanh nghiệp
TT Thị trường
TB Trung bình
LN Lợi nhuận
DT Doanh thu
CP Chi phí
CPBH Chi phí bán hàng
CPQL Chi phí quản lý
CP BH&QL Chi phí bán hàng và quản lý
VCSH Vốn chủ sở hữu
TS Tài sản
TSNH Tài sản ngắn hạn
TSLĐ Tài sản lưu động
TSCĐ Tài sản cố định
HTK Hàng tồn kho
KPT Khoản phải thu
1
TÓM LƯỢC BÁO CÁO
Cơ chế TT với nhiều thành phần kinh tế tự do cạnh tranh, cùng xu hướng hội
nhập, hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng đã đặt các DN trước nhiều khó khăn,
thử thách và quy luật đào thải của TT. Để vượt qua những thách thức này đòi hỏi DN
cần hiểu được tình hình kinh doanh, đặc biệt là tình hình TC của mình để đưa ra
những chiến lược lược phát triển phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Công việc phân tích TC, vì vậy, trở nên hết sức quan trọng không chỉ đối với
bản thân DN mà còn đối với các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp cùng các chủ
thể khác có liên quan để có được một bức tranh xác thực về thực trạng hoạt động của


DN và từ đó đưa ra những quyết định kinh tế đúng đắn. Với mục đích bước đầu
nghiên cứu, áp dụng những kiến thức về TCDN và phân tích TC, chúng em đã thực
hiện việc phân tích báo cáo TC của CT cổ phần thủy điện Nà Lơi trong giai đoạn 2006
- 2011 nhằm phân tích, đánh giá và đưa ra một số dự đoán về tình hình TC của DN
thông qua việc phân tích rủi ro, phân tích các nhóm tỷ số TC, phân tích luồng tiền và
so sánh với TB ngành. Trong quá trình thực hiện phân tích, chúng em nhận thấy CT
thủy điện Nà Lơi là một CT nhỏ nhưng hoạt động tương đối hiệu quả, nhất là trong
tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay. Việc tìm hiểu tài liệu cho việc nghiên cứu
khá dễ dàng do CT thực hiện minh bạch hóa số liệu của mình qua các năm. Tuy nhiên,
do mới bắt đầu có những kiến thức cơ bản về TCDN cũng như kỹ năng phân tích TC
còn hạn chế nên bài làm không tránh khỏi sai sót, mong nhận được sự góp ý của giáo
viên hướng dẫn để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
A.MỞ ĐẦU
1. Mục đích nghiên cứu
2
- Tìm hiểu tổng quát về CT cổ phần thủy điện Nà Lơi.
- Phân tích các báo cáo TC của CT, đưa ra những nhận xét, đánh giá về tình hình
TC trong giai đoạn 2006 – 2011.
- Đưa ra một số dự đoán trong tương lai.
2. Phạm vi-giới hạn, phương pháp nghiên cứu
- Phạm vi: tình hình TC của CT trong 6 năm từ 2006 đến 2011
- Phương pháp: thống kê, phân tích, so sánh.
- Giới hạn bài nghiên cứu: giới hạn về kiến thức, kỹ năng phân tích TC, việc
đánh giá còn nhiều ý kiến chủ quan nên còn nhiều sai sót; Báo cáo TC của CT trong
một số năm công bố dưới dạng tóm tắt nên không tính toán được một số chỉ số TC.
3. Giả định:
- CT chịu ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô và môi trường ngành.
- Thông tin CT cung cấp trên các phương tiện là trung thực, chính xác.
- CT hoạt động liên tục, đặt mục tiêu tối đa hóa giá trị DN và LN lên hàng đầu.
- Nhà đầu tư lý trí.

4. Giới thiệu tổng quát về CT
CT thủy điện Nà Lơi có tiền thân là nhà máy thủy điện Nà Lơi - được khánh thành
năm 2003, là DN nhà nước thuộc tổng CT Sông Đà 11 và được chuyển sang hoạt
động theo mô hình CT cổ phần năm 2003, trụ sở chính của CT đóng trên địa bàn: Km
72 - xã Thanh Minh - thành phố Điện Biên Phủ - tỉnh Điện Biên. Nhà máy gồm 3 tổ
máy, công suất 9,3 MW (mỗi tổ máy 3,1 MW), được xây dựng với tổng kinh phí là
179 tỷ đồng, điện lượng hàng năm 46,29 triệu kWh, là công trình thủy điện có công
suất lớn nhất tại Điện Biên được xây dựng trên sông Nậm Rốm. Tính đến nay, CT đã
thực hiện việc niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội được
5 năm (ngày giao dịch đầu tiên: 14/12/2006). CT có vốn điều lệ là 50 tỷ đồng và vốn
cổ phần là 5 triệu cổ phần. Lĩnh vực kinh doanh của CT bao gồm đầu tư, quản lý vốn
đầu tư và trực tiếp sản xuất kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực: sản xuất và
kinh doanh điện thương phẩm, thí nghiệm, hiệu chỉnh hệ thống điện, thi công lắp đặt
hệ thống điện, nước, thông tin, sửa chữa thiết bị điện và gia công cơ khí, thi công, xây
lắp đường dây và trạm biến áp đến cấp điện áp 110KV, hướng dẫn, đào tạo công nhân
vận hành Nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, đầu tư, xây dựng nhà máy điện vừa và nhỏ,
nhận ủy thác đầu tư của các tổ chức, cá nhân.
B. PHÂN TÍCH VĨ MÔ
I. Tình hình kinh tế chung:
Giai đoạn 2006 - 2011 là một thời kỳ đầy thử thách đối với kinh tế TG nói chung
và kinh tế VN nói riêng. Năm 2007, VN chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
3
WTO, trong khi đó nền kinh tế TG đang nhen nhóm nguy cơ của cuộc khủng hoảng
tín dụng mà đỉnh điểm là năm 2008. Năm 2011, dù còn tiểm ẩn nhiều nguy cơ đằng
sau cuộc khủng hoảng nợ công trên TG, chịu tác động của tình trạng lạm phát ở mức
cao nhưng nền kinh tế TG đã có những chuyển biến tích cực: tăng trưởng đạt 4%
Nằm trong guồng quay đó, tăng trưởng kinh tế VN năm 2011 đạt 5,89%.
Sự biến động của một số yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng trong thời gian qua:
Lạm phát: Lạm phát biến động qua các năm
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011

Lạm phát bình quân năm
7,50%
8,30% 22,97% 6,88% 9,19% 18,58%
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Năm 2011, VN nằm trong nhóm 4 nước có tỷ lệ lạm phát cao nhất TG. Lạm phát
ở mức cao đã làm tăng CP sản xuất kinh doanh, làm giảm khả năng cạnh tranh của các
DN, mặt khác lại làm giảm sức mua của người tiêu dùng, đời sống của người dân gặp
nhiều khó khăn. Lạm phát cao cùng với vòng xoáy lương - giá sẽ có nhiều tác động
tới tình hình tăng trưởng của VN nói riêng và các nước trong khu vực nói chung. Dựa
trên kết quả thực hiện chính sách thắt chặt của nghị quyết 11 năm 2011, những tín
hiệu tích cực của yếu tố cầu kéo và CP đẩy cũng như giá hàng hóa trên TG có xu
hướng giảm… Lạm phát trong năm 2012 được dự báo sẽ hạ nhiệt và dao động quanh
mức 9-11%. Ngay trong năm tiếp theo (năm 2013), áp lực lạm phát được dự báo tiếp
tục giảm và dao động quanh mức 6-8%. Tuy vậy, đây chỉ là những con số mang tính
chất tham khảo khi mà làm phát còn nhiều tiềm ẩn khó kiểm soát.
Lãi suất: Lãi suất có xu hướng tăng cao, từ 2006 - 2011 lãi suất cơ bản tăng từ
8,25%/năm lên đến 14%/năm. Năm 2011, lãi suất cho vay bình quân năm lên đến
18,3% (tăng 3% so với năm 2010). Điều đó làm cho các DN ngày càng khó khăn hơn
trong việc tiếp cận với nguồn vốn và trả CP cao hơn cho khoản vay của mình. Riêng
với NLC, tổng dư nợ của CT trong năm 2011 là trên 3 tỷ đồng, và lãi suất cho vay
được thả nổi nên CT sẽ phải chịu rủi ro khi TT lãi suất biến động theo xu hướng tăng.
Chính bởi tình trạng lãi suất cho vay cao như hiện nay nên dù đã tranh thủ chạy nhiều
chương trình ưu đãi lãi suất nhưng dòng vốn trong nhiều ngân hàng vẫn ứ đọng. Tình
hình đó cho thấy lãi suất sẽ còn giảm trong năm 2012, song mức giảm nhanh hay
4
chậm còn tùy thuộc vào tình hình của TT kinh tế và dự báo lãi suất cho vay có thể dao
động quanh mức 15-17%, trong khi đó lãi suất huy động vốn vào khoảng 10-12%.
Tỷ giá: Trong giai đoạn 2006 - 2011, tỷ giá biến động liên tục với xu hướng tăng
mạnh, từ 16.086USD/VND – 21.030USD/VND. Tỷ giá tăng gây khó khăn cho các
hoạt động thương mại với nước ngoài cũng như các khoản vay ngoại tệ. NLC với

khoản vay trên 3 tỷ là vay ngoại tệ cho việc đầu tư dự án, vì vậy tỷ giá tăng sẽ làm cho
CT bị thiệt một khoản DT nhất định. Tuy nhiên, tỷ giá áp dụng cho khoản vay chỉ
thay đổi theo tỷ giá mới nếu tỷ giá công bố giữa đồng USD và VNĐ biến đổi qua mức
±5% so với tỷ giá áp dụng cho lần thanh toán gần nhất. Chính vì vậy, tác động tỷ
giá đối với NLC là không lớn. Trong năm 2012, với cơ sở là sự ổn định của tỷ giá
trong thời gian gần đây và không tính tới những yếu tố bất trắc thì tỷ giá được cho là
sẽ biến động trong khoảng 2-3% và không vượt qua ngưỡng 22.000USD/VND. Song
vẫn còn rất nhiều ẩn số từ nền kinh tế TG trong thời kỳ hậu khủng hoảng khó dự đoán
và diễn biến của tỷ giá đối với VN là một bài toán khó trong thời gian tới.
C. PHÂN TÍCH NGÀNH
1. Khái quát ngành điện:
CT cổ phần thủy điện Nà Lơi là một CT hoạt động trong ngành kinh doanh và sản
xuất điện. Do đặc trưng là một ngành có cầu luôn vượt quá mức cung, cung cấp năng
lượng đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất và sinh hoạt và nhận được nhiều sự
hỗ trợ của Nhà nước nên đây được coi là một trong những ngành có tính ổn định, tốc
độ tăng trưởng khá cao và chịu ảnh hưởng ít nhất từ những biến động của TT TC so
với các ngành kinh tế khác ở VN. Về cơ cấu nguồn điện, sản lượng điện được sản xuất
từ các nhà máy thủy điện và nhiệt điện than, dầu, tua bin khí dầu và các nguồn phát
điện độc lập.
Hiện nay, theo quy hoạch VI của Nhà nước cơ cấu sản xuất điện có sự chuyển
dịch rõ rệt theo hướng tăng tỷ trọng của nhiệt điện chạy than, dầu và khí dầu.
5
2. Mô hình Porter’s 5 forces của ngành điện:
a) Áp lực từ phía nhà cung cấp: Đối với các nhà máy nhiệt điện thì đầu vào là
các khoáng sản như than, dầu khí – là những nguồn tài nguyên có hạn và không tái tạo
được. Trước tình hình các nguồn khoáng sản này đang dần trở nên khan hiếm ở nước
ta cũng như giá bán tăng mạnh trong những năm gần đây thì áp lực tăng giá của
những nhà cung cấp đối với các nhà máy này là rất cao. Các ngành than, dầu khí lại có
quy mô lớn, sự tập trung cao và sở hữu các nguồn lực quý hiếm tạo cho họ quyền lực
đàm phán lớn vì khả năng các nhà máy nhiệt điện thay thế những nguyên liệu đầu vào

cũng như CP chuyển đổi nhà cung cấp là rất cao. Còn đối với các nhà máy thủy điện,
đầu vào là lượng nước tích trữ đổ vào các hồ chứa thay đổi phụ thuộc vào thời tiết nên
không ảnh hưởng đến CP đầu vào mà chỉ ảnh hưởng tới sản lượng điện sản xuất được,
do đó, các CT này không chịu áp lực nào từ phía nhà cung cấp.
Ngoài ra, với tư cách là bên độc quyền trong khâu truyền tải và tiêu thụ, EVN có
quyền áp đặt mức giá bán trên TT sau khi đã thương thảo hợp đồng giá cả với Tập
đoàn than – khoáng sản VN và PetroVietnam. Điều này dẫn đến sự hạn chế về nguồn
cung nói riêng và sự phát triển của ngành Điện VN nói chung.
b) Áp lực từ phía khách hàng: Ở nước ta, EVN đóng vai trò vừa là cơ quan điều
tiết, bình ổn giá điện vừa là một tổ chức kinh doanh có LN và cũng là người mua duy
nhất của các CT sản xuất và kinh doanh điện nên sự áp đặt của EVN là rất lớn cả về
sản lượng điện sản xuất (tùy theo điều kiện thời tiết và tình hình khan hiếm điện) và
giá bán trong hợp đồng mua bán điện nên các CT này không hề có sức mạnh áp đặt
giá lên EVN mà ngược lại, khi muốn tăng giá bán điện thì phải có công văn gửi EVN
để đàm phán tăng giá bán.
c) Cạnh tranh nội bộ ngành: Sản lượng điện trong những năm gần đây liên tục
tăng, ước tính tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 17-20% - gần gấp đôi tăng trưởng
GDP nhưng chỉ đáp ứng được 90% nhu cầu tiêu thụ điện - được dự báo là sẽ tăng
nhanh trong những năm tới.
6

Tuy nhiên, sự cạnh tranh trong nội bộ ngành
Điện VN không thật sự mạnh mẽ do hai nguyên nhân chính. Thứ nhất là nhu cầu về
điện luôn lớn hơn cung nên các CT trong ngành không phải lo ngại về cầu tiêu thụ
trong điều kiện số lượng các CT trong ngành đang còn ít và hoạt động phân tán. Nhà
nước cũng như EVN đều khuyến khích có thêm các nhà máy sản xuất điện riêng phục
vụ cho hoạt động của DN. Thứ hai đó là sản lượng và giá của ngành do EVN quyết
định. Bên cạnh đó, các rào cản về công nghệ, vốn đầu tư; ràng buộc với chính phủ và
người lao động đã khiến cho việc rút lui khỏi ngành sản xuất điện là rất khó khăn.
d) Áp lực từ phía đối thủ tiềm ẩn: Mặc dù là ngành có sức hấp dẫn lớn do có khả

năng sinh lời cao và số lượng DN trong ngành còn thấp nhưng để có thể kinh doanh
trong ngành này đòi hỏi các DN phải có vốn đầu tư cho xây dựng ban đầu lớn và thời
gian hoàn vốn lâu, vị trí địa lý thuận lợi, nguồn nguyên liệu đáp ứng được những yêu
cầu cơ bản của ngành. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý cũng được xem là một rào cản
lớn cho việc gia nhập ngành. Vậy nên, áp lực từ phía đối thủ tiềm ẩn đối với các CT
trong ngành là không cao.
e) Áp lực từ sản phẩm thay thế: Xét về mặt sản phẩm cuối cùng thì điện không
có sản phẩm thay thế, nhưng nếu xét trên phương diện là các CT sản xuất và kinh
doanh điện thì các CT trong ngành sẽ đối mặt với các sản phẩm thay thế là các máy
phát điện – dự báo sẽ được phát triển mạnh trong tương lai khi nhu cầu về điện vẫn
không được đáp ứng đủ. Ngoài ra, với chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững, ứng dụng năng lượng tái tạo trong tương lai đã và sẽ được chú trọng phát triển
nhằm từng bước thay thế dần các nguồn năng lượng truyền thống, một số nguồn năng
lượng tái tạo như mặt trời và gió đã được áp dụng tại VN hay điện nguyên tử, mặc dù
còn sơ khai, song áp lực từ sản phẩm thay thế trong tương lai của thủy điện và nhiệt
điện khá cao.
D. PHÂN TÍCH RỦI RO
7
I. Rủi ro hệ thống:
1. Tốc độ tăng trưởng GPP bình quân hằng năm: Theo Tổng cục thống kê, tốc
độ tăng GDP bình quân hằng năm giai đoạn 2006 - 2010 đạt 7%, GDP năm 2011 là
5,89%, tuy có hơi thấp so với giai đoạn 2001 - 2005 (7,51%) nhưng với số liệu này
cũng cho thấy sự phát triển tương đối ổn định của nước ta. Nền kinh tế phát triển thì
nhu cầu sử dụng điện cũng sẽ biến thiên cùng chiều. Như vậy lượng tiêu thụ điện
trong nước cũng tiếp tục tăng trưởng đều đặn.
2. Lạm phát: Mức độ lạm phát của nước ta trong giai đoạn 2006 - 2011 có nhiều
sự chuyển biến, chênh lệch giữa các năm cũng khá rõ rệt như năm 2006 là 6,88%
nhưng năm 2008 lại lên cao 22,97%, năm 2011 là 18,53%. Tuy chênh lệch khá lớn
nhưng vẫn ở mức hai con số, và điều này có thể chấp nhận được với một nước đang
trên đà phát triển như VN. Tuy nhiên do áp lực từ lạm phát, điều này đã tạo khó khăn

cho NLC trong việc định giá bán, giảm sức cạnh tranh với các CT cùng ngành.
3. Lãi suất: Nhân tố lãi suất cũng ảnh hưởng đáng kể đến NLC khi sự biến động
của nó diễn ra ngoài tầm kiểm soát của CT. Khi lãi suất tín dụng lên quá cao thì DN sẽ
khó khăn trong việc vay vốn đầu tư, trả nợ. CT cũng sẽ gặp phải rủi ro trong việc lựa
chọn loại hình lãi suất. Ví dụ lãi suất cố định, lãi suất thả nổi,
4. Tỷ giá: Giá bán điện của NLC được tính theo USD và được quy đổi ra đồng
VN theo tỷ giá cố định của năm hiện hành. Tỷ giá áp dụng này chỉ thay đổi theo tỷ giá
mới nếu tỷ giá công bố giữa đồng USD và VNĐ biến đổi qua mức ±5% so với tỷ giá
áp dụng cho lần thanh toán gần nhất. Cho nên sự chênh lệch tỷ giá sẽ ít ảnh hưởng đến
DT của CT.
II.Rủi ro không hệ thống
1. Nguồn nguyên liệu đầu vào: Nhà máy Thủy điện Nà Lơi nằm trên một địa bàn
có thời tiết không mấy thuận lợi, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau. Như vậy khoảng thời gian thiếu nước tương đối dài, đây là
một trở ngại tương đối lớn đối với DN. NLC nên đề ra các biện pháp khắc phục tình
trạng trên như xây dựng hồ chứa nước…
2. TT tiêu thụ: Đây là một yếu tố mà các DN đang hết sức quan tâm. Tuy nhiên
với NLC thì yếu tố này không đáng kể vì NLC đã ký kết hợp đồng số 001/2004/NL-
ĐL1 cung cấp điện cho tổng CT điện lực VN EVN trong thời hạn 25 năm (từ
(05/07/2003).
3. Rủi ro khác:
8
Rủi ro đến từ phía thiên nhiên: bao gồm các thiên tai như hạn hán, lũ lụt, động
đất, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh… đều ảnh hưởng xấu đến quá trình sản xuất
kinh doanh của DN. Để cắt giảm rủi ro, CT nên mua bảo hiểm cho TS, người lao
động.
Rủi ro trong quá trình sản xuất: máy móc hư hỏng, vận hành kém chất lượng, các
công trình đê đập, hồ chứa nước xảy ra sự cố…sẽ gây thiệt hại đáng kể cho DN. Muốn
khắc phục cần phải thường xuyên bão dưỡng, kiểm tra, sửa chữa kịp thời…
Rủi ro an ninh: hiện nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các tên trộm có thể

trộm bất cứ thứ gì, DN nên có đội ngũ bảo vệ trung thành, đáng tin cậy và có trí tuệ.
E. PHÂN TÍCH TC
I. Phân tích chiến lược kinh doanh:
Hiện nay, ngoài sản xuất kinh doanh điện thương phẩm, NLC còn cung cấp các
dịch vụ khác bao gồm: thi công, xây lắp đường dây và trạm biến áp đến cấp điện áp
110KV; thi công, lắp đặt hệ thống điện nước, nước, thông tin. Trong năm 2006, NLC
bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh là hướng dẫn, đào tạo công nhân vận hành nhà
máy thủy điện vừa và nhỏ. Các hoạt động kinh doanh này đã đem lại DT, góp phần bổ
sung và đa dạng hóa DT của toàn CT. Tuy nhiên, DT từ sản xuất, kinh doanh điện
thương phẩm vẫn chiếm tỷ trọng cao, TB98% tổng DT của NLC. Cũng trong năm
2006, NLC chính thức giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội, điều này
đánh dấu bước thay đổi trong phương thức huy động vốn, việc huy động vốn từ đại
chúng sẽ giúp CT chủ động hơn trong việc thay đổi số vốn và cơ cấu vốn.
Việc áp dụng chiến lược kinh doanh này trong thời gian qua đã đem lại hiệu quả
không nhỏ trong việc tạo ra DT và LN của CT, tăng sức cạnh tranh của CT trong
ngành thủy điện, hơn nữa NLC còn được coi là CT trả cổ tức khá cao (duy trì ở mức
20% qua các năm). Tuy vậy, DT thuần của CT vẫn còn biến động qua thời gian, dù
biến động không quá lớn nhưng điều đó đòi hỏi NLC phải thay đổi chiến lược kinh
doanh của mình trong tương lai.
Mục tiêu hoạt động của CT là kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển vốn đầu tư
tại CT, tối đa hóa LN, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, đem lại lợi ích tối ưu
cho các cổ đông; tối đa hóa hoạt động của toàn CT, đa dạng hóa ngành nghề kinh
doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Sau đây là một số định hướng phát triển cho CT
trong những năm sắp tới: Duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh truyền thống ổn định;
Từng bước phát triển sản xuất kinh doanh sang đầu tư thực hiện các dự án xây dựng
9
nhà máy thủy điện, lắp đặt sửa chữa, thí nghiệm hiệu chỉnh thiết bị nhà máy thủy điện,
đường dây và trạm biến áp; Đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực, thu hút nhân tài; Mở
rộng TT trong và ngoài nước, nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm xây dựng và phát
triển NLC thành CT có tiềm lực kinh tế mạnh.

II. Phân tích các chỉ số:
1. Chỉ số thanh khoản: (Biểu đồ 1, 2)
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 2009 2010 2011
RHC
(2011)
TB ngành
(2011)
Chỉ số thanh
toán hiện hành
0.296 0.492 15.128 1.134 1.037 5.321 0.740 2.72
Chỉ số thanh
toán nhanh
0.269 0.465 14.554 0.915 0.594 4.323 0.662 2.50
Chỉ số tiền mặt
0.072 0.294 10.150 0.465 0.032 3.585 0.295 -
Từ 2006 - 2011, nhóm chỉ số thanh toán của NLC không ổn định. Nhưng nhìn
chung được cải thiện vào những năm sau, cho thấy khả năng của DN trong việc sử
dụng TSLĐ để thực hiện nghĩa vụ TC ngắn hạn đang tăng lên. Cụ thể: Giai đoạn 2006
- 2007, NLC gặp phải rủi ro thanh khoản khi các chỉ tiêu trên đều nhỏ hơn 1. Điều này
có nghĩa là TSNH của NLC không đủ đảm bảo cho việc thanh toán ngay các khoản nợ
ngắn hạn, nếu như chủ nợ đòi tiền cùng một lúc. Con số này thường không được
những người cho vay cũng như các nhà cung cấp chấp nhận và làm giảm sức hấp dẫn.
Đặc biệt, năm 2008 các chỉ số thanh khoản tăng lên một cách đột biến. Nguyên nhân
là do các TSNH thanh khoản cao năm 2008 đều tăng gần 2 lần năm trước và nợ ngắn
hạn giảm mạnh từ 18 tỷ xuống 1 tỷ. Như vậy, trong năm này, CT có lượng tiền mặt
nhàn rỗi quá nhiều và TSNH chủ yếu được tài trợ bằng vốn dài hạn ảnh hưởng đến
khả năng sinh lời, giảm hiệu quả hoạt động và cho thấy khả năng quản lý TSLĐ kém
hiệu quả. Nhưng trong năm 2009 và 2010 thì chỉ tiêu này tương đối an toàn. Đến
2011, khả năng thanh toán hiện thời, thanh toán nhanh của NLC cũng ở mức cao, mặc

dù có ít HTK nhưng lại nhiều tiền mặt nhàn rỗi do NLC không có các khoản đầu tư
TC ngắn hạn cũng như dài hạn. Chỉ tiêu này cao hơn rất nhiều so với RHC và cũng
10
cao hơn mức bình quân chung của ngành. Điều này giúp đảm bảo an toàn TC cho
NLC, làm hấp dẫn các nguồn cho vay nhưng không tận dụng hết nguồn lực TC để tạo
LN cao. Do đặc thù loại hình DN, HTK và TSLĐ kém thanh khoản chỉ chiếm tỷ trọng
nhỏ trong cơ cấu TS. Chính vì đặc điểm này nên các chỉ số thể hiện khả năng thanh
toán hiện thời và khả năng thanh toán nhanh không chênh nhau nhiều. Qua đó, NLC
nên có chính sách sử dụng lượng tiền mặt nhàn rỗi tốt hơn và tăng đầu tư TC ngắn
hạn.
2. Chỉ số đòn bẩy: (Biểu đồ 3, 4, 5)
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 2009 2010 2011
RHC
(2011)
TB ngành
(2011)
Chỉ số nợ vốn cổ
phần (D/E)
1.544 0.857 0.641 0.191 0.041 0.034 0.125 1.118
Chỉ số tổng nợ
(D/A)
0.641 0.522 0.395 0.205 0.089 0.055 0.358 0.410
Chỉ số khả năng
thanh toán lãi vay
0.426 1.466 2.495 10.087 16.262 158.80 1.109 -
Giai đoạn 2006 - 2011, D/A và D/E giảm dần cho thấy NLC sử dụng ngày càng ít
nợ để tài trợ cho TS trong khi khả năng thanh toán lại khá cao, điều này làm giảm khả
năng tạo nhiều LN và giảm giá trị DN. Nhìn chung NLC sử dụng nợ ít hơn VCSH để
tài trợ cho TS. Điều này giúp NLC có khả năng tự chủ TC cao cũng như còn được vay

nợ nhiều hơn, tuy nhiên không tận dụng được lợi thế của đòn bẩy TC và cơ hội tiết
kiệm thuế, đây cũng chính là vấn đề của các CT thuộc ngành điện. Năm 2011, so với
RHC thì mức độ sử dụng nợ của NLC thấp hơn nhiều và càng thấp hơn mức bình
quân ngành. Cho thấy năng lực sử dụng, quản lý nợ của NLC còn kém hiệu quả. Năm
2006, chỉ số khả năng thanh toán lãi vay của NLC thấp và nhỏ hơn 1 (0.426) cho thấy
rủi ro TC của CT khá cao. Lý do là vì đặc thù của dự án thuỷ điện với số vốn đầu tư
ban đầu lớn, trong những năm đầu phải gánh nặng lãi vay ngân hàng theo lãi suất biến
đổi theo TT khiến cho LN làm ra không đủ trả lãi vay (trong năm này, CP lãi vay gấp
2.35 lần LN thuần từ hoạt động kinh doanh). Khả năng trả lãi vay của NLC từ LN
hoạt động SXKD đang tăng nhanh trong 6 năm gần đây và có sự tăng mạnh vào năm
11
2011 (do CP lãi vay giảm mạnh từ 798 xuống 81 triệu đồng). Chỉ số này quá cao một
phần là do NLC sử dụng nợ thấp và lãi vay ngân hàng giảm về 0 vào những năm sau
dẫn đến rủi ro và LN thấp không cần thiết. Qua phân tích, có thể thấy rằng NLC nên
đi vay nhiều hơn để tạo ra nhiều LN và nâng cao giá trị DN.
3. Tỷ số hoạt động: (Biểu đồ 6, 7, 8)
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011
1. Vòng quay Tổng TS 0.153 0.166 0.295 0.316 0.323 0.351
2. Vòng quay HTK 88.011
66.779
45.271 23.711 14.138 13.364
3. Số ngày bình quân HTK 4.147 5.466 8.085 15.394 25.817 27.312
4. Vòng quay KPT 8.983 9.214 11.949 11.359 12.056 15.270
5. Kỳ thu tiền bình quân 40.632 39.614 30.630 32.133 30.275 23.903
6. Vòng quay TSLĐ 6.374 4.155 3.723 3.706 5.563 4.072
7. Vòng quay TSCĐ 0.186 0.241 0.423 0.433 0.426 0.482
Năm 2011 NLC RHC Bình quân ngành
1. Vòng quay TSS 0.351 0.346 0.35
2. Vòng quay HTK 13.364 7.193 _
3. Số ngày bình quân HTK 27.312 50.749 _

4. Vòng quay KPT 15.27 3.473 _
5. Kỳ thu tiền bình quân 23.903 105.107 _
6.Vòng quay TSLĐ 4.072 1.525 1.81
7.Vòng quay TSCĐ 0.482 0.465 _
12
Từ 2006 đến 2011, vòng quay Tổng TS có xu hướng tăng nhẹ. Mỗi đồng TS của
NLC trong 6 năm qua TB chỉ tạo ra 0.261 đồng DT là một con số khá thấp. Tuy
nhiên, do hầu hết các nhà máy thủy điện được thành lập từ rất lâu, khoảng trên dưới
20 năm nên hiệu suất sử dụng TS của CT là rất thấp, vòng quay Tổng TS của nhóm
ngành thủy điện đều dưới 1. Năm 2011, so sánh với RHC và bình quân ngành thì hiệu
quả sử dụng TSCĐ của NLC là tương đương và được xem là khá tốt đối với ngành
thủy điện.
Vòng quay HTK giảm dần và số ngày bình quân HTK tăng dần từ 2006 đến 2011.
NLC đầu tư vừa phải vào HTK và mức độ đầu tư ngày càng tăng cũng như hiệu quả
quản lý HTK khá tốt. Vòng quay HTK khá cao khiến cho số ngày tồn kho bình quân
khá thấp giúp DN quay vòng vốn nhanh và tốn ít CP quản lý HTK. Năm 2011, bình
quân HTK của NLC quay được 13.364 vòng để tạo ra DT, cao hơn gần 2 lần so với
RHC và mất 27.312 ngày tồn kho gần bằng một nửa số ngày tồn kho của RHC. Điều
này cho thấy hiệu quả quản lý HTK của NLC tốt hơn rất nhiều so với RHC.
Từ 2006 đến 2011, vòng quay các KPT tăng nhẹ qua từng năm và làm cho kỳ thu
tiền bình quân giảm nhẹ . Nhìn chung, NLC quản lý chính sách bán chịu khá tốt, kỳ
thu tiền bình quân là 33 ngày. NLC ngày càng ít bán chịu hàng hóa hơn hoặc thời hạn
bán chịu ngày càng ngắn do đó sẽ làm giảm tính cạnh tranh khi các DN trong ngành
khác có chính sách bán chịu cao từ đó làm giảm DT, nhưng do đặc điểm ngành điện
nên mức độ giảm sẽ rất thấp. Tuy nhiên đây cũng là một con số tương đối an toàn vì
nếu cao quá thì vốn của NLC sẽ bị chiếm dụng nhiều. Năm 2011, bình quân mất
23.903 ngày để NLC thu hồi được KPT trong khi RHC là 105.107 ngày. Với chính
sách bán chịu hàng hóa thấp như trên thì khả năng giữ khách hàng cũng như khả năng
cạnh tranh của NLC ở các lĩnh vực kinh doanh phụ là thấp hơn so với RHC nhưng
ngược lại NLC ít bị khách hàng chiếm dụng vốn hơn.

Nhìn chung, vòng quay TSLĐ có xu hướng giảm dần, vòng quay TSCĐ có xu
hướng tăng dần, tuy nhiên mức độ tăng giảm qua từng năm là tương đối nhỏ. Bình
quân 6 năm qua, mỗi đồng TSLĐ của DN tạo ra được 4.599 đồng DT. Đây là một con
số khá tốt cho thấy hiệu quả sử dụng TSLĐ của NLC là khá cao. Tuy nhiên, hiệu quả
sử dụng TSCĐ lại rất thấp nhưng điều này phù hợp với đặc điểm của ngành thủy điện
là ngành có giá trị TSCĐ rất cao. Năm 2011, hiệu quả sử dụng TSLĐ của NLC cao
hơn nhiều RHC và hiệu quả sử dụng TSCĐ của 2 CT này là tương đương nhau.
13
Tóm lại, các chỉ số trên cho thấy hiệu quả quản lý TS của NLC là khá tốt và đảm
bảo ổn định khả năng sinh lời và giá cổ phiếu của CT.
4. Chỉ số sinh lợi: (Biểu đồ 9, 10)
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011
TB ngành
(2011)
RHC
(2011)
Chỉ số LN
thuần biên
0.224 0.690 0.452 0.622 0.299 0.310 0.3 0.254
ROA 0.034 0.115 0.133 0.196 0.096 0.109 0.07 0.088
ROE 0.092 0.275 0.248 0.283 0.114 0.117 0.12 0.173
Chỉ số LN thuần biên biến động tăng giảm không đồng đều trong giai đoạn 2006 -
2011 và nhìn chung đều nhỏ hơn 1 cho thấy khả năng tạo LN từ DT là rất thấp. Năm
2011, cứ 1 đồng DT của NLC sẽ tạo ra được 0.31 đồng LN, tương đối cao so với RHC
và bằng bình quân ngành. Điều này khá phù hợp với đặc điểm của các CT sản xuất
điện do bị áp đặt giá bởi nhà phân phối điện độc quyền EVN.
Từ 2006 đến 2009, ROA của NLC tăng nhẹ, riêng năm 2010 giảm rồi đến năm
2011 tăng trở lại nhưng đều nhỏ hơn 1 rất nhiều. Tuy nhiên, ROA thấp cũng là do đặc
điểm của ngành thủy điện là có giá trị TS lớn và lâu năm nên hiệu suất sử dụng TS
thấp. Năm 2011, mỗi đồng TS của NLC tạo được 0.109 đồng LN cho cổ đông thì

RHC là 0.088 đồng và bình quân ngành là 0.07 đồng. Như vậy khả năng sinh lời trên
một đồng TS của NLC là tương đối cao so với CT cùng ngành và so với bình quân
ngành. Mặt khác ROA các năm đều dương cho thấy NLC liên tục kinh doanh có lời.
Tỷ lệ ROE của NLC từ 2006 - 2011 có xu hướng ngày càng tăng cho thấy khả
năng tạo ra LN cho cổ đông từ VCSH của DN là ngày càng tăng. Đây là một dấu hiệu
tốt tạo nên sức hấp dẫn cho các cổ đông hiện tại cũng như các nhà đầu tư. Năm 2011,
một đồng VCSH của NLC tạo ra 0.12 đồng LN giành cho cổ đông, tuy có thấp hơn
một chút so với RHC là 0.173 đồng nhưng bằng với bình quân ngành. Tỷ số này
dương cho thấy NLC làm ăn có hiệu quả và có khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ
phần là tương đối tốt.
14
Mặc dù có vốn không lớn nhưng ROA và ROE của NLC khá lớn so với các CT
cùng ngành, cho thấy khả năng quản trị DN của NLC rất tốt.
5. Chỉ số giá TT: (Biểu đồ 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18)
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011
EPS 1154.113 3832.021 4087.073 5286.799 2293.920 2455.753
Giá TT 26316.667 28077.419 18785.887 25112.749 23323.6 14893.548
P/E 22.803 7.327 4.596 4.750 10.168 6.065
M/B 1.914 1.582 0.913 1.049 1.037 0.637
Năm 2011 NLC RHC Bình quân ngành
Tỷ lệ chi trả cổ tức
EPS 2455.753 2626 1829
Giá TT 14893.548 14237.90
P/E 6.065 5.422 5.7
M/B 0.637 0.837
EPS trong giai đoạn này có chiều hướng tăng và đạt mức cao nhất trong ngành
thủy điện vào 2009. Do trong những năm này khối lượng cổ phiếu phổ thông của DN
vẫn duy trì ở mức 5 triệu, trong khi LN tăng liên tục, tăng gần 30% so với năm 2008.
Năm 2010, EPS của NLC giảm gần 57% so với năm trước đó và thấp hơn TB ngành
nhưng chênh lệch là không quá lớn. Tới năm 2011, EPS tăng nhẹ và đạt mức cao hơn

so với TB ngành. Như vậy trong giai đoạn 2006 - 2011 EPS của NLC hầu hết được
duy trì ở mức cao và luôn nằm trong nhóm những cổ phiếu có EPS cao nhất ngành
thủy điện do mặc dù có công suất nhỏ nhưng NLC lại có giá bán điện cho EVN ở mức
cao khiến cho EPS đứng ở mức cao, điều này chứng tỏ hoạt động kinh doanh của
NLC tương đối ổn định, có hiệu quả và cổ phiếu của NLC hấp dẫn các nhà đầu tư.
15
Giá TT của NLC trong những năm 2006 và 2007 có sự tăng lên chứng tỏ sức hấp
hẫn của cổ phiếu này trên TT. Tuy nhiên trong năm 2008 giá cổ phiếu có sự sụt giảm
do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế. Đến 2009, giá TT lại tăng lên mạnh và
giảm xuống vào năm 2010 do ảnh hưởng của chính sách pha loãng cổ phần của ngành
điện làm cho các cổ phiếu trong ngành bớt hấp dẫn hơn trước. Năm 2011, giá TT lại
tiếp tục giảm mạnh. Nhưng nhìn chung NLC có mức độ giữ giá ổn định rất tốt so với
các CT cùng ngành.
P/E tăng giảm không ổn định từ 2006 - 2011. Năm 2006, P/E rất cao do CT cần
đầu tư thêm để phát triển sản xuất kinh doanh. Trong năm 2007 - 2008, chỉ số này
giảm, đây là một dấu hiệu không được tốt do EPS trong những năm này bắt đầu tăng
lên nhưng giá TT lại giảm. Tuy nhiên, trong vòng 6 năm qua, chỉ số P/E của NLC là
khá cao và có xu hướng ổn định trong những năm gần đây. Năm 2011, P/E của NLC
cao hơn RHC và bình quân ngành cho thấy CT có cơ hội tăng trưởng tốt trong ngành
và tạo ra sức kỳ vọng cao cho nhà đầu tư vào tương lai, làm tăng độ tin cậy của cổ
đông hiện tại cũng như thu hút các nhà đầu tư tiềm năng.
Năm 2006 - 2011, M/B tăng giảm không ổn định. Năm 2008, do tác động chung
của khủng hoảng kinh tế làm giảm sự kỳ vọng của TT vào triển vọng của NLC. Tuy
nhiên, ngay sau đó M/B đã hồi phục nhanh và tăng trở lại. Nhưng vào năm 2011, do
ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công Châu Âu làm kinh tế TG tăng trưởng chậm lại
và trong nước, lạm phát và mặt bằng lãi suất tăng cao gây áp lực cho sản xuất và đời
sống. Do đó, mọi kỳ vọng của các nhà đầu tư đều giảm đi đáng kể. So với RHC thì
năm này M/B của NLC thấp hơn tương đối nhỏ. Tuy nhiên, nhìn chung giai đoạn 6
năm qua thì triển vọng tương lai của NLC tương đối ổn định.
Nhận xét: Từ quá trình phân tích trên có thể thấy tình hình hoạt động kinh doanh

của NLC là khá tốt. Mặc dù có công suất nhỏ nhưng khả năng sinh lợi, hiệu quả sử
dụng vốn và TS là cao so với bình quân ngành. Thêm vào đó, mặc dù không có dự án
đầu tư nào nhưng hiệu quả sử dụng tiền vào hoạt động đầu tư là khá tốt. Cổ phiếu
NLC có tiềm năng sinh lợi tốt so với các cổ phiếu cùng ngành.
III. Phân tích luồng tiền:
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011
LN trước thuế 29,403 30,339 21,381 31,159 12,890 12,940
16
LCT thuần từ HĐKD (957) 12,947 24,941 45,945 17,934 19,758
LCT thuần từ HĐĐT 1,610 21,699 13,338 4,123 (1,094) (69)
LCT thuần từ HĐTC (77) (32,338) (35,355) (53,244) (19,776) (10,947)
LCT thuần trong kỳ 576 2,307 2,924 (3,176) (2,936) 8,743
Đơn vị tính: triệu đồng
Nhận xét: LC thuần của NLC không ngừng biến động qua các năm. Sự biến động
này khá lớn, tiêu biểu là có năm 2009 xuống đến -3,176 triệu đồng.
Nhìn vào biểu đồ, ta thấy các dòng tiền qua các năm biến động không đều. Mặc
dù biến động tăng giảm thất thường nhưng sự biến động tăng chính vẫn là dòng tiền
kinh doanh - là hoạt động chính của một CT. Vì vậy NLC vẫn hoạt động tốt qua các
năm. Cụ thể về sự biến động các dòng tiền như sau:
- Dòng tiền kinh doanh: Giai đoạn 2006 - 2009, dòng tiền tăng mạnh từ khoảng
0,96 tỷ đồng lên 45,9 tỷ đồng, đạt mức cao nhất vào năm 2009, điều này là vì LN từ
hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động năm 2009 tăng đáng kể so với các
năm trước nên LC thuần từ hoạt động kinh doanh tăng liên tục từ 2006 đến 2009; Giai
đoạn 2010 - 2011: dòng tiền giảm nhanh là do LN trước thuế và LN từ hoạt động kinh
doanh trước khi thay đổi vốn lưu động năm 2010 và 2011 giảm đáng kể so với năm
2009. Nhìn chung, LC thuần từ hoạt động kinh doanh dương liên tục qua các năm,
làm tăng tính thanh khoản cho NLC, chứng tỏ tiền được tạo ra từ hoạt động kinh
doanh có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản vay, chi trả cổ tức và mở
rộng đầu tư của DN.
- Dòng tiền đầu tư: từ 2006 - 2011 dòng tiền thay đổi nhiều, cụ thể: tăng nhanh

trong giai đoạn 2006 - 2007 (1,6 tỷ đồng tăng lên 21,7 tỷ đồng), nhưng đến giai đoạn
2007 - 2011 thì giảm đáng kể, từ 21,7 tỷ đồng xuống -0,68 tỷ đồng. Thậm chí vào năm
2010, con số này còn xuống -1,1 tỷ đồng.
17
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Chi đầu tư TSCĐ - (288) (265) (54) (1126) (615)
Thu tiền bán TSCĐ 1447 - - - - -
Chi cho vay,đầu tư công cụ nợ - - - - - -
Thu cho vay, bán công cụ nợ - 4000 12000 3000 - -
Góp vốn - (1990) (924) - - -
Thu hồi góp vốn - 18305 - - - -
Thu lãi cho vay, LN được chia 163 1672 2527 1177 32 546
(Đơn vị tính: triệu đồng)
Cụ thể: Giai đoạn 2006 - 2009: LC thuần từ hoạt động đầu tư của CT đều dương
vì giai đoạn này CT tiến hành bán bớt TScố định và thu hồi các khoản đầu tư TC. Tiền
thu từ hoạt động đầu tư này có thể dùng cho việc bù đắp tiền thiếu trong hoạt đông
kinh doanh để trả nợ vay, hoặc trả cổ tức của CT; Giai đoạn 2010 - 2011: LC thuần từ
hoạt động đầu tư của CT âm, thể hiện CT đang mở rộng đầu tư bằng việc chi thêm
tiền để mua sắm xây dựng TSCĐ, góp phần mang lại LN. Mặt khác, điều này cũng
làm tăng lòng tin của các nhà đầu tư.
- Dòng tiền TC (dòng tiền tài trợ): dòng tiền này tăng giảm thất thường nhưng
lại âm liên tục trong vòng nhiều năm. Điều này chứng tỏ, LC tiền tệ ròng từ hoạt động
TC âm thể hiện DN không huy động vốn và vay từ ngân hàng, đồng thời công ty còn
phải chi trả nợ gốc, chia trả cổ tức, LN cho chủ sỡ hữu, mua lại cổ phiếu quỹ nên dòng
tiền tài trợ của DN luôn ở mức thâm hụt.
- Mối quan hệ giữa các dòng tiền: nhìn chung qua các năm tiền được tạo ra từ
hoạt động kinh doanh được dùng để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ vay, chi
trả cổ tức, mở rộng đầu tư; hay nói cách khác: LC tiền tệ ròng từ hoạt động kinh
doanh sẽ cung cấp tiền chi cho các dòng LC tiền của hoạt động đầu tư và hoạt động
TC, vì: trong các năm 2006 - 2011, dòng tiền TC đều âm chứng tỏ CT không huy

động vốn và vay thêm tiền từ bên ngoài (tiền từ hoạt động kinh doanh đủ đáp ứng và
nguồn đầu tư bị thu hẹp trong giai đoạn đầu), và hoạt động đầu tư bị hạn chế trong
giai đoạn 2006 - 2009, tuy nhiên từ năm 2010 thì hoạt động đang dần được mở rộng.
F.DỰ BÁO DT (dự báo DT của NLC năm 2012)
18
I. Các yếu tố ảnh hưởng:
- Triển vọng của nền kinh tế: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế từ 7.5% đến
8%/năm thì trong 20 năm tới nhu cầu điện sẽ phải tăng từ 15% đến 17%.
- Thị phần và khả năng cạnh tranh của NLC: vốn hóa thị trường của NLC là
124,500,000,000, chiếm 0.93% vốn hóa TT của toàn ngành điện.
- Lạm phát: mục tiêu năm 2012, lạm phát kiềm chế ở dưới mức 10%.
- Chính sách CT: kinh doanh có lãi, tăng trưởng ổn định, bảo toàn và phát triển
vốn đầu tư
II. Dự báo DT:
Năm DT ( y) t
t
2
yt
2006 25,778,786,702
-
5
2
5
-128,893,933,510
2007 27,754,633,647
-
3
9 -83,263,900,941
2008 45,217,902,999
-

1
1 -45,217,902,999
2009 42,513,869,670 1 1 42,513,869,670
2010 38,379,689,953 3 9 115,139,069,859
2011 39,576,596,399 5
2
5
197,882,981,995
Tổng 219,221,479,370 0
7
0
98,160,184,074
Y(2012) = A + B*t A = 219,221,479,370/6 = 36,536,913,228.33
B = 98,160,184,074/70 = 1,402,288,343.91
Y(2012) = Y(t=7)= 46,352,931,635.7
Dự báo doanh thu của NLC trong năm 2012 là 46,352,931,635.7 VND.
G. KẾT LUẬN
Qua quá trình phân tích tình hình TC của NLC từ 2006 - 2011 có thể đưa ra một
số nhận xét như sau: Mặc dù là một nhà máy thủy điện có công suất nhỏ, tuy nhiên
NLC luôn được đánh giá là một CT có khả năng quản trị DN tốt hơn nhiều so với các
19
CT trong ngành; CT liên tục hoạt động kinh doanh hiệu quả và làm ăn có lời trong
năm năm qua; Năng lực sử dụng và quản lý nợ khá tốt cũng như khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn cao; Hiệu quả sử dụng vốn và TS tốt và tạo được nhiều LN, được TT kỳ
vọng vào triển vọng tăng trưởng trong tương lai; Khả năng tạo tiền từ hoạt động sản
xuất kinh doanh khá tốt mặc dù CT có rất ít các dự án đầu tư. Trong tình hình kinh tế
TG cũng như trong nước luôn biến đổi và đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay đặc
biệt là những biến động mạnh từ TT chứng khoán, thì với năng lực quản trị DN tốt
NLC vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định và cổ phiếu NLC có mức độ giữ giá rất
tốt. Như vậy, có thể tin tưởng vào triển vọng tăng trưởng của NLC trong tương lai.

20
Phụ lục 1: BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1:
Chỉ số thanh khoản của NLC giai đoạn 2006-2011
21

Biểu đồ 2:
Chỉ số thanh khoản của NLC, RHC và TB ngành năm 2011
22
Biểu đồ 3:
Chỉ số nợ vốn cổ phần của NLC giai đoạn 2006-2011
23
Biểu đồ 4:
Chỉ số tổng nợ của NLC giai đoạn 2006-2011
24
Biểu đồ 5:
Chỉ số khả năng thanh toán lãi vay của NLC giai đoạn 2006-2011
25

×