Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (621.26 KB, 76 trang )













TIỂU LUẬN:
Mở rộng hoạt động cho vay tiêu
dùng tại ngân hàng thương mại Cổ
phần Kỹ thương Việt Nam
(Techcombank)






LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng ở Việt Nam đang trở thành một
trong những lĩnh vực được quan tâm nhất. Đặc biệt kể từ khi Việt Nam gia nhập
WTO, các ngân hàng thương mại Việt Nam luôn phải đối mặt với những thách thức,
những cạnh tranh gay gắt trong việc dành thị phần giữa các ngân hàng trong và ngoài
nước. Trước điều kiện thị trường khắc nghiệt như vậy, các ngân hàng Việt Nam phải
có những kế hoạch, chiến lược cụ thể để giữ vững vị thế của mình.


Nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, mức sống con người ngày một cải
thiện, người dân với thu nhập tăng lên đáng kể hơn trước thì ngày càng có nhiều nhu
cầu hơn trong cuộc sống của mình. Nếu cách đây vài năm, mọi người chỉ cần đủ ăn,
đủ mặc và có xu hướng tiết kiệm thì nay trong xã hội, mọi người không chỉ cần
những nhu cầu sinh hoạt bình thường mà còn muốn nâng cao điều kiện sống, chất
lượng cuộc sống của mình (nhà đẹp, ô tô xịn, trang thiết bị hiện đại hay đi du học, đi
du lịch). Tuy nhiên, mức lương của họ không đủ để họ thực hiện mục đích đắt tiền
của mình. Vì vậy, nếu người dân có thể vay được tiền từ ngân hàng thì họ có thể đáp
ứng nhu cầu ngay trong hiện tại. Điều đó không chỉ làm tăng tiêu dùng hàng hoá,
thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
một cách nhanh chóng.
Trong bối cảnh ấy, cho vay tiêu dùng trở thành mảng tín dụng có nhiều tiềm
năng nhất. Thị trường vay tiêu dùng cá nhân là thị trường rộng lớn, quan trọng là
ngân hàng có đáp ứng được hết các nhu cầu của khách hàng hay không hay có đưa ra
sản phẩm phù hợp hay không? Bên cạnh đó, mảng cho vay tiêu dùng cũng tiềm ẩn
những rủi ro nhất định. Nếu các ngân hàng không có những chiến lược và chính sách
linh hoạt, mềm dẻo thì sẽ vấp phải những khó khăn gây tổn thất cho mình. Còn
ngược lại, ngân hàng có chính sách, chiến lược phù hợp sẽ ngày một sinh lời và mở
rộng được chiến lược ngân hàng bán lẻ. Hoạt động này giúp các ngân hàng thương
mại tạo nên sự hoà hợp giữa cung và cầu tiêu dùng, giải quyết tốt nhiệm vụ kích cầu
tiêu dùng của nền kinh tế.


Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển và mở rộng cho vay tiêu
dùng hiện nay, ngân hàng thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank)
đã và đang đề ra những chiến lược cụ thể để phát triển mảng cho vay tiêu dùng của
mình. Techcombank được biết tới là một trong những ngân hàng bán lẻ hàng đầu,
hoạt động cho vay tiêu dùng là mảng hoạt động hiệu quả và được coi là trọng tâm,
nhưng Techcombank vẫn đang gặp phải những khó khăn do sự cạnh tranh khốc liệt
từ phía thị trường. Xuất phát từ thực tiễn đó, trong quá trình thực tập tại Hội sở chính

Techcombank em đã chủ động lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Mở rộng hoạt động cho
vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam
(Techcombank)”.
Chuyên đề được chia làm 3 phần:
- Chương 1: Tổng quan về cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Thực trạng cho vay tiêu dùng tại Techcombank.
- Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Techcombank.
















CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Cơ sở lý thuyết về Cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về Cho vay của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất

của nền kinh tế, có nhiệm vụ luân chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn.
Ngân hàng huy động nguồn vốn từ trong nền kinh tế và thông qua hoạt động cho vay
đem nguồn vốn đó đến nơi có nhu cầu sử dụng vốn.
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng có mục đích và trong thời gian nhất
định theo thoả thuận, với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi (theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế
cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng).
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động tín dụng của ngân hàng. Cho
vay chỉ là giao dịch về tiền giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng sẽ
chuyển giao tiền cho khách hàng sử dụng cho mục đích của mình trong một thời hạn
thoả thuận nhất định và khách hàng có trách nhiệm hoàn trả lãi và gốc cho ngân hàng
khi đến hạn thanh toán. Như vậy, hoạt động cho vay được thực hiện trên cơ sở tín
nhiệm giữa khách hàng và ngân hàng.
1.1.2. Phân loại Cho vay của Ngân hàng thương mại
Việc phân loại cho vay tuỳ theo tính chất và đặc điểm của nhu cầu cho vay và
việc quản lý cho vay của ngân hàng dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau.
1.1.2.1. Căn cứ vào hình thức sử dụng khoản vay
Theo tiêu chí này, cho vay được chia làm 3 loại khác nhau: Cho vay tiêu dùng,
Cho vay kinh doanh và Cho vay đầu tư.
- Cho vay tiêu dùng là hình thức ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng
mà vốn vay được sử dụng chủ yếu cho mục đích tiêu dùng. Đối tượng vay tiêu dùng
chủ yếu là các cá nhân và Chính phủ.


Khi khách hàng có nhu cầu muốn vay để mua sắm, tiêu dùng với mục đích
nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, khách hàng sẽ tìm đến ngân hàng để vay
tiền nhằm thoả mãn nhu cầu của mình. Cho vay tiêu dùng kích thích tiêu dùng trong
xã hội, thúc đẩy chu chuyển hàng hoá và dịch vụ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đa
dạng hoá dịch vụ ngân hàng, phân tán rủi ro trong cho vay. Ưu điểm: thực hiện mong

muốn tiêu dùng lớn nhất trong thời gian nhanh nhất. Nhược điểm: khách hàng có thể
phải chịu lãi suất cao. Điều kiện cho vay tiêu dùng là khách hàng phải có đủ năng lực
pháp luật dân sự, có thu nhập hợp pháp và ổn định và phải có tài sản đảm bảo cho
khoản vay.
- Cho vay kinh doanh là hình thức ngân hàng cho vay mà vốn vay được sử
dụng cho mục đích kinh doanh, đối tượng vay chủ yếu là các đơn vị, tổ chức kinh
doanh và một số ít các khách hàng cá nhân.
Khách hàng sẽ được các chuyên gia ngân hàng tư vấn để có được phương án
bổ sung vốn kinh doanh hợp lý và có lợi nhất. Ngân hàng luôn tạo điều kiện thuận lợi
nhất để khách hàng có thể vay vốn nhanh nhất, sử dụng vốn an toàn và hiệu quả.
Điều kiện cho vay kinh doanh là khách hàng phải có đủ năng lực pháp luật dân sự, có
phương án sử dụng vốn vào sản xuất kinh doanh rõ ràng và đảm bảo hiệu quả, có tài
sản đảm bảo cho khoản vay.
- Cho vay đầu tư là hình thức ngân hàng cho vay mà vốn vay được sử dụng
đem đi đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống
con người. Đối tượng vay chủ yếu là các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu.
Điều kiện để cho vay đầu tư là khách hàng phải có vốn tự có đầu tư tham gia
vào dự án. Vốn tham gia dự án có thể là tiền hoặc tài sản đưa vào sử dụng cho dự án (
kể cả giá trị quyền sử dụng bất động sản, cơ sở vật chất có giá trị và các chi phí khác
mà khách hàng đã tự đầu tư vào dự án). Nguồn vốn tham gia của chủ đầu tư phải
được đưa vào đầu tư trước. Tuỳ theo loại hình dự án mà khách hàng phải có vốn tự
có tối thiểu tham gia dự án theo tỷ lệ mà mỗi ngân hàng quy định. Khi hết thời hạn
tín dụng mà khách hàng chưa sử dụng hết hạn mức tín dụng trong hợp đồng, nếu
khách hàng muốn tiếp tục sử dụng thì phải có sự đồng ý của Hội đồng tín dụng.
1.1.2.2. Căn cứ vào phương thức cho vay


Với phương thức cho vay thì hoạt động Cho vay được chia làm 5 loại khác
nhau: Cho vay thấu chi, Cho vay trực tiếp từng lần, Cho vay theo hạn mức, Cho vay
luân chuyển và Cho vay trả góp.

- Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn mà qua đó ngân hàng cho phép
người vay được chi trội trên số tiền gửi thanh toán của mình tới một giới hạn nhất
định tại một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
- Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay đối với các khách hàng
không có nhu cầu vay thường xuyên, không đủ điều kiện để được cấp hạn mức thấu
chi hoặc khách hàng có vòng quay vốn kinh doanh dài. Theo từng kì hạn nợ trong
hợp đồng, ngân hàng sẽ thu cả gốc và lãi, đồng thời sẽ kiểm soát mục đích và hiệu
quả quá trình khách hàng sử dụng tiền vay.
Mỗi lần có nhu cầu vay vốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định. Ưu
điểm của hình thức này là khách hàng có thể rút vốn một lần hoặc nhiều lần sao cho
phù hợp với tiến độ sử dụng vốn, với điều kiện là số tiền rút vốn không vượt quá số
tiền vay ghi trong hợp đồng tín dụng. Nhược điểm là mỗi lần rút vốn khách hàng phải
thu xếp thời gian để kí giấy nhận nợ và gửi cho ngân hàng bản sao các giấy tờ cần
thiết, sau đó phải mất một khoảng thời gian chờ đợi để ngân hàng thông báo kết quả.
- Cho vay theo hạn mức là nghiệp vụ tín dụng mà ngân hàng thoả thuận cấp
cho khách hàng hạn mức tín dụng (được tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ). Hình thức cho
vay này thuận tiện cho khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia
thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh, mục đích sử dụng vốn rõ ràng và có
tín nhiệm đối với ngân hàng.
Căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, giá trị tài sản cầm cố, thế chấp
và khả năng nguồn vốn của mình, ngân hàng sẽ xác định hạn mức tín dụng phù hợp
với nhu cầu của khách hàng. Khi hợp đồng tín dụng theo hạn mức còn trong hiệu lực,
mỗi lần rút vốn vay khách hàng không phải ký thêm hợp đồng tín dụng mà chỉ cần
lập giấy nhận nợ kèm bảng kê và bản sao chứng từ tài liệu chứng minh mục đích sử
dụng tiền vay. Mỗi giấy nhận nợ có thời hạn phù hợp với từng mục đích sử dụng vốn
nhưng không vượt quá thời hạn còn lại của hạn mức đã được duyệt.


Trong nghiệp vụ này ngân hàng không xác định trước kì hạn nợ và thời hạn tín
dụng, chỉ khi khách hàng có thu nhập thì ngân hàng mới tiến hành thu nợ. Khách

hàng được phép vay và trả nhiều lần nhưng dư nợ không được phép vượt quá hạn
mức tín dụng thoả thuận.
- Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hoá và ngân quỹ của khách hàng. Ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau về
phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu
thụ.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng, chủ yếu áp dụng đối
với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất co chu kì tiêu thụ
ngắn ngày, có quan hệ vay - trả thường xuyên với ngân hàng. Ngân hàng sẽ tiến hành
thu nợ thi doanh nghiệp bán hàng.
- Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Hình thức cho vay
này thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản
cố định hoặc hàng lâu bền.
Hình thức này thường mang rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng
hàng hoá mua trả góp, khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập của người vay. Khách
hàng phải có phương án trả nợ gốc và lãi vay khả thi bằng các khoản thu nhập chắc
chắn ổn định. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là cao nhất
trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
1.1.2.3. Căn cứ theo thời gian
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu
nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc, lãi vốn vay được thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Theo chỉ tiêu thời gian, hoạt động
cho vay của ngân hàng được chia làm 2 loại:
- Cho vay không kỳ hạn là hình thức cho vay không xác định cụ thể thời điểm
trả nợ trên hợp đồng tín dụng, việc vay và hoàn trả của khách hàng diễn ra thường
xuyên theo kế hoạch luân chuyển hàng hoá và kế hoạch doanh thu của khách hàng.


- Cho vay có kỳ hạn là hình thức cho vay mà thời điểm trả nợ được xác định

cụ thể trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng chia hình thức cho vay có kỳ hạn thành 3
mức:
+ Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ 12
tháng trở xuống.
+ Cho vay trung hạn: là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ 1 năm
đến 5 năm.
+ Cho vay dài hạn: là hình thức cho vay mà thời hạn cho vay từ 5 năm trở lên.
1.1.2.4. Căn cứ theo đối tượng tham gia qui trình cho vay
- Cho vay trực tiếp là hình thức cho vay mà ngân hàng sẽ cấp vốn trực tiếp cho
người đi vay mà không thông qua bất kì một bên thứ ba nào, do đó người đi vay cũng
sẽ chính là người trả trực tiếp nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay mà ngân hàng cấp vốn cho khách
hàng thông qua các tổ chức trung gian. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người
vay sử dụng tiền sai mục đích. Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị
trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng.
1.2. Khái quát về Cho vay tiêu dùng
1.2.1. Khái niệm về Cho vay tiêu dùng
Trong khi nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển với đa dạng các
mẫu mã, chủng loại hàng hoá, hình thức cho vay tiêu dùng được bắt đầu từ các hãng
bán lẻ do yêu cầu đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá. Một số hãng phải vay ngân hàng để bù
đắp vốn lưu động thiếu hụt.
Trước tiên, xét về cơ sở để tiến hành cho vay tiêu dùng ta căn cứ trên 2 giác
độ:
- Trên giác độ người tiêu dùng, nhu cầu vay tiêu dùng càng ngày càng gia tăng
mạnh mẽ gắn liền với nhu cầu về hàng tiêu dùng lâu bền càng được mở rộng (nhà
cửa, phương tiện đi lại, nội thất hay nhu cầu du lịch). Đồng thời, người tiêu dùng có
thu nhập ổn định để trả nợ ngân hàng. Khi mức thu nhập đạt tới mức khá hoặc cao,
người tiêu dùng có xu hướng muốn nâng cao mức sống của mình (tiêu dùng các mặt
hàng tốt chất lượng cao, ăn ngon, mặc đẹp, cuộc sống đầy đủ tiện nghi, hiện đại) hay



là tăng khả năng được đào tạo bản thân để giúp mình có nhiều cơ hội tìm kiếm công
việc với mức thu nhập cao hơn hiện tại.
- Trên giác độ ngân hàng, nhiều doanh nghiệp, tổ chức tự tài trợ chủ yếu bằng
phát hành cổ phiếu và trái phiếu, nhiều công ty tài chính cạnh tranh với ngân hàng
trong cho vay làm thị phần cho vay các doanh nghiệp của ngân hàng bị giảm sút.
Điều này đã buộc chính ngân hàng phải mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng để tăng
thu nhập.
Như vậy, người ta đã đưa ra khái niệm cụ thể về hoạt động cho vay tiêu dùng:
Cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân hộ gia đình.
Các khoản vay tiêu dùng là nguồn tài trợ chính quan trọng giúp cho người tiêu dùng
có thể trang trải cho nhu cầu trong cuộc sống: nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh
hoạt, học tập, du lịch…trước khi họ có đủ khả năng tài chính để hưởng thụ.
1.2.2. Đặc trưng cơ bản của một món vay tiêu dùng
- Đối tượng của các khoản cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình. Nhu
cầu vay của họ phụ thuộc vào tình hình tài chính. Đối với các cá nhân, hộ gia đình có
mức thu nhập thấp thì nhu cầu tín dụng thường không cao, chỉ nhằm thoả mãn nhu
cầu gia đình tạo sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. Đối với cá nhân, hộ gia đình có
mức thu nhập trung bình thì nhu cầu tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh do ý muốn
vay mượn để mua hàng tiêu dùng lớn hơn khoản tiền dự phòng của mình. Đối với
những người có mức thu nhập cao thì nhu cẩu tín dụng tiêu dùng nảy sinh nhằm tăng
thêm khả năng thanh toán hoặc một khoản tài trợ rất linh hoạt trong chi tiêu khi mà
nguồn vốn của họ đã nằm trong tài khoản đầu tư.
Đồng thời, những cá nhân và hộ gia đình này phải là những người có đầy đủ
năng lực pháp lý và mục đích vay rõ ràng. Mục đích vay của khách hàng phải phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng của họ, như: xây dựng hoặc sửa chữa nhà cửa, mua sắm vật
dụng gia đình…
- Một khoản vay tiêu dùng có tính chu kỳ: Nhu cầu cho vay tiêu dùng của
khách hàng không chỉ phụ thuộc vào tình hình tài chính mà còn phụ thuộc vào tình
hình kinh tế vào những giai đoạn cụ thể.



Vào giai đoạn nền kinh tế phát triển, người dân cảm thấy lạc quan vào tương
lai, đặc biệt họ kì vọng thu nhập của mình được nâng cao. Vì vậy, điều tất yếu là họ
sẽ tăng nhu cầu hưởng thụ nên các khoản vay tiêu dùng có xu hướng tăng thêm.
Vào giai đoạn nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, người dân cảm thấy không tin
tưởng vào tương lai và tình trạng thất nghiệp tăng lên. Do đó, người dân tất yếu sẽ
hạn chế tiêu dùng ở thời điểm hiện tại.
- Chi phí một khoản vay tiêu dùng cao: Khoản cho vay tiêu dùng thường
không lớn trong khi ngân hàng lại tốn rất nhiều thời gian và nhân lực để điều tra thu
thập thông tin của khách hàng vay tiền. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng phải quản lý
các khoản cho vay nhỏ lẻ chiếm khối lượng khá lớn. Do đó, chi phí cho vay tiêu dùng
có lãi suất thường lớn hơn cho vay thương mại.
- Lãi suất của khoản vay tiêu dùng cao và khá cứng nhắc. Lãi suất của một
khoản vay tiêu dùng là lãi suất cố định. Khách hàng kém nhạy bén với lãi suất, họ chỉ
quan tâm đến khoản lãi phải trả hàng tháng hơn là lãi suất ghi trên hợp đồng. Tuy
nhiên, lãi suất không phải là yếu tố quan trọng để cá nhân, hộ gia đình quan tâm khi
quyết đinh vay nhiều hay ít. Yếu tố được coi là quan trọng hơn đó là mức thu nhập và
trình độ dân trí, cụ thể: những người có mức thu nhập cao thường có xu hướng vay
nhiều hơn mức thu nhập hàng tháng; còn đối với những người có trình độ dân trí cao
thì việc vay mượn là để đạt được mức sống mong muốn chứ không phải chỉ là để lựa
chọn dùng trong trường hợp khẩn cấp.
Chính vì chi phí và rủi ro của các khoản vay tiêu dùng lớn nên hầu hết các
ngân hàng thường đặt ra lãi suất áp dụng đối với cho vay tiêu dùng là khá cao. Lãi
suất này bao gồm cả phần bù rủi ro đến mức mà chi phí và tỉ lệ tổn thất phải tăng lên
đáng kể thì các khoản tín dụng tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận.
- Nguồn trả nợ của khách hàng có thể biến động lớn: Khi khoản vay để kinh
doanh, nguồn trả nợ là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi khoản vay để tiêu
dùng, đó là khoản thu nhập của khách hàng.
- Rủi ro cao do chất lượng thông tin tài chính của khách hàng thường không

cao, khách hàng gian lận hay rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên.


Trên phương diện rủi ro lãi suất, ta biết lãi suất “cứng nhắc” được áp dụng cho
các khoản vay tiêu dùng trong khi các khoản cho vay kinh doanh hiện nay thường áp
dụng lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường. Do đó, một sự tăng lên trong chi phí
huy động vốn ngân hàng cúng sẽ gặp rủi ro lãi suất.
Trên phương diện rủi ro từ phía khách hàng có thể được chia thành hai loại:
rủi ro chủ quan và rủi ro khác quan. Rủi ro chủ quan là khi khách hàng không có
thiện chí trả nợ cho ngân hàng, cung cấp thông tin không trung thực, chính xác. Rủi
ro khách quan là khi khách hàng bị chết, ốm, mất việc và ngân hàng ngay lập tức sẽ
gặp khó khăn trong việc thu hồi được nợ.
- Quy mô của các khoản vay tiêu dùng thường nhỏ lẻ nhưng số lượng các
khoản vay tiêu dùng này lại rất lớn.

1.2.3. Các hình thức cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng được phân chia thành nhiều loại theo các chỉ tiêu khác
nhau.
1.2.3.1. Căn cứ vào mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng và
khách hàng gặp nhau trực tiếp để tiến hành thủ tục vay mượn.







Biểu 1: Cho vay tiêu dùng trực tiếp





1. Ngân hàng và người tiêu dùng kí kết hợp đồng vay mượn.
2. Người vay vốn trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ.
3. Ngân hàng thanh toán nốt số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ.
4. Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
5. Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay mà trong đó ngân hàng và
khách hàng không gặp nhau trực tiếp để tiến hành thủ tục vay mượn mà thông qua
một bên thứ ba. Ngân hàng mua các phiếu bán hàng từ những người bán lẻ hàng hoá
(thực chất đây là hình thức tài trợ bán trả góp).
Biểu 2: Cho vay tiêu dùng gián tiếp



Ngân hàng
Công ty
bán lẻ
Người tiêu
dùng
1

4

5

6

2


3


Ngân hàng
Công ty
bán lẻ
Người tiêu
dùng
3

5

2

4

1



1. Ngân hàng và công ty bán lẻ kí kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng
ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán
chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản được bán chịu.
2. Công ty bán lẻ và người tiêu dùng kí kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá,
thông thường người tiêu dùng trả trước một phần giá trị tài sản.
3. Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
4. Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu cho ngân hàng.
5. Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
6. Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.

1.2.3.2. Căn cứ vào mục đích vay
- Cho vay tiêu dùng bất động sản là các khoản cho vay nhằm mục đích dùng
vào các khoản bất động sản như mua mới, sửa chữa hoặc xây dựng nhà cửa, đất đai.
Qui mô trung bình của một món vay tiêu dùng bất động sản thường lớn hơn so với
qui mô trung bình của một món vay tiêu dùng thông thường, kỳ hạn dài hơn hẳn nên
độ rủi ro của món vay tiêu dùng bất động sản cũng lớn hơn.
- Cho vay tiêu dùng thông thường là các khoản cho vay nhằm mục đích hỗ trợ
tài chính cho các hoạt động thiết yếu, nhu cầu trong cuộc sống của con người, như:
cho vay du học, mua xe hơi hay du lịch,…
1.2.3.3. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
- Cho vay tiêu dùng trả góp là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó khách
hàng trả nợ cho ngân hàng thành nhiều lần (định kỳ trong thời hạn cho vay, phụ
thuộc vào quy định của ngân hàng), mỗi lần trả nợ khách hàng sẽ tiến hành trả nợ cả
gốc và lãi của kỳ đó.
- Cho vay tiêu dùng trả một lần là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó khách
hàng trả nợ cho ngân hàng một lần duy nhất (thời điểm đáo hạn khoản vay), tất cả
gốc và lãi đều được trả khi đến hạn.
- Cho vay tiêu dùng tuần hoàn là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó khách
hàng được phép vay, trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn cho ngân hàng theo một hạn
mức tín dụng nhất định (bằng thẻ tín dụng, phát hành séc được phép thấu chi dựa trên
tài khoản vãng lai).


1.2.3.4. Căn cứ vào cách đảm bảo tiền vay
- Cho vay có tài sản đảm bảo là hình thức cho vay tiêu dùng mà trong đó để
vay được tiền cho mình thì khách hàng phải cầm cố, thế chấp tài sản thuộc sở hữu
của mình để đảm bảo cho khoản vay. Nếu trong trường hợp khách hàng không trả
được nợ thì ngân hàng có quyền tịch thu tài sản đảm bảo để hạn chế tổn thất cho
mình.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo là hình thức cho vay tiêu dùng mà trong

đó khách hàng không cần phải cầm cố, thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình để
đảm bảo cho khoản vay. Ngân hàng cho vay dựa trên uy tín và khả năng trả nợ của
khách hàng, không căn cứ vào tài sản đảm bảo.
1.2.4. Qui trình cho vay tiêu dùng
*Bước 1: Nhận hồ sơ tín dụng.
Khi khách hàng có nhu cầu vay thì đến ngân hàng làm thủ tục vay vốn. Tại
đây, cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn cho khách hàng cách lập hồ sơ vay vốn đầy đủ và
đúng qui định của bản hướng dẫn thực hiện quy chế cho vay tiêu dùng: hồ sơ pháp lý,
hồ sơ kinh tế và hồ sơ vay.
*Bước 2: Thẩm định tín dụng về nhân thân khách hàng và người bảo lãnh
(nếu có), mục đích vay tiền, tình hình tài chính và khả năng thanh toán, tài sản đảm
bảo.
Đây là khâu quan trọng trong quá trình cho vay tiêu dùng, quyết định đến chất
lượng tín dụng. Nếu cán bộ tín dụng thẩm định sai sẽ đưa ra quyết định sai. Ví dụ
như: khi khách hàng không có tiềm lực nhưng cán bộ tín dụng lại cho rằng họ có đủ
khả năng vay vốn và quyết định cho vay. Khoản tín dụng này dễ rơi vào rủi ro, gây
thiệt hại cho ngân hàng.
Các khâu trong thẩm định tín dụng bao gồm:
- Thẩm định đặc điểm của nguồn đi vay: Ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định
xem năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và tư cách pháp lý của khách hàng
có đáp ứng đủ yêu cầu mà ngân hàng đặt ra không. Khâu này rất quan trọng vì nó
giúp ngân hàng xác định được khách hàng có ý thức rõ ràng về trách nhiệm phải
hoàn trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng hay không? Để tránh bất kì tổn thất nào,


bất cứ ngân hàng nào cũng phải thận trọng với việc thẩm định đặc điểm của người đi
vay.
- Thẩm định mục đích sử dụng tiền vay: Mục đích vay tiền của khách hàng
phải rõ ràng và phù hợp với quy định của ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng sẽ đánh
giá và kiểm tra xem khách hàng có dấu hiệu đảo nợ (vay tiền của người này để trả

tiền cho người khác) hay không?
- Thẩm định tình hình tài chính và khả năng thanh toán: Tiêu chí tạo sự thuận
lợi cho khách hàng trong việc đi vay tiêu dùng là khách hàng phải có nguồn thu nhập
ổn định, nếu nguồn thu nhập này càng cao thì càng được ngân hàng đánh giá cao.
Cán bộ tín dụng sẽ kết hợp với cơ quan nơi khách hàng làm việc để đánh giá chính
xác thu nhập của khách hàng. Ngoài ra, ngân hàng sẽ tính đánh giá cả số dư tiền gửi
trung bình hàng ngày của khách hàng bằng cách liên hệ với các ngân hàng có liên
quan. Tuy nhiên, không chỉ có yếu tố thu nhập mới đánh giá hết tình hình tài chính
và khả năng thanh toán của khách hàng, ngân hàng còn căn cứ vào sự ổn định trong
việc làm và nơi cư trú của khách hàng. Những khách hàng mới chỉ làm việc ở chỗ
làm hiện tại trong một thời gian ngắn (vài tháng) sẽ gặp khó khăn trong việc vay vốn
từ ngân hàng, nhất là đối với những khoản vốn vay lớn. Còn những khách hàng
thường xuyên thay đổi chỗ ở cho thấy sự bất ổn định trong cuộc sống của họ, điều
này sẽ trở thành yếu tố bất lợi đối với ngân hàng khi quyết định cho vay. Cuối cùng,
năng lực hoàn trả của khách hàng còn được ngân hàng đánh giá dựa trên tiêu chí: tuổi
đời nghề nghiệp, sức khoẻ, năng lực làm việc ở cơ quan nơi khách hàng đang làm
việc.
- Thẩm định tài sản đảm bảo: Tài sản đảm bảo của khách hàng thường là từ
nhiều nguồn khác nhau, ví dụ như: bất động sản, tài sản có giá trị lớn, … Riêng với
tài sản là bất động sản, ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra tính pháp lý cũng như giá trị
của bất động sản. Bất động sản phải đảm bảo giá trị nhất định cho món vay, phòng
trường hợp không trả được nợ ngân hàng thì tài sản đảm bảo đem thanh lý lại không
mang lại cho nguồn bù lỗ tối thiếu cho ngân hàng. Đối với các tài sản có giá trị lớn
cũng vậy, ngân hàng kiểm tra mức độ giá trị còn lại của tài sản, số năm đã sử dụng
tài sản.


Sau khi tiến hành thẩm định tín dụng hết các khâu, cán bộ tín dụng sẽ lập tờ
trình khái quát chung nhất về khách hàng và đưa ra đánh giá của mình có nên cho
khách hàng vay hay không? Nếu đồng ý cho vay, cán bộ tín dụng sẽ ghi đầy đủ các

thông tin kèm theo (số tiền cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất và điều kiện để cho
vay).
*Bước 3: Xét duyệt và quyết định cho vay.
Sau khi lập tờ trình, cán bộ tín dụng sẽ đưa đến trưởng phòng tín dụng.
Trưởng phòng tín dụng sẽ xem xét lại và yêu cầu cán bộ tín dụng giải thích và bổ
sung nếu thiếu sót. Tiếp theo, tờ trình đó sẽ được trình lên hội đồng tín dụng xét
duyệt. Nếu quyết định cho vay ngân hàng phải lập 1 văn bản thông báo cho khách
hàng về quyết định cho vay của ngân hàng. Trong trường hợp không cho vay thì vẫn
phải lập 1 văn bản thông báo cho khách hàng biết về quyết định từ chối cấp tín dụng
của ngân hàng và trong văn bản này nêu rõ lý do từ chối tín dụng.
*Bước 4: Hoàn tất thủ tục pháp lý trước khi giải ngân.
Dưới đây là một số thủ tục pháp lý mà ngân hàng cần phải làm trước khi giải
ngân:
- Kí kết hợp đồng tín dụng: Ngân hàng và khách hàng chính thức cam kết trên
giấy tờ về khoản vay của khách hàng, về các điều kiện yêu cầu từ hai phía.
- Thoả thuận phương thức cho vay: Ngân hàng và khách hàng cùng đưa ra
phương thức cho vay phù hợp nhất cho cả hai phía, sao cho phương thức này không
quá khó khăn đối với khách hàng và cũng không gây bất lợi cho ngân hàng.
- Kì hạn trả nợ: Khách hàng có thể lựa chọn kì hạn trả nợ của mình: trả định kì
hay cuối kì trả.
Khi thủ tục pháp lý đã được hoàn tất, ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân cho
khách hàng.
*Bước 5: Kiểm tra trong quá trình cho vay.
Sau khi giải ngân cho khách hàng, ngân hàng phải kiểm soát xem khách hàng
có sử dụng tiền vay đúng mục đích hay không bằng cách thu thập thông tin của khách
hàng. Quá trình này diễn ra theo định kì của ngân hàng (3 tháng, 6 tháng, 1 năm hay
kiểm tra bất ngờ), quá trình này phụ thuộc vào chính sách, kế hoạch của ngân hàng


trong từng thời kì. Các thông tin mà ngân hàng thường tiến hành kiểm tra ở khách

hàng là: sự ổn định về tài chính của khách hàng, mục đích cho vay có đúng như trong
hợp đồng kê khai, kiểm tra lại tài sản đảm bảo và sự nghiêm túc trong quá trình trả
nợ. Ngoài ra, ngân hàng sẽ phát hiện xem nhu cầu mới của khách hàng để phục vụ.
Đối với việc thu thập thông tin, ngân hàng quy định:
- Tất cả thông tin phản ánh theo chiều hướng tốt thì có nghĩa là chất lượng tín
dụng đang được đảm bảo .
- Nếu chất lượng khoản vay đang bị đe doạ thì ngân hàng cần có biện pháp xử
lý kịp thời.
- Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn, ngừng giải ngân nếu bên đi vay vi
phạm hợp đồng tín dụng.
*Bước 6: Thu hồi nợ hoặc đưa ra quyết định tín dụng mới.
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hết nợ và lãi. Tuy nhiên bên cạnh
những khoản tín dụng an toàn, đảm bảo (hoàn trả đầy đủ và đúng hạn) luôn tồn tại
những khoản tín dụng đến thời điểm hoàn trả nhưng không có khả năng thanh toán
buộc ngân hàng phải tìm ra nguyên nhân. Những nguyên nhân đó có thể là:
- Khách hàng lừa đảo, sử dụng tiền không đúng mục đích thì hàng sẽ thu hồi
ngay khoản nợ.
- Khách hàng gặp một số khó khăn mà bị chậm trễ trong việc trả nợ thì ngân
hàng có thể gia hạn thời gian cho khách hàng.
1.2.5. Lợi ích của việc cho vay tiêu dùng
Đối với ngân hàng, ngân hàng cho vay tiêu dùng sẽ tạo thói quen cho người
dân tiếp cận với các dịch vụ tiện ích của ngân hàng. Đây cũng là cách để đa dạng hoá
các lĩnh vực đầu tư của ngân hàng nhằm nâng cao thu nhập, phân tán rủi ro. Thông
qua cho vay tiêu dùng, ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng và từ đó tăng khả
năng huy động vốn của ngân hàng.
Đối với khách hàng, khi được ngân hàng cung cấp hoạt động cho vay tiêu
dùng, khách hàng được hưởng các dịch vụ tiện ích trước khi họ có đủ nguồn tài chính
đặc biệt trong trường hợp chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế, giáo dục, … Ngoài
ra, khách hàng còn được hưởng một số lợi ích khác như:



- Khách hàng sẽ có một khoản tiền lớn ngay lúc cần thiết để chi tiêu và có thể
hoàn trả dần từ thu nhập trong tương lai của mình.
- Với những trường hợp khẩn cấp, khách hàng có thể vay ngân hàng với lãi
suất hợp lý thay vì phải vay “nóng” bên ngoài với lãi suất cao hơn nhiều.
- Ngân hàng cho phép thời hạn cho vay và phương thức trả nợ linh hoạt, tất cả
căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng.
- Người tiêu dùng có thu nhập đều đặn để trả nợ ngân hàng. Họ không phải lo
rằng mình không thể trả nợ được, bên cạnh đó họ đạt được mong ước của mình là
nâng cao mức sống và tăng khả năng được đào tạo…giúp họ có nhiều cơ hội để tìm
kiếm những công việc với mức lương cao hơn.
- Điều kiện và thủ tục để có được khoản vay tiêu dùng cũng không quá phức
tạp cho khách hàng. Họ chỉ cần xác minh có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú dài hạn
trên cùng địa bàn tỉnh, thành phố, nơi có chi nhánh của ngân hàng mà họ định vay
tiền hoạt động. Ngoài ra, khách hàng cần xác nhận mức thu nhập hàng tháng ổn định
và đảm bảo được khả năng trả nợ và mục đích sử dụng vốn vay phải hợp lý.
Về mặt kinh tế - xã hội, cho vay tiêu dùng giúp cải thiện đời sống dân cư, góp
phần giảm chi phí giao dịch xã hội thông qua tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả
ngân hàng và khách hàng. Bên cạnh đó, cho vay tiêu dùng cũng là đòn bẩy kích thích
nền sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và góp phần thực
hiện việc xoá đói giảm nghèo. Hiện nay, nạn cho vay nặng lãi đang trở thành một vấn
đề nhức nhối trong xã hội, vì vậy việc ngân hàng tiến hàng cho vay tiêu dùng với thủ
tục tương đối đơn giản, nhanh gọn đã góp phần quan trọng đẩy lùi nạn cho vay nặng
lãi. Mặt khác, dịch vụ này với những tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt cải
thiện môi trường tiêu dùng xây dựng nền văn minh thanh toán. Xét trên góc độ kinh
tế vĩ mô, dịch vụ ngân hàng bán lẻ đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng
tiềm năng lớn trong dân cư để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân, hạn
chế dùng tiền mặt và tiết kiệm chi phí về thời gian và tiền bạc cho xã hội.





CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI TECHCOMBANK
2.1. Giới thiệu sơ lược về Techcombank
Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank –
Technological and Commercial Joint Stock Bank) là một trong những ngân hàng
thương mại cổ phần lớn và đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Cùng với sự phát
triển vượt bậc của cả nước, Techcombank đã và đang có những bước tiến quan
trọng trên con đường thực hiện mục tiêu chiến lược trở thành Ngân hàng được yêu
thích nhất ở Việt Nam.
2.1.1. Lịch sử hình thành và bộ máy tổ chức
2.1.1.1. Một vài nét tiêu biểu
Theo giấy phép Ngân hàng số 0040/NH-GP ngày 06/08/1993 do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam cấp, Techcombank được thành lập vào ngày 27 tháng 9 năm
1993 với thời hạn 20 năm kể từ ngày cấp. Đến tháng 10/1997, thời hạn này đã được
gia hạn lên thêm 99 năm theo Quyết định số 330/QĐ-NH5 do Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam ban hành. Đây là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu
tiên của Việt Nam được thành lập trong bối cảnh đất nước đang chuyển sang nền
kinh tế thị trường với số vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng và trụ sở chính ban đầu
được đặt tại số 24 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đầu năm 2007, Hội sở
chính của Techcombank được khánh thành và đặt tại 70 – 72 Bà Triệu, Hà Nội. Tuy
nhiên, đến nay ngân hàng đã tăng tổng vốn điều lệ lên tới 2.521,31 tỷ đồng và tổng
tài sản là hơn 39.542,50 tỷ đồng. Từ 1993 tới nay, Techcombank không ngừng mở
rộng mạng lưới của mình với 130 chi nhánh và phòng giao dịch trải khắp 21 tỉnh
thành lớn của Việt Nam. Cuối năm 2007, Techcombank trở thành ngân hàng có
mạng lưới giao dịch lớn thứ hai trong khối ngân hàng Thương mại Cổ phần.
Với đội ngũ nhân viên trẻ có tài, đông đảo tính tới thời điểm hiện tại,
Techcombank đã thu hút được 2.400 nhân viên gia nhập vào đội ngũ nhân viên của
mình. Techcombank đã và đang trở thành một trong những ngân hàng cổ phần hàng

đầu Việt Nam. Quy mô khách hàng của Techcombank có đủ các thành phần kinh tế
như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách

nhiệm hữu hạn và các cá nhân. Techcombank là một ngân hàng đô thị đa năng cung
ứng đầy đủ, phong phú và đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng với công nghệ
ngân hàng hiện đại nhất.
Năm 2007, Techcombank nhận giải thưởng “Thương mại dịch vụ - Top
Trade Services 2007” – giải thưởng dành cho những doanh nghiệp tiêu biểu, hoạt
động trong 11 lĩnh vực Thương mại dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia
nhập WTO do Bộ Công thương trao tặng.
Hội đồng quản trị của ngân hàng bao gồm:
- Chủ tịch hội đồng quản trị: Ông Nguyễn Thiều Quang.
- Phó Chủ tịch thứ nhất: Ông Hồ Hùng Anh.
- Phó Chủ tịch: Bà Nguyễn Thị Nga.
- Phó Chủ tịch: Ông Trần Đức Lưu.
- Phó Chủ tịch: Ông Ngô Chí Dũng.
- Uỷ viên: Ông Hoàng Văn Đạo.
- Uỷ viên: Ông Brian George Fredrick.
- Uỷ viên: Ông Thái Quốc Minh.
- Uỷ viên: Ông Nguyễn Hoài Nam.
Trung tâm Giao dịch Hội Sở bao gồm:
- Quyền Giám đốc: Ông Nguyễn Cảnh Vinh.
- Phó Giám đốc: Ông Nguyễn Dũng
2.1.1.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Techcombank
Căn cứ theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2000 của
Chính phủ và Quyết định 1087/QĐ-NHNN ngày 27 tháng 8 năm 2001 của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, ngân hàng Techcombank đã thiết lập một cơ cấu quản trị
điều hành phù hợp với các tiêu chuẩn.
Năm 2007, cơ cấu quản trị ngân hàng hiện đại tiếp tục được hoàn thiện thông
qua việc thiết lập các bộ phận chuyên trách xây dựng chiến lược phát triển, quản lý

và kiểm toán nội bộ hoạt động ngân hàng, thành lập Hội đồng EXCO và thiết lập cơ
chế phân cấp uỷ quyền linh hoạt, hiệu quả tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa Hội đồng
quản trị và Ban điều hành trong công tác quản trị, điều hành hoạt động ngân hàng.




Biểu 3: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Techcombank




Đại hội cổ
đông
Hội đồng
quản trị
Ban Kiểm
soát

Ủy ban quản lý
r
ủi ro

Ủy ban chính
sách tiền lương
Văn phòng hội
đ
ồng quản trị

EXCO

Ủy ban đầu tư
chiến lược
Ủy ban
tín d
ụng

Tổng
Giám đốc


Biểu 4: Sơ đồ cơ cấu tổ chức tại Trung tâm Giao dịch Hội sở Techcombank



Giám đốc Trung
tâm

Phó Giám đốc
Phó Giám đốc
Phòng Tiếp
thị khách
hàng
Phòng Tư
vấn và giải
pháp tài
chính

Phòng Đầu
tư tài chính
cá nhân

Phòng Dịch
vụ khách
hàng
Phòng Hỗ
trợ và quản
lý tín dụng
Bộ phận thẩm định
Bộ phận Logistics
Bộ phận tư vấn tái
c
ấu trúc

Bộ phận tư vấn tài
chính d
ự án

Bộ phận hỗ trợ tín
d
ụng

Bộ phận tác nghiệp
Thanh toán QT

Bộ phận kiểm soát
tuân th



2.1.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng thuộc Trung tâm Giao dịch Hội sở
Techcombank

2.1.2.1. Phòng Tiếp thị Khách hàng
* Đối tượng phục vụ
Là các khách hàng doanh nghiệp có tiềm lực mạnh, có tiềm năng sử dụng các
sản phẩm dịch vụ Ngân hàng, trong đó ưu tiên tập trung vào các đối tượng khách
hàng lớn như: các Tổng công ty, các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
* Chức năng, nhiệm vụ chung
- Phòng Tiếp thị Khách hàng chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện các hoạt
động tiếp thị, cung cấp các sản phẩm dịch vụ của Techcombank theo hướng trọn gói
phù hợp cho khách hàng. Là đầu mối tiếp xúc, tìm hiểu và giải đáp nhu cầu tài
chính của khách hàng, điều phối hoạt động cho các bộ phận hộ trợ.
- Nghiên cứu xem xét thẩm định trình cấp có thẩm quyền quyết định cung
cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng với những điều kiện về lãi suất, tài sản
đảm bảo, cấu trúc khoản vay … riêng biệt đối với từng khách hàng trên cơ sở đảm
bảo khai thác các cơ hội kinh doanh và quản lý tốt rủi ro. Đồng thời quản lý dòng
tiền cho khách hàng.
- Thường xuyên chăm sóc khách hàng nhằm phát triển quan hệ hợp tác bền
vững lâu dài, tìm kiếm phát hiện các cơ hội kinh doanh, xem xét trình cấp có thẩm
quyền điều chỉnh các sản phẩm dịch vụ cho phù hợp với hoạt động thực tập của
khách hàng và thị trường.
- Kiểm tra giám sát chặt chẽ trước, trong và sau khi cung cấp các sản phẩm
dịch vụ cho khách hàng. Phối hợp với các phòng ban liên quan thực hiện thu gốc,
lãi, phí đầy đủ đúng hạn.
- Phòng này còn phối hợp với các chi nhánh, phòng ban chức năng chủ động
tích cực tìm kiếm, phát triển khách hàng doanh nghiệp mới.
- Lập báo cáo theo quy định.
- Làm các công tác khác khi được Ban giám đốc giao.
* Chức năng nhiệm vụ của bộ phận Logistics

- Đối tượng phục vụ: Là khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng

Logistics, ưu tiên các khách hàng có hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trên lãnh
thổ Việt Nam.
- Chức năng nhiệm vụ:
+ Logistics là bộ phận nghiệp vụ trực thuộc Phòng Tiếp thị Khách hàng
trong Trung tâm giao dịch Hội sở Techcombank, trực tiếp giao dịch với khách hàng
để cung cấp các dịch vụ vận tải, kho hàng, bảo hiểm, thanh toán Quốc tế, tín dụng
và các dịch vụ NH khác của Techcombank.
+ Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán sản phẩm Logistics đến
khách hàng.
+ Phối hợp với các Chi nhánh Techcombank ở các khu vực để điều tra nhu
cầu của khách hàng, quảng bá thương hiệu, sản phẩm nhằm phát triển sản phẩm
Logistics.
+ Theo dõi khách hàng, nguồn hàng trước, trong và sau quá trình vận tải, lưu
kho, xuất kho, thanh toán…
+ Thu thập, quản lý và xử lý các thông tin về vận tải, kho hàng, thanh toán
quốc tế của khách hàng và các đối tác…
+ Lập báo cáo theo quy định.
+ Làm các công tác khác khi được Ban giám đốc giao.
2.1.2.2. Phòng Tư vấn và giải pháp tài chính
* Đối tượng phục vụ
Là các khách hàng có nhu cầu tư vấn, tài trợ dự án và thu xếp tài chính.
* Chức năng, nhiệm vụ
- Phát triển các kênh khai thác dự án và dịch vụ tư vấn tài chính
+ Tư vấn cho khách hàng về lập và quản lý dòng tiền
+ Tư vấn cơ cấu nguồn vốn (cơ cấu nợ, tăng vốn chủ sở hữu, huy động
nguồn vốn bằng nhiều hình thức, tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp…)
+ Tư vấn phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
+ Tư vấn định giá doanh nghiệp, bảo lãnh phát hành (kết hợp với công ty
chứng khoán Techcombank).


- Thẩm định dự án và tư vấn tài chính, thu xếp vốn dự án
+ Môi giới đầu tư và tài trợ cho doanh nghiệp.
+ Đầu mối thu xếp tài chính dự án, kết hợp với chuyên viên khách hàng phụ
trách Doanh nghiệp lớn để cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hàng doanh
nghiệp, chuyển Phòng Tiếp thị Khách hàng lớn quản lý.
+ Lập báo cáo theo quy định.
+ Làm các công tác khác khi được Ban giám đốc giao.
2.1.2.3. Phòng Đầu tư tài chính cá nhân
* Đối tượng phục vụ
Là các khách hàng thể nhân có tiềm lực mạnh, có nhu cầu sử dụng các sản
phẩm, dịch vụ của Ngân hàng.
*Chức năng, nhiệm vụ
- Phòng Đầu tư tài chính cá nhân chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện các
hoạt động tiếp thị, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ Đầu tư tài chính cá nhân cho
khách hàng.
- Cung cấp tín dụng cho các nhu cầu tín dụng của khách hàng cá nhân thuộc
phân thị mục tiêu (high net worth).
- Dịch vụ được cung cấp dưới dạng giải pháp tổng thể Wealth Management
(cho vay theo các sản phẩm truyền thống như mua nhà, mua ô tô, thấu chi, thẻ, đầu
tư chứng khoán, cung cấp thông tin thị trường hàng ngày…).
- Tổ chức tiếp thị và phát triển dịch vụ phát hành thẻ và mạng lưới các đại lý
chấp nhận thẻ do Techcombank phát hành.
- Nghiên cứu phát triển thị trường, tìm kiếm phát hiện các cơ hội kinh doanh,
xem xét trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh/ thiết kế các sản phẩm, dịch vụ Đầu tư
tài chính cá nhân cho phù hợp với hoạt động thực tế của khách hàng và thị trường.
- Kiểm tra giám sát chặt chẽ trước, trong và sau khi cung cấp các sản phẩm
dịch vụ cho khách hàng. Phối hợp với các phòng ban liên quan thực hiện thu gốc,
lãi, phí đầy đủ đúng hạn.
- Chủ động, tích cực khai thác nguồn vốn bằng VNĐ và ngoại tệ từ khách
hàng theo quy định của Techcombank.

×