Tải bản đầy đủ (.pdf) (122 trang)

Vốn đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế xó hội ở các huyện miền núi cao ở Nghệ An

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (897.36 KB, 122 trang )




1


Luận văn
Vốn đầu tư của nhà nước để
phát triển kinh tế xó hội ở các
huyện miền núi cao ở Nghệ An



2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư từ ngân sách nhà nước để phát triển kinh tế xó hội ở vựng
sõu vựng xa, vùng núi cao và hải đảo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước trong chiến lược phát triển kinh tế -xó hội kết hợp với củng cố quốc
phũng an ninh ở nước ta.
Nghệ An là một tỉnh có diện tích tự nhiên rất lớn (1.649.275 ha),
đứng thứ nhất cả nước. Toàn tỉnh có 20 đơn vị hành chính trực thuộc,
gồm 1 thành phố loại 1 (Vinh), 2 thị xã (Cửa Lò, Thỏi Hoà) và 17 huyện,
trong đó có 5 huyện là miền núi cao (Quế Phong, Quỳ Chõu, Con Cuông,
Tương Dương, Kỳ Sơn) với tổng diện tích tự nhiên 961.495 ha, chiếm
58,3% diện tích của cả tỉnh.
Các huyện miền núi cao Nghệ An có tiềm năng tự nhiên rất lớn cho
phát triển kinh tế, nhưng do trỡnh độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tỏc rất lạc
hậu, sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu, sản xuất hàng hóa chưa phát
triển, nguồn sống chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng cho nên
nguồn tài nguyên rừng đó bị khai thỏc cạn kiệt. Cuộc sống của đồng bào


các dân tộc ở những huyện này cũn rất nhiều khú khăn, kết cấu hạ tầng
kinh tế kỹ thuật và kinh tế xó hội cũn rất lạc hậu, hộ đói nghèo và số
người không biết chữ chiếm tỷ lệ cao nhất trong tỉnh. Nguồn nội lực cho
phát triển kinh tế xó hội ở những huyện này cũn rất hạn chế, đũi hỏi phải
có sự đầu tư tập trung của nhà nước vào xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế
xó hội để phát triển nguồn nhân lực và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
kỹ thuật, tạo điều kiện để phát triển sản xuất hàng hóa trên cơ sở khai
thác có hiệu quả các tiềm năng tự nhiờn thỡ các huyện này mới thoỏt khỏi
tỡnh trạng nghốo đói và vươn lên giàu có.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đó cú chủ trương và chính
sáchưu đói đối với đồng bào các dõn tộc ớt người, chính quyền địa ph-



3
ương đó triển khai thực hiện các chính sáchvề cung cấp một số mặt hàng
thiết yếu, trợ cước, trợ giỏ giống cây trồng, phát triển giao thụng nụng
thụn và các chương trỡnh mục tiờu quốc gia về xó hội ở các huyện này
nờn đó đạt được những kết quả bước đầu. Tuy vậy những kết quả đạt
được cũn thấp xa so với yờu cõự phát triển kinh tế - xó hội, đồng thời
thụng qua việc thực hiện các chính sáchcủa nhà nước cũng đó bộc lộ
những mặt yếu kộm và hạn chế trong việc sử dụng các khoản đầu tư của
nhà nước cho phát triển kinh tế - xó hội ở các huyện miền núi cao Nghệ
An. Vỡ vậy việc nghiờn cứu “Vốn đầu tư của nhà nước để phát triển
kinh tế xó hội ở các huyện miền núi cao ở Nghệ An” là vấn đề cú ý
nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết khụng chỉ ở Nghệ An mà cũn là vấn
đề chung của các tỉnh cú các huyện vựng núi cao.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Để cú những chủ trương chính sáchcho miền núi, các cơ quan chức
năng và các cấp uỷ Đảng, chớnh quyền từ Trung ương đến địa phương đó

tổ chức những hoạt động như điều tra, khảo sỏt, xõy dựng từng đề ỏn cụ
thể về đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế xó hội ở miền núi. Những
hoạt động này chủ yếu để giải quyết những vấn đề nổi cộm ở miền núi
mà cuộc sống đũi hỏi phải giải quyết ngay. Liờn quan đến đề tài này, đó
cú một số cụng trỡnh khoa học nghiờn cứu từng lĩnh vực đầu tư của nhà
nước như:
- Trần Văn Vinh, Tác động của chi ngân sách nhà nước đến phát
triển kinh tế- xó hội ở tỉnh Vĩnh Phỳc, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội,
2007.
- Trần Thị Len, Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phũng
ở vựng biờn giới tõy nguyờn, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Hà Nội, 2006
- Lê Đăng Quang, Đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở
tỉnh Bắc Ninh. Luận văn thạc sỹ kinh tế, Hà Nội, 2007.



4
- Đinh Văn Phượng, Thu hút và sử dụng vốn đầu tư để phát triển
kinh tế miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận ỏn tiến sỹ kinh tế, Hà
Nội, 2000.
- Nguyễn Thựy Anh, Vai trũ kinh tế của nhà nước trong bối cảnh
toàn cầu húa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Luận văn thạc sỹ
kinh tế. Hà Nội, 2006.
- Trịnh Diệu Bỡnh, Định canh, định cư với xóa đói giảm nghèo ở
Hà Giang, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Hà Nội, 2007.
Tuy đó cú các cụng trỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài nhưng
chưa có công trình nào nghiờn cứu đầu tư của Nhà nước cho phát triển
kinh tế - xó hội ở miền núi cao núi chung và ở Nghệ An núi riờng. Cho
nờn đề tài này khụng trựng tờn với các cụng trỡnh khoa học đó cụng bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rừ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế- xó hội ở các huyện miền
núi, làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng và đề xuất các giải
pháp nâng cao hiệu quả đầu tư của nhà nước trong phát triển kinh tế xó
hội ở các huyện miền núi cao tỉnh Nghệ An
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Làm rừ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đầu tư của nhà nước
để phát triển kinh tế- xó hội ở miền núi trong quỏ trỡnh phát triển kinh tế
thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phõn tớch đỏnh giỏ thực trạng đầu tư của nhà nước để phát triển
kinh tế - xó hội ở các huyện miền núi cao tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất quan điểm và các giải phỏp nõng cao hiệu quả đầu tư của
nhà nước trong phát triển kinh tế xó hội ở các huyện miền núi cao Nghệ
An.



5
4. Đối tượng và phương phỏp nghiờn cứu
4.1. Đối tượng
Luận văn được thực hiện ở góc độ khoa học kinh tế chính trị cho
nên đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu các quan hệ kinh tế
giữa các cấp các ngành của nhà nước trong phân phối, quản lý vốn đầu tư
của nhà nước với các đơn vị sử dụng vốn đầu tư của nhà nước để phát
triển kinh tế- xó hội ở các huyện miền núi cao.
4.2. Phương phỏp nghiờn cứu
Phương phỏp chung: Dựa trờn phương phỏp cơ bản của triết học,
phương phỏp nghiờn cứu kinh tế chớnh trị học Mỏc- Lờnin. Trong quỏ
trỡnh thực hiện đề tài luận văn sử dụng các phương phỏp cụ thể như điều

tra, khảo sỏt, thống kờ, gắn lý luận với thực tiễn trong phõn tớch và tổng
hợp để rỳt ra các kết luận cần thiết.
5. Giới hạn phạm vi nghiờn cứu
- Về nội dung:
Vốn đầu tư của nhà nước tồn tại dưới nhiều hỡnh thỏi như: Các tài
nguyờn thiờn nhiờn đưa vào sử dụng, kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và
hạ tầng kinh tế - xó hội, vốn bằng tiền từ ngõn sỏch Nhà nước, từ Ngõn
hàng chính sáchxó hội và các ngõn hàng thương mại nhà nước. Luận văn
tập trung nghiên cứu huy động và sử dụng vốn bằng tiền, chủ yếu là từ ngân
sách nhà nước.
- Về thời gian:
Nghiên cứu thực trạng đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế xó
hội ở các huyện miền núi cao tỉnh Nghệ An từ năm 2001 đến nay và đề
xuất các phương hướng, giải phỏp tới năm 2020.
6. Đúng gúp của luận văn
- Làm rừ một số vấn đề lý luận về phân phối và quản lý sử dụng
vốn đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế xó hội ở miền núi.



6
- Chỉ rừ những thành cụng, những hạn chế trong phõn phối, quản lý
và sử dụng vốn đầu tư của nhà nước ở các huyện miền núi cao tỉnh Nghệ
An.
- Đề xuất một số giải phỏp nõng cao hiệu quả đầu tư của Nhà nước
cho miền núi cao.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết.
Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI CAO

1.1. ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRề CỦA Nể ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI CAO
1.1.1. Vốn đầu tư của Nhà nước
Vốn đầu tư: Theo từ điển thuật ngữ Tài chính tính dụng, xuất bản
năm 1996: Đầu tư là việc bỏ trước một khoản tiền hoặc hiện vật để kinh
doanh nhằm thu lợi trong tương lai. Những khoản tiền và hiện vật dùng
vào đầu tư, thường là không có thời hạn, thu lời nhiều hay ớt tuỳ thuộc
vào việc phõn phối sử dụng trong quỏ trỡnh kinh doanh tốt hay xấu,
người đầu tư phải gánh chịu rủi ro nhất định về đầu tư. Đầu tư là một tất
yếu trong nền kinh tế hàng hoỏ. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản,
đầu tư gắn liền với quỏ trỡnh chuyển hoỏ tiền thành các yếu tố của các
quỏ trỡnh sản xuất. Tiền đó trở thành tư bản hay tiền vốn đầu tư và là
phương tiện thu được giỏ trị thặng dư.
Theo từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng (Nhà xuất bản Tài chớnh
Hà Nội 1996), vốn sản xuất (production cappital) là biểu hiện bằng tiền



7
của những tài sản nhằm phục vụ cho quỏ trỡnh sản xuất kinh doanh của
đơn vị.
Cũn theo Đại từ điển tiếng Việt - Vốn là “Tiền gốc, tiền bỏ ra để
sản xuất, kinh doanh làm cho cú lói” [53, tr.1829].
Tuỳ theo gúc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu có thể hiểu vốn
theo các cách khỏc nhau. Cú ý kiến cho rằng: Vốn chính là các yếu tố đầu
vào của quá trỡnh sản xuất, bao gồm các loại tài sản như: máy móc, thiết

bị, nhà xưởng và các nguyên vật liệu, bán thành phẩm dùng cho sản xuất.
Quan điểm này một mặt chỉ coi vốn là những yếu tố vật chất (tư liệu sản
xuất) mà khụng đề cập đến sức lao động, mặt khỏc chưa phản ỏnh được
sự lớn lờn của vốn trong quỏ trỡnh sử dụng.
Theo luật đầu tư năm 2005, vốn là “tiền và các tài sản hợp pháp
khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hỡnh thức đầu tư trực tiếp
hoặc đầu tư gián tiếp”. Cách diễn đạt này chưa thể hiện được sự chuyển
hoỏ các hỡnh thỏi của vốn trong quỏ trỡnh vận động.
Chỳng tụi cho rằng, vốn đầu tư là một phạm trự của kinh tế thị
trường phản ỏnh việc sử dụng tiền tệ để chuyển hoỏ thành các yếu tố của
quỏ trỡnh sản xuất nhằm thu về số tiền lớn hơn hay thực hiện mục đớch sinh
lợi của chủ đầu tư. Với quan niệm như vậy thỡ vốn hay tư bản đều vận động
theo cụng thức:
TLSX
T- H …SX…H’ -T’
SLĐ

Tuy nhiờn, vốn đầu tư để sản xuất ra các sản phẩm hàng hoỏ và
vốn đầu tư để xõy dựng kết cấu hạ tầng cú sự khỏc nhau ở sự chuyển hoỏ
H

- T

. Đối với các hàng hoỏ thụng thường, thực hiện được bước chuyển
hoỏ này là thu về số tiền lớn hơn số tiền ứng ra ban đầu. Cũn vốn đầu tư
xõy dựng kết cấu hạ tầng là sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ cho sản
xuất và đời sống, cho nờn việc chuyển hoỏ H

- T


là một quỏ trỡnh lõu



8
dài, phải thụng qua tiờu dựng các dịch vụ mới biết được hiệu quả của nú
hay hiệu quả kinh tế xó hội.
Phõn loại vốn đầu tư:
* Nếu căn cứ vào hỡnh thỏi thỡ cú thể phõn vốn đầu tư thành vốn
bằng tiền và giỏ trị bằng tiền trong các tài sản được đưa vào sản xuất bao
gồm tài sản hữu hỡnh và tài sản vụ hỡnh.
* Nếu căn cứ vào mối quan hệ sở hữu và sử dụng vốn đầu tư thỡ
người ta phõn thành vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư giỏn tiếp. Vốn đầu
tư trực tiếp là hỡnh thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia
quản lý hoạt động kinh doanh. Đầu tư gián tiếp là hỡnh thức đầu tư thông
qua cho vay, mua cổ phiếu trờn thị trường thứ cấp, mua trái phiếu, các
giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế
tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý
quỏ trỡnh sử dụng vốn.
* Nếu căn cứ vào hiệu quả trước mắt và lõu dài cú thể phõn vốn
đầu tư thành vốn đầu tư vỡ mục tiờu lợi nhuận và vốn đầu tư vỡ mục tiờu
phát triển kinh tế xó hội.
Trong phạm vi của đề tài này, chỉ nghiờn cứu vốn đầu tư khụng vỡ
mục đớch lợi nhuận trực tiếp mà là vỡ mục tiờu phát triển kinh tế xó hội.
Nguồn vốn đầu tư:
Nguồn vốn đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào mức độ phát triển của
nền kinh tế, bởi lẽ kinh tế càng phát triển thỡ càng cú điều kiện để gia
tăng tiết kiệm và dành cho đầu tư. Ở nước ta hiện nay thu nhập bỡnh
quõn người cũn thấp nờn quy mụ và tỷ lệ tiết kiệm cũn thấp, chưa đáp
ứng được nhu cầu đầu tư rất lớn và ngày càng gia tăng để phát triển kinh

tế. Vỡ vậy cần phải thu hỳt các nguồn đầu tư từ bên ngoài để đáp ứng nhu
cầu vốn đầu tư.



9
Các nguồn vốn đầu tư trong nước được hỡnh thành từ tiết kiệm
trong nước bao gồm: Tiết kiệm từ ngân sách Nhà nước, tiết kiệm của các
doanh nghiệp và tiết kiệm của dân cư (các hộ gia đỡnh).
Tiết kiệm của ngõn sách Nhà nước là số thu ngõn sỏch nhà nước
cũn lại sau khi đó đỏp ứng nhu cầu chi thường xuyờn, đú là phần được
dành để chi cho đầu tư phát triển từ thu của ngân sách Nhà nước. Chúng
tôi sẽ quay trở lại vấn đề này một cách cụ thể hơn ở phần sau. Tiết kiệm
của các doanh nghiệp là phần lói sau thuế được các doanh nghiệp để lại
dành cho đầu tư phát triển. Trong thực tế, nguồn tự tài trợ cho hoạt động
đầu tư của doanh nghiệp cũn bao gồm cả nguồn vốn thu được từ khấu hao
tài sản cố định.
Tiết kiệm của dân cư là phần thu nhập để dành chưa tiêu dùng của
các hộ gia đỡnh. Tỷ lệ tiết kiệm của dõn cư phụ thuộc vào thu nhập và chi
tiêu của các hộ gia đỡnh. Ngoài ra, nú cũn phụ thuộc vào tõm lý, tập quỏn
tiờu dựng của mỗi quốc gia, dõn tộc, mỗi vựng; vào mức độ động viên
của Nhà nước thông qua các chính sách thuế, phí, lệ phí, các khoản đóng
góp xó hội, tỏc động của chính sách tài chính, tiền tệ …
Các nguồn đầu tư nước ngoài bao gồm: nguồn vốn của các Chính
phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các tổ chức quốc tế và tư nhân
đầu tư vào các nước đang phát triển dưới hỡnh thức trực tiếp và giỏn tiếp.
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI- là nguồn vốn đầu tư của
tư nhân nước ngoài vào một nước khác để tiến hành kinh doanh nhằm
mục đích thu lợi nhuận. Nó được thể hiện dưới nhiều hỡnh thức như: hợp
đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100%

vốn nước ngoài.
Nguồn viện trợ phát triển chớnh thức (ODA) - là nguồn tài chính
do các cơ quan chính thức của Chính phủ một số nước hoặc của các tổ
chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy, hỗ trợ



10
quá trỡnh phát triển kinh tế- xó hội của các nước này. ODA một phần nhỏ
là viện trợ khụng hoàn lại, phần lớn là những khoản cho vay ưu đói kốm
theo sự ràng buộc (về cách thức sử dụng hoặc mục đích sử dụng) và nhạy
cảm về chớnh trị. Tuy là những khoản ưu đói song nếu sử dụng khụng cú
hiệu quả sẽ trở thành gỏnh nặng, nợ nần cho các quốc gia tiếp nhận.
Nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) thường là
viện trợ không hoàn lại, dưới dạng viện trợ vật chất hoặc tài chính thông
qua các chương trỡnh phát triển cú mục tiờu dài hạn. Nhỡn chung nguồn
vốn này cũng đóng vai trũ tớch cực, song cũng là vấn đề nhạy cảm về
chính trị. Ngoài ra, trong thực tế cũn cú các nguồn đầu tư gián tiếp khác
của nước ngoài như: thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu tín dụng,
thông qua ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính và tín dụng
thương mại.
Túm lại, trong nền kinh tế thị trường và nhất là trong điều kiện hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thỡ việc thu hỳt nguồn vốn từ nước
ngoài là rất quan trọng, song nguồn vốn trong nước là quyết định đến việc
phát triển kinh tế xó hội của nước ta. Vỡ vậy, Nhà nước cần có các chính
sách phù hợp để khơi dậy các tiềm năng tài chính trong dân cư và thu hút
vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế -
xó hội. Đối với những vựng, miền cũn nhiều khú khăn, phức tạp về vị trí
địa lý và khí hậu; yếu kém về cơ sở hạ tầng và mặt bằng dân trí như các
huyện vùng núi cao tỉnh Nghệ An thỡ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước

phải được đặt lên hàng đầu. Quan điểm của chúng tôi là luôn khuyến
khích động viên, tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu
tư trong nước thuộc các thành phần kinh tế khác nhau bỏ vốn để đầu tư
sản xuất kinh doanh ở địa bàn này thông qua việc đảm bảo những chế độ
ưu đói hấp dẫn, đồng thời coi các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước là
chính trong việc xõy dựng kết cấu hạ tầng, cú như vậy mới bảo đảm sự



11
ổn định và phát triển kinh tế - xó hội và định hướng cho các nhà đầu tư
đến khu vực miền núi cao tỉnh Nghệ An.
Vốn đầu tư của Nhà nước: Đây là những tài sản và vốn bằng tiền
mà Nhà nước đầu tư hàng năm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định
nào đó để đạt được các mục tiêu về kinh tế- xó hội, quốc phũng - an ninh.
Nguồn cho các khoản đầu tư này bao gồm: Chi ngân sách Nhà nước, các
khoản vay của Chớnh phủ (như phát hành trái phiếu, vay nợ nước ngoài
cho một số dự án…) hoặc một số tài sản quốc gia khác được huy động để
tham gia vào hoạt động đầu tư. Trong thực tế những năm gần đây, sự đầu
tư của Nhà nước cũn thể hiện qua kờnh tớn dụng ưu đói (như chính sách
vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt
khó khăn theo quyết định số 32/T.Tg của Thủ tướng Chính phủ).
Với năng lực hiện nay của nền kinh tế nước ta, vốn đầu tư của Nhà
nước chỉ chiếm khoảng 20- 25% tổng vốn đầu tư cho phát triển toàn xó
hội. Tỷ lệ này là cũn thấp so với một số nước trong khu vực, vỡ vậy
chớnh phủ cần cú những giải phỏp đồng bộ để vừa khơi dậy và thu hút
các nguồn lực để đầu tư cho phát triển, vừa nâng dần năng lực đầu tư của
Nhà nước. Nguồn vốn đầu tư của nhà nước chủ yếu là từ ngõn sỏch nhà
nước nờn mấu chốt là ở chỗ giải quyết vấn đề cõn đối thu chi ngân sách
Nhà nước. Về lâu dài Nhà nước phải cú số thu ngõn sỏch lớn hơn nhiều

so với chi ngân sách cho tiờu dựng để có tích luỹ ngày càng lớn. Tuy
nhiên vấn đề này lại cũn phụ thuộc nhiều vào mức độ phát triển của nền
kinh tế và khả năng huy động vào ngân sách Nhà nước. Ngay cả việc huy
động các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước cũng không phải là vấn đề
dễ giải quyết, không phải cứ tăng thuế suất là có số thu lớn hơn, bởi lẽ đối
với các đơn vị kinh tế hay cá nhân kinh doanh, tăng thuế suất đồng nghĩa
với việc giảm lợi nhuận kinh doanh của họ. Nếu các khoản thuế phải nộp
tăng quá cao sẽ dẫn đến tỡnh trạng các nhà đầu tư không muốn bỏ vốn ra
để kinh doanh hoặc sẽ diễn ra tỡnh trạng trốn lậu thuế nhiều, nền tài
chớnh sẽ khụng lành mạnh nữa.



12
Về hiện tượng này lý thuyết đường cong thuế của A.Laffer đó mụ
tả khỏ rừ mối quan hệ giữa lượng tiền thu về thuế đưa vào ngõn sỏch với
thuế suất (sức ộp thuế).
Sơ đồ 1.1: Đường cong Laffer

Theo sơ đồ trờn ta thấy:
Nếu Nhà nước đánh thuế 0%, thu ngân sách từ thuế không cũn và
Nhà nước đánh thuế 100% thỡ các đơn vị kinh tế khước từ mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh, dẫn đến nguồn thu về thuế cũng bằng không. Nếu
Nhà nước đánh thuế 50% (đây chỉ là mức thuế giả định có ý nghĩa về mặt
toỏn học, cũn trong thực tế khụng thể xỏc định một cách chính xác tuyệt
đối để từ đó Nhà nước ổn định thuế suất được) thỡ lượng tiền thu thuế đạt
cực đại ở điểm A.
Nếu Nhà nước tiếp tục tăng thuế (> 50%) thỡ mức tiền thuế thu
được sẽ di chuyển trên đường cong phía bên phải (phần đồ thị gạch chéo),
theo xu hướng giảm dần do các nhà đầu tư không thiết tha với việc sản

xuất kinh doanh vỡ thuế suất cao. Như vậy, việc tăng thuế suất trong
những trường hợp này khụng cú tỏc dụng tớch cực tới việc tăng thu tiền
thuế nữa, nó đó kỡm hóm sự sản xuất, dẫn đến cả doanh nghiệp và nhà
nước đều không đạt được mục đích của mỡnh. Ngược lại, nếu Nhà nước
X

Y
50%
A
c
ựcđại


Thuế
suõt
100%

Tiờn lượng
tiền thu
thu
ế

a



13
khụng chọn mức thuế suất là Y (>50%) mà chọn ở mức X (<50%) thỡ
lượng tiền thuế thu được vẫn là “a” và trong trường hợp này thỡ lượng
tiết kiệm, đầu tư vào việc làm trong xó hội sẽ tăng lên rất cao.

Túm lại, với những điều kiện hiện có của nền kinh tế nước ta phát
triển chưa cao, nguồn thu ngân sách Nhà nước cũn hạn chế, Nhà nước
cũng không thể ban hành các chính sách thuế suất cao để huy động vào
ngân sách Nhà nước. Trong điều kiện đú, việc tăng thu ngõn sỏch nhà
nước chủ yếu là khuyến khớch và tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh
phát triển. Với những mức thuế suất hợp lý cú thể tăng số thu từ các
doanh nghiệp đó hoạt động và tăng diện thu ở các doanh nghiệp mới đi
vào hoạt động. Bờn cạnh việc tăng quy mụ thu ngõn sỏch nhà nước phải
thực hiện tiết kiệm, chống lóng phớ trong chi thường xuyờn và chi đầu tư
để vừa tăng chi đầu tư vừa nõng cao hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước.
Đặc điểm vốn đầu tư của Nhà nước:
Vốn đầu tư của Nhà nước hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tài nguyờn
tự nhiện đưa vào sử dụng, đầu tư từ ngân sách Nhà nước, đầu tư từ tín
dụng đầu tư ưu đói của Nhà nước và đầu tư của khu vực doanh nghiệp
Nhà nước. Nó có những đặc điểm như:
Thứ nhất, trong thời kỳ bao cấp, vốn đầu tư của Nhà nước đóng vai
trũ chủ yếu trong tổng số vốn chi cho đầu tư phát triển của xó hội. Ngoài
việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, Nhà nước cũn giành một lượng vốn
khá lớn đầu tư phát triển kinh tế thông qua việc cấp vốn xõy dựng doanh
nghiệp hay mở rộng quy mụ của các doanh nghiệp Nhà nước. Chuyển
sang cơ chế kinh tế thị trường vai trũ của Nhà nước về kinh tế có những
thay đổi căn bản. Nhà nước là một chủ sở hữu, nhưng khụng trực tiếp
kinh doanh mà chuyển sang tăng cường vai trũ quản lý nhà nước đối với
nền kinh tế thông qua việc định hướng, dẫn dắt nền kinh tế; tạo dựng và
bảo đảm môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp thuộc các thành



14
phần kinh tế khác nhau bằng việc ban hành hệ thống pháp luật thống nhất

tạo sân chơi bỡnh đẳng, tạo điều kiện để các thực thế kinh tế tiếp cận đầy
đủ, kịp thời, công bằng các nguồn lực; bảo đảm sự ổn định, an toàn về
mặt xó hội để các doanh nghiệp kinh doanh… Nhà nước chỉ giữ lại một
số hoặc thành lập những doanh nghiệp mới mà ngành nghề kinh doanh cú
vai trũ trọng yếu trong nền kinh tế; Trong lĩnh vực bảo đảm quốc phũng
an ninh; Trong những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không
muốn đầu tư, không có khả năng để đầu tư như trong xây dựng cơ sở hạ
tầng kỹ thuật quy mụ lớn. Các doanh nghiệp nhà nước được trao đầy đủ
các quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh để thực hiện nhiệm vụ nhà
nước.
Thứ hai, mặc dù vốn đầu tư của Nhà nước hiện nay tuy khụng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư phát triển của toàn xó hội,
nhưng với tư cách là một chủ thể kinh tế thỡ Nhà nước là nhà đầu tư lớn
nhất, có trong tay những nguồn lực hùng mạnh nhất. Vỡ vậy việc Nhà
nước đầu tư vào lĩnh vực gỡ, ở đâu có tác động hết sức lớn tới việc thay
đổi cơ cấu ngành kinh tế và vựng kinh tế.
Thứ ba, vốn đầu tư của Nhà nước có nguồn gốc là tiết kiệm chi
Ngân sách Nhà nước nên nó phụ thuộc trước hết vào cán cân Ngân sách
hàng năm và từng thời kỳ; phụ thuộc vào trỡnh độ phát triển của nền kinh
tế và mức độ huy động vào Ngân sách quốc gia của Chính phủ. Ngoài ra
vốn đầu tư cho phát triển của Nhà nước cũn bị ảnh hưởng bởi nhiệm vụ
chi bảo đảm quốc phũng an ninh trong từng thời kỳ của đất nước. C.Mác
đó núi, chi cho quốc phũng an ninh là những khoản chi “mất đi” không
thu hồi lại được, không tạo ra sản phẩm mới, cho nờn một quốc gia nào
mà cú chiến tranh hay phải chi tiờu quỏ nhiều cho quốc phũng an ninh
thỡ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế.
Liên xô (cũ) là một ví dụ cho quan điểm này. Do phải chạy đua vũ trang




15
quyết liệt với Mỹ và các nước Đế quốc, trong khi tiềm lực kinh tế của
quốc gia lại có hạn nên nền kinh tế của Liên xụ bị ảnh hưởng nghiêm
trọng đú là một trong những nguyờn nhõn dẫn tới khủng hoảng sõu sắc.
Thứ tư, từ khi chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường, vốn
đầu tư của Nhà nước chủ yếu tập trung cho xây dựng cơ sở hạ tầng như
đường xá, cầu cóng, bến cảng, thông tin, điện, thuỷ lợi… Tuy nhiên cùng
với sự phát triển của nền kinh tế, vốn đầu tư của Nhà nước sẽ ngày càng
có vai trũ quan trọng hơn trong việc hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ,
giáo dục, đào tạo và các ngành kinh tế mũi nhọn để thực hiện được mục
tiêu đi tắt, đón đầu và hiện đại hoá nền kinh tế.
Thứ năm, Nhà nước của ta là Nhà nước “của dõn, do dõn, vỡ dõn”,
Nhà nước đại diện và bảo vệ quyền lợi của toàn dân. Chế độ sở hữu ở
nước ta quy định đất đai, tài nguyờn thiờn nhiờn (khoáng sản, nguồn
nước, những vùng rừng quốc gia do Nhà nước quản lý trực tiếp…) thuộc
sở hữu toàn dõn mà Nhà nước là người đại diện. Vỡ vậy vốn đầu tư của
Nhà nước trong các dự án đầu tư không chỉ là tiền, tài sản vật chất mà
cũn là giỏ cả quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Đây là một đặc điểm riêng có do chế độ sở hữu ở nước ta đem lại, vỡ vậy
trong các dự án đầu tư có sự tham gia của Nhà nước với các đối tác khác
thỡ chúng ta phải hết sức lưu ý để xỏc định đầy đủ, chớnh xỏc phần vốn
góp của Nhà nước.
Thứ sỏu, trong quỏ trỡnh phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, vốn đầu tư của Nhà
nước ngày càng tăng thể hiện ở chỗ:
- Các tài nguyờn tự nhiờn thuộc sở hữu toàn dõn ngày càng được
sử dụng đầy đủ, cú hiệu quả hơn. Nhà nước thực hiện lợi ớch kinh tế từ
các tài sản đú ngày càng nhiều sẽ làm tăng số thu ngõn sỏch nhà nước.




16
- Vốn trong doanh nghiệp nhà nước, vốn gúp của Nhà nước trong
các liờn doanh được sử dụng cú hiệu quả, Nhà nước thực hiện được lợi
ớch kinh tế từ các doanh nghiệp sẽ làm tăng số thu ngõn sỏch nhà nước.
- Với sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, tổng sản phẩm
quốc dõn (GDP) hàng năm tăng lờn, với một tỷ lệ huy động vào ngõn
sỏch Nhà nước khụng đổi thỡ số thu ngõn sỏch nhà nước ngày càng tăng.
- Số thu ngõn sỏch nhà nước cú tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng
chi thường xuyờn là cơ sở để tăng chi đầu tư phát triển từ ngõn sỏch nhà
nước.
1.1.2. Vai trũ vốn đầu tư của Nhà nước đối với phát triển kinh
tế - xó hội ở các huyện miền núi cao
1.1.2.1. Vai trũ của vốn đầu tư xó hội đối với tăng trưởng và phát
triển
Vốn đầu tư xó hội cú vai trũ quyết định đối với tăng trưởng kinh tế
quốc gia, do vậy nó được quan tâm như một yếu tố quan trọng trong quản
lý kinh tế vĩ mụ. Hầu hết các lý thuyết kinh tế và mụ hỡnh phát triển đều
coi đầu tư là một yếu tố quyết định bảo đảm quá trỡnh tỏi sản xuất mở
rộng trờn quy mụ toàn xó hội. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mỏc -
Lờnin cũng rất quan tâm đến vai trũ của vốn đầu tư trong việc bảo đảm
quá trỡnh tỏi sản xuất mở rộng, bảo đảm cân đối động giữa các khu vực
và quá trỡnh phát triển kinh tế liờn tục. Trong nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước vốn đầu tư có những vai trũ quan trọng sau đây.
Thứ nhất, nó có tác động trực tiếp làm tăng tổng cung của xó hội
về mặt dài hạn, nó quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Mối
quan hệ giữa đầu tư của xó hội với tăng trưởng kinh tế đó được mô tả bởi
hàm sản xuất C0bb-Douglas hoặc mụ hỡnh tăng trưởng Harrod -Domar
hoặc mụ hỡnh tăng trưởng Rostow.




17
Theo hàm sản xuất Cobb- Douglas sản lượng của nền kinh tế (Q) là
một hàm số được quyết định chủ yếu bởi hai yếu tố là lao động (L) và
vốn tích luỹ (K) do vậy sản lượng Q có quan hệ hàm số sau đây:
Q= A x L
a
x K
b

Trong đó A, a, b là các hằng số đặc trưng cho nền kinh tế ở từng
giai đoạn nhất định. Như vậy khi đầu tư tăng làm cho vốn tích luỹ K tăng
sẽ làm sản lượng Q tăng lên. Nói cách khác, sản lượng Q của nền kinh tế
được quyết định một phần bởi vốn đầu tư của toàn xó hội.
Theo mụ hỡnh tăng trưởng Harrod - Domar, giữa tốc độ tăng
trưởng (G) của nền kinh tế, tỷ lệ đầu tư của xó hội (I/ GDP) và hệ số gia
tăng tư bản - đầu ra (IC0R) có mối quan hệ như sau:

I/ GDP
G
IC0R


Do vậy, I/GDP = G.IC0R và I = G.IC0R.GDP tức là tỷ lệ đầu tư có
vai trũ quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Vớ dụ: Giả sử hệ số IC0R của chỳng ta là 5 để có tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế 6% thỡ tỷ lệ đầu tư phải là:
I/GDP = 6 x 5 = 30% hay I = 30%. GDP.
Tức là, vốn cho đầu tư phát triển phải đạt được mức 30% của GDP

tại giai đoạn lập kế hoạch.
Theo mụ hỡnh tăng trưởng Rostow, đầu tư cũng được coi là yếu tố
quyết định các giai đoạn tăng trưởng với đặc trưng là: Giai đoạn chuẩn bị
cất cánh (đầu tư < 10%) giai đoạn cất cánh (đầu tư > 10%), giai đoạn
trưởng thành (đầu tư > 20%).
Thứ hai, đầu tư là một yếu tố cấu thành có tỷ trọng khá lớn của
tổng cầu (Thường chiếm 20 - 40 % của tổng cầu, chủ yếu là cầu về tư liệu
sản xuất). Do đó về ngắn hạn nó có vai trũ đảm bảo cân đối tổng cung -
tổng cầu trong kinh tế vĩ mụ, gúp phần thực hiện các hàng hoá - dịch vụ
được sản xuất ra của nền kinh tế.



18
Thứ ba, đầu tư có vai trũ quyết định đến quá trỡnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của các quốc gia, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu các vựng
lónh thổ và cơ cấu sở hữu. Phân tích vai trũ của vốn đầu tư đối với tăng
trưởng, ta quan tâm tới sự gia tăng thêm vốn (∆K). Tuy nhiên sự gia tăng
thêm vốn (∆K) trờn thực tế luụn gắn liền với quỏ trỡnh phõn bổ vốn theo
các ngành và vựng kinh tế. Trong những điều kiện khác không đổi, ngành
và vùng nào gia tăng nhanh về vốn sẽ có điều kiện tăng nhanh về năng
lực sản xuất, là điều kiện thiết yếu để gia tăng sản lượng. Do đó, ngành và
vùng đó sẽ có khả năng tăng trưởng nhanh hơn và ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu của nền kinh tế.
Đối với các quốc gia đang phát triển thực hiện chiến lược công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thỡ các mục tiờu chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý
nghĩa rất quan trọng. Các mục tiờu này được thực hiện trên thực tế, thông
qua các hoạt động đầu tư, nhiều ít khác nhau tuỳ theo nhu cầu phát triển
và chính sách đầu tư của Nhà nước đối với từng ngành, vùng.
Thứ tư, việc đầu tư vốn cho các mục tiêu phát triển sẽ tạo cơ hội

cho các doanh nghiệp và quốc gia đổi mới công nghệ, hiện đại hoá quá
trỡnh sản xuất, thực hiện chiến lược đi tắt, đón đầu trong điều kiện cạnh
tranh và hội nhập hiện nay.
Thứ năm, vốn đầu tư có ý nghĩa quan trọng với giải quyết việc làm
cho xó hội. Trong điều kiện trang bị kỹ thuật cho lao động không đổi,
việc gia tăng trang bị vốn cho nền kinh tế sẽ lôi cuốn thêm lực lượng lao
động và hoạt động kinh tế, nhờ đó mà tạo nên việc làm, tăng thu nhập và
cải thiện đời sống cho người lao động. Để thấy rừ vai trũ của vốn đầu tư
đối với vấn đề việc làm chỳng ta hóy lưu ý đến lý thuyết của J.M.Keynes
về cung, cầu, thị trường điều tiết và việc làm. Keynes đó phờ phỏn lý
thuyết kinh tế cổ điển về sự điều tiết cung - cầu, nhất là sự điều tiết - cung



19
- cầu trên thị trường lao động để điều chỉnh việc làm. Theo ông điều đó
không có khả năng vỡ tớnh chất “ cứng” của tiền cụng.
Có thể nói thị trường trong nền kinh tế hiện đại không thể tự điều
tiết, cả về mặt lý luận và thực tiễn đều khẳng định điều đó. J.M.Keynes
cho rằng thực tế nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là luôn có sự biến động làm
giảm “cầu hiệu nghiệm”, đồng thời làm giảm tổng cầu (tức là giảm toàn
bộ số hàng mà tất cả những người tiêu dùng có nhu cầu mua trên thị
trường). Từ đó tác động đến tổng cung (tức là tác động đến toàn bộ số
hàng hoá mà các nhà sản xuất bán ra trên thị trường). Giữa tổng cung và
tổng cầu ớt khi cú sự cõn bằng, bởi vỡ chỳng chịu sự tác động của hàng
loạt nhõn tố (thu nhập, xu hướng tiêu dùng giới hạn, tiết kiệm, hiệu quả
giới hạn của tư bản, lói suất, xu hướng ưa chuộng tiền mặt…) và trong
hầu hết các trường hợp thỡ tổng cầu luụn thấp hơn tổng cung. Tỡnh hỡnh
đó đó gõy nờn hiện tượng khủng hoảng thừa hàng hoá. Từ đó làm sản
xuất bị thu hẹp thất nghiệp gia tăng.

Theo J.M.Keynes sở dĩ thất nghiệp, khủng hoảng diễn ra trong nền
kinh tế là vỡ sự giảm sỳt tổng cầu hiệu quả (tức là cầu thực tế), bao gồm
cầu về tiêu dùng và cầu đầu tư. Cầu tiêu dùng giảm là do tác động của
khuynh hướng tiêu dùng giới hạn và thu nhập. Thu nhập tăng lên khi việc
làm tăng, song do tác động của khuynh hướng tiêu dùng giới hạn nên tiêu
dùng tăng chậm hơn so với thu nhập (cũn tiết kiệm lại tăng nhanh) điều
này làm cho tiêu dùng giảm tương đối.
Cầu đầu tư giảm là do sự tác động của hiệu quả giới hạn của tư
bản. Hiệu quả giới hạn của tư bản giảm xuống sẽ làm mất lũng tin của
doanh nhõn vào thu nhập tương lai. Do vậy, họ sẽ từ bỏ việc đâù tư, làm
cho việc thu hỳt việc làm bị ngưng trệ, thất nghiệp tăng (nhất là trong
điều kiện dân số tăng). Cầu đầu tư cũn phụ thuộc vào sự biến đổi lói suất,
khối lượng tiền tệ và khuynh hướng ưa chuộng tiền mặt. Tất cả các nhân



20
tố tác động đến tổng cầu hiệu quả đều tác động đến việc làm. Do vậy để
chống thất nghiệp phải tỡm các biện pháp để tác động vào “Tổng cầu
hiệu quả”. Việc này cần phải có bàn tay của Nhà nước, không thể phó
mặc cho thị trường.
Từ lý thuyết trờn đây của J.M.Keynes chúng ta thấy vốn đầu tư của
Nhà nước có vai trũ quan trọng như thế nào đối với vấn đề việc làm, nhất
là ở những nơi mà lao động dôi dư cũn nhiều như nông thôn, miền núi.
1.1.2.2. Vai trũ vốn đầu tư của Nhà nước đối với phát triển kinh
tế - xó hội ở các huyện miền núi cao
Do đặc thù của các địa phương miền núi cao là: Điểm xuất phát về
kinh tế rất thấp, mặt bằng dân trí chưa bằng các địa phương vùng đồng
bằng, cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật yếu kém, vị trớ địa lý, địa hỡnh, khớ
hậu bất lợi, đời sống của đồng bào dõn tộc cũn nhiều khú khăn nên

không hấp dẫn được các nhà đầu tư. Vỡ vậy đầu tư của Nhà nước trong
giai đoạn khởi động là cực kỳ quan trọng và cú tớnh chất quyết định để
phát triển kinh tế xó hội đối với vùng này. Vai trũ này thể hiện ở các mặt
sau:
Thứ nhất, vốn của Nhà nước là nguồn vốn đầu tư lớn nhất và là
nguồn vốn chủ yếu đầu tư cho miền núi cao. Nhà nước đầu tư cho vùng
này nhằm giải quyết nhiều mục tiờu khỏc nhau: Xoá đói, giảm nghèo cho
đồng bào sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là đối với đồng bào các
dân tộc thiểu số; đảm bảo ổn định sản xuất ổn định cuộc sống cho nhõn
dõn trong khu vực; xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật trong các
lĩnh vực: giao thụng - thụng tin liờn lạc, thuỷ lợi… Nhằm mục đích để
đồng bào cải thiện đời sống dân sinh, kinh tế; tạo điều kiện hấp dẫn hơn
cho các nhà đầu tư; tạo điều kiện để đồng bào hưởng thụ các giá trị văn
hoá…



21
Thứ hai, các huyện miền núi cao biờn giới do địa hỡnh phức tạp và
thường là những địa phương có biên giới giáp với nước bạn Lào nên quản
lý nhà nước về quốc phũng an ninh cú những khú khăn nhất định. Để
khắc phục những vấn đề này cần phải có sự đầu tư thoả đáng và không ai
khác ngoài Nhà nước phải giành lượng vốn đáng kể cho đầu tư.
Thứ ba, từ trước đến nay đồng bào các dõn tộc thiểu số ở các
huyện miền núi cao sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu, sản xuất hàng hoỏ
ở miền núi cao chưa phát triển, nhân dân chưa quen với cơ chế thị trường.
Vỡ vậy, Nhà nước đầu tư xõy dựng kết cấu hạ tầng tạo điều kiện cho đồng
bào chuyển sang sản xuất hàng hoỏ, vừa làm giàu cho bản thân, gia đỡnh và
làm giàu cho xó hội.
Thứ tư, đầu tư của Nhà nước sẽ tạo điều kiện để các thành phần kinh

tế và nhân dân khai thác và phát huy tốt hơn các tiềm năng trên địa bàn từ
tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý đến nhân tố con người và truyền thống
văn hoá…
Thứ năm, đầu tư của Nhà nước tạo điều kiện để đồng bào tiếp cận
và áp dụng những thành tựu của khoa học và cụng nghệ.
Thứ sỏu, việc hàng năm Nhà nước bỏ vốn ra đầu tư cho miền núi
cao thể hiện sự quan tâm ưu đói của Đảng, của chế độ XHCN đối với
những vùng miền lạc hậu, chịu nhiều thiệt thũi. Điều đó có tác động rất
lớn trong việc tạo ra niềm tin của đồng bào các dõn tộc đối với Đảng
cộng sản Việt nam.
Thứ bảy, một trong những mục tiêu cơ bản, có tính nguyên tắc của
Đảng và Nhà nước ta là công bằng xó hội. Tớnh cụng bằng ở đây bao
gồm những yờu cầu về sự bỡnh đẳng, thoả đáng, hợp lý về các quyền
lợi… giữa các dõn tộc, giữa các vùng miền, giữa các tầng lớp dân cư.
Chính hoạt động đầu tư của Nhà nước ở các huyện miền núi cao nhằm đạt
được các mục tiêu như đó núi ở trờn gúp phần rất quan trọng vào việc
thực hiện các mục tiờu của cụng bằng xó hội.



22
1.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG VỐN ĐẦU
TƯ CỦA NHÀ NƯỚC CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở CÁC
HUYỆN MIỀN NÚI CAO VÀ KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ TỈNH VỀ SỬ
DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CHO CÁC HUYỆN MIỀN NÚI CAO
1.2.1. Các nhõn tố ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn đầu tư của
Nhà nước cho phát triển kinh tế xó hội ở cac huyện miền núi cao
Nhà nước đầu tư vốn cho miền núi cao nhằm đạt được nhiều mục
tiêu khác nhau, trong đó có những mục tiêu mang tính dài hạn và những
mục tiêu ngắn hạn, giải quyết một số vấn đề trước mắt. Các mục tiêu đó

nằm ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: xây dựng và phát triển kinh tế, giải
quyết các vấn đề xó hội, bảo đảm quốc phũng an ninh, xõy dựng nền văn
hoỏ tiờn tiến đậm đà bản sắc dõn tộc, xõy dựng hệ thống chính trị các cấp
và đội ngũ cán bộ.v.v… Từ những mục tiêu đó, trước khi có chủ trương
đầu tư, Nhà nước xác định các hiệu quả tương ứng, cụ thể để định hướng
và quyết định việc đầu tư.
Hiệu quả của vốn đầu tư Nhà nước phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,
bao gồm các điều kiện khách quan và chủ quan, điều kiện bên trong và
bên ngoài, điều kiện tự nhiên và xó hội … để đơn giản hoá việc nghiờn
cứu chỳng tụi xin phõn tớch những nhõn tố chủ yếu sau:
Thứ nhất, Cụng tỏc quy hoạch phát triển kinh tế xó hội và kế hoạch
đầu tư. Các dự ỏn đầu tư phải tuân theo quy hoạch phát triển kinh tế - xó
hội; trờn cơ sở xõy dựng quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng - kỹ thuật,
quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch khai thác khoáng
sản và các tài nguyên thiên nhiên khác. Quy hoạch vùng, quy hoạch
ngành, quy hoạch sản phẩm phải phù hợp với lĩnh vực ưu đói đầu tư, địa
bàn ưu đói đầu tư…
Từ quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xó hội, phải xõy dựng kế
hoạch huy động và phõn phối vốn cho các cụng trỡnh theo thứ tự ưu tiờn
và cấp phát vốn đầu tư của Nhà nước kịp thời. Vấn đề này phải được thực



23
hiện công khai, công bằng, đáp ứng yêu cầu khách quan của thực tiễn.
Phải hạn chế, tiến tới xoỏ bỏ hẳn tỡnh trạng phõn bổ vốn đầu tư mang
tính chủ quan, duy ý chí. Nếu phân bổ, cấp phát vốn đầu tư của Nhà nước
khách quan hợp lý sẽ tránh được tỡnh trạng dàn trải, manh mỳn và bảo
đảm cho việc tập trung vốn đầu tư vào những việc lớn, cần thiết.
Xác định đối tượng đầu tư cũng là một việc cần tập trung để thực

hiện cho tốt. Nú bao gồm việc xác định đầu tư cái gỡ, ở đâu và khi nào!
Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng vỡ nếu ngay từ lỳc đầu chủ
trương mà không đúng đắn thỡ sẽ để lại một loạt hậu quả tiêu cực cho các
bước tiếp theo của quá trỡnh đầu tư của nhà nước. Thông thường thỡ chủ
trương đầu tư xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn ở các địa phương. Tuy
nhiên sẽ là phiến diện nếu không đặt việc giải quyết nhu cầu đó trong mối
quan hệ tổng thể với các nhu cầu khác và với các địa phương khác. Nó
đũi hỏi phải dựa vào quy hoạch, kế hoạch ở từng thời kỳ. Tính hiệu quả
của vốn đầu tư không những đũi hỏi phải cú kết quả ở mức cao nhất, mà
cũn yờu cầu kết quả đó đạt được trong điều kiện các chi phí bỏ ra ở mức
thấp nhất nữa. Rừ ràng khi mà các nguồn lực cho đầu tư phát triển của
nhà nước cũn hạn chế thỡ vấn đề này cần phải được quan tâm giải quyết.
Có được chủ trương đầu tư đúng đắn cũng là cách để khắc phục sự lóng
phớ vốn đầu tư.
Thứ hai, xỏc định quy mụ đầu tư phự hợp trước mắt và lõu dài. Ở
đây chúng ta đề cập đến phạm vi về không gian, thời gian và mức vốn
đầu tư cho các chương trỡnh, mục tiờu, dự ỏn, cụng trỡnh. Trong thực
tiễn nhu cầu về đầu tư hết sức phong phú, đa dạng. Việc xác định quy mụ
đầu tư một cách hợp lý cho các chương trỡnh khụng hoàn toàn dễ dàng.
Nú phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở các địa phương trong
từng thời kỳ khác nhau.



24
Lấy ví dụ: Thường thỡ những cụng trỡnh nào cú tổng mức đầu tư
lớn sẽ đem lại kết quả nhiều hơn. Tuy nhiên ở miền núi cao không phải
lúc nào cũng vậy. Chẳng hạn như xây dựng một chiếc đập tràn để bảo
đảm giao thông nông thôn mùa mưa lũ. Trong trường hợp này nếu không
tính toán kỹ lưỡng tác động về mặt môi trường thỡ tiền vốn bỏ ra nhiều

để xây dựng một con đập lớn chưa hẳn đó đem lại hiệu quả lớn.
Đầu tư để xây dựng các trục đường quốc gia thỡ mức vốn đầu tư
phải hết sức lớn. Bởi lẽ địa hỡnh ở miền núi cao phức tạp, độ dốc lớn,
một bên là núi cao, một bờn là vực sõu, bị chia cắt nhiều bởi sụng suối;
nờn các cụng trỡnh đũi hỏi tớnh kỹ thuật cao, đầu tư phải lớn mới đảm
bảo giao thụng thụng suốt. Nếu quy mụ đầu tư không đáp ứng được điều
đó thỡ cụng trỡnh sẽ chúng hư hỏng và vốn đầu tư sẽ không đem lại hiệu
quả.
Bên cạnh đó vốn đầu tư của nhà nước mà bố trí nhỏ lẻ, dàn trải
manh mún hay diễn ra trong một khoảng thời gian quá dài cũng sẽ dễ mất
cơ hội để phát huy tác dụng, phát huy hiệu quả.
Thứ ba, tựy thuộc vào khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn mà xỏc
định thứ tự ưu tiờn các cụng trỡnh xõy dựng. Do tích luỹ của ngân sách
nhà nước hàng năm chưa cao nên thường là có khó khăn trong quỏ trỡnh
phẩn bổ vốn đầu tư. Hiện tượng co kéo vốn giữa lĩnh vực này với lĩnh
vực khác giữa vùng này với vùng khác và giữa các công trỡnh với nhau
dẫn đến tỡnh trạng thiếu vốn cục bộ ở từng giai đoạn đó khiến cho quỏ
trỡnh thực hiện đầu tư bị ảnh hưởng, tiến độ bị chậm trễ, thậm chí phải
ngừng một thời gian dài, gây lóng phí vốn đầu tư. Vỡ vậy, việc tớnh toỏn,
phõn bổ để đáp ứng kịp thời, đầy đủ vốn đầu tư theo đỳng thứ tự ưu tiờn là
một biện pháp để rút ngắn thời gian đầu tư, nhằm sớm đưa sản phẩm đầu tư
vào khai thác, hoạt động, phát huy hiệu quả.
Thứ tư, cơ chế quản lý vốn đầu tư. Đây là nội dung hết sức quan
trọng, bao gồm các yêu cầu như đầu tư Nhà nước phải phù hợp với chiến



25
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xó hội trong từng thời kỳ;
đầu tư vốn Nhà nước phải đúng mục tiêu, bảo đảm có phương thức quản

lý phự hợp đối với từng nguồn vốn, từng loại dự án đầu tư. Phân định rừ
trỏch nhiệm quyền hạn của các cơ quan, tổ chức cá nhân trong từng khâu
của quá trỡnh đầu tư, thực hiện phân công, phân cấp quản lý nhà nước về
đầu tư.
Để quản lý vốn đầu tư của Nhà nước, phải hoàn thiện một loạt các
công cụ quản lý kinh tế và kỹ thuật như: Ban hành các quy phạm đầu tư,
định mức vật tư, lao động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, thiết kế, dự
toán và chế độ thanh quyết toỏn sản phẩm cụng tỏc xõy lắp núi riờng và
đầu tư nói chung.v.v…
Để bảo đảm hiệu quả vốn đầu tư của Nhà nước, phải làm tốt cụng
việc thanh tra, kiểm tra, giám sát. Công tác này phải được tiến hành ở tất
cả các bước, các giai đoạn của quá trỡnh đầu tư. Sở dĩ như vậy vỡ chỳng
ta xỏc định mục đích chính của hoạt động này là nhằm kịp thời phát hiện,
khắc phục, sửa chữa và ngăn ngừa, để không xẩy ra hậu quả hoặc nếu có
thỡ hạn chế thiệt hại do vi phạm gõy ra, việc sử dụng các phương thức
thanh tra, kiểm tra, giám sát phải đa dạng, linh hoạt, phù hợp với điều
kiện cụ thể, kết hợp thanh tra, kiểm tra từ bên ngoài với thanh tra, kiểm
tra nội bộ, tăng cường giám sát tại chỗ và giám sát thông qua quy chế, cơ
chế quản lý. Xử lý nghiờm minh, kịp thời các hành vi vi phạm trong quản
lý vốn đầu tư của Nhà nước.
Thứ năm, năng lực đội ngũ cán bộ và các tổ chức, đơn vị tiếp nhận
đầu tư. Hoạt động đầu tư cũng là một dạng hoạt động đặc thù vỡ nú liờn
quan tới rất nhiều yếu tố, đặc biệt ở địa bàn miền núi cao lại càng phức
tạp hơn. Trong rất nhiều trường hợp, chủ trương đầu tư là đúng đắn, vốn
đầu tư đỏp ứng yêu cầu của thực tiễn… Nhưng do sự yếu kém của cán

×