Tải bản đầy đủ (.pdf) (146 trang)

Xây dựng một mạng Intranet và cung cấp dịch vụ thương mại điện tử.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.17 MB, 146 trang )

Luận văn
Xây dựng một mạng Intranet
và cung cấp dịch vụ thương
mại điện tử

1


LỜI MỞ ĐẦU
Từ giữa năm 1990 trở lại đây chúng ta đã chứng kiến sự bùng nổ trong sử dụng
Internet và nó có ảnh hưởng rất lớn tới các cá nhân, công ty và cả cơ quan giáo dục. Cuộc
cách mạng này đã làm thay đổi đáng kể cách thức tổ chức chỉ đạo của các doanh nghiệp
với khách hàng và giữa các doanh nghiệp với nhau. Những khoảng cách địa lý được coi là
giới hạn để cung cấp hàng hố và dịch vụ đã “sụp đổ” và các cơng ty cỡ lớn lại bận rộn
xây dựng các giải pháp giao dịch và thích nghi với phương thức kinh doanh mới. Mạng
Internet với những đặc tính thích ứng trong tương lai như dễ truy cập, thông tin thời gian
thực và giá thấp là một công cụ điều khiển thuận tiện cho những giải pháp giao dịch. Xa
hơn nữa, những lợi thế cạnh tranh đã được dụ dỗ và hứa hẹn đối với các công ty thực hiện
dự án thương mại điện tử (Electronic Commercer) đó là:


Mở rộng thị trường.



Tăng hiệu quả và độ chính xác trong suốt q trình ra lệnh xử lý, điều khiển
kiểm kê, quảng cáo, mua hàng, vv.



Giảm bớt những lao động nặng nhọc.





Giá cả mọi thứ sẽ thấp hơn.



Sự hỗ trợ và các dịch vụ đối với khách hàng tốt hơn.



Truyền thông tức khắc tới những khách hàng và các đối tác kinh doanh.



Cải thiện lãi suất lợi nhuận thông qua dây truyền cung cấp được tự động hoá.



Dự báo tốt hơn đối với những nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ của khách hàng.

Như vậy, giao dịch thương mại điện tử là gì ?
Chúng ta đề cập tới Thương mại điện tử với những giải pháp thương mại. Khi nói
đến Thương mại điện tử thường hiểu lầm sẽ bị giới hạn diễn ra quá trình mua và bán
hàng, các dịch vụ trên mạng Internet. Trên thực tế, những giải pháp thương mại là một số
lượng lớn quá trình tiến hành kinh doanh và chuyển giao tiền trên Internet. Chúng xác
định những hình thức mới về kinh doanh. Ngoài cung cấp các dịch vụ mua và bán hàng,
những giải pháp thương mại có thể cung cấp hệ thống các dịch vụ xây dựng một số hệ
thống mạnh của một tổ chức, như thế nó hỗ trợ q trình bán hàng và cung cấp tồn bộ
q trình quản lý thanh tốn.


2


Những dịch vụ được cung cấp để trợ giúp xây dựng nền tảng cho các giải pháp
thương mại thành công đó là:


Dịch vụ khách hàng: Cung cấp trình diễn, truy cập và thông qua các dịch vụ
tới những người sử dụng hệ thống thương mại.



Dịch vụ ứng dụng: Các quá trình cung cấp thơng tin bởi người dùng cơ sở dựa
trên công việc kinh doanh và dữ liệu logic. Cung cấp các dịch vụ Web, bảo mật
ứng dụng và các dịch vụ như là một điểm tích hợp các dịch vụ dữ liệu và lưu
trữ.



Dịch vụ lưu trữ: Thực hiện quản lý người dùng, xử lý sắp đặt, trao đổi thông
tin, thúc đẩy và chạy quảng cáo, xử lý cơ sở dữ liệu dựa trên logic kinh doanh
và các dịch vụ khác có liên quan đến thương mại.



Dịch vụ dữ liệu: Cung cấp các dịch vụ nhằm mục đích hướng tới lưu trữ dữ
liệu, đơn giản hoá sự truy cập chương trình và khả năng kế thừa dữ liệu.




Dịch vụ hệ điều hành: Chủ yếu bao gồm thư mục, bảo mật, quản lý và dịch vụ
truyền thông.



Dịch vụ phát triển: Cung cấp những công cụ cần thiết cho sự phát triển các
thành phần, phát triển dữ liệu tổ chức kinh doanh, phát triển nhóm, và hỗ trợ
phát triển cuộc sống.

Một vài đặc tính chung của một giải pháp thương mại dùng cho một hoặc nhiều
hơn những dịch vụ kể trên bao gồm :


Kết nối tất cả: Cung cấp truy cập khắp nơi tới hệ thống thông qua một giao
diện phổ biến.



Tiếp thị: Công bố các sản phẩm và các dịch vụ.



Việc bán hàng: Tạo ra danh sách đơn hàng bán hàng cho những sản phẩm .



Phương thức thanh toán: Cho phép dùng thẻ tín dụng và các phương thức
thanh tốn khác song song với chuyển giao tiền điện tử.




Thi hành: Xử lý đơn đặt hàng và phân phối sản phẩm.



Hỗ trợ: Cung cấp trước thời gian và gửi thư giúp đỡ khách hàng nhằm thu hút
tạo ra nhiều khách hàng hơn.



Quản lý kiểm kê: Duy trì và báo cáo kiểm kê tình trạng.

3




Truyền thơng an tồn: Truyền thơng nhanh, hiệu quả, đáng tin cậy đối với
khách hàng và các đối tác.

4


CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU MỞ ĐẦU
I. Tổng quan
Công ty thương mại châu Á (ACC: Asia Commerce Company) là một tổ chức
cung cấp tất cả các thiết bị máy tính, các thiết bị phần cứng mạng, các thiết bị tin học
khác và các dịch vụ mạng cho thị trường.
Trong khi mạng Intranet đang nhanh chóng được các cơng ty kỹ thuật thích ứng sử

dụng để chuyển giao thơng tin tới người lao động, các khách hàng và các đối tác của họ
và đặc biệt với sự bùng nổ của Internet như hiện nay. Như vậy, Cơng ty thương mại châu
Á có một kế hoạch: “Xây dựng một mạng Intranet và cung cấp dịch vụ thương mại điện
tử ”. Bởi việc kết nối mạng Intranet của cơng ty với mạng máy tính toàn cầu (Internet)
phục vụ cho nhu cầu mở rộng kinh doanh của họ trên khắp thế giới.

II. Lý do chọn Đề tài

1. Thích hợp
Sau 4 năm học tại Khoa Cơng nghệ Điện tử - Thông tin Viện Đại học Mở Hà Nội.
Tôi nhận thấy rằng đề tài này rất phù hợp với khả năng của tôi.

2. Đáp ứng được các yêu cầu của công ty








Mở rộng công việc kinh doanh của cơng ty.
Dễ dàng trong quản lý.
Giảm bớt chi phí.
Có nhiều thuận lợi hơn.
Dễ hơn trong việc quảng cáo và phân phối sản phẩm của công ty tới
khách hàng.
Phục vụ khách hàng tốt hơn.

III. Thực hiện Đề tài

1. Nhiệm vụ

- Xây dựng mạng Intranet cho Công ty thương mại châu Á
- Phát triển một ứng dụng Web cho việc quản lý và kinh doanh trực tuyến.
5


2. Yêu cầu về con người
Để làm dự án này địi hỏi người thực hiện phải có khả năng phân tích hệ thống,
quản trị cơ sở dữ liệu, thiết kế Web và khả năng lập trình.

3. Những yêu cầu về kỹ thuật
Phần cứng: Trong hệ thống này, các thiết bị phần cứng tối thiểu cần có là:
1. Một mạng Intranet
2. Truy cập từ xa
3. Sever
4. Database Server
5. Clients
Phần mềm: Trong hệ thống này, các yêu cầu về phần mềm như sau:
1. WindowNT Server 4.0 hoặc cao hơn
2. SQL Server 7.0 hoặc cao hơn
3. Internet Explorer 40 hoặc cao hơn

4. Kế hoạch thực hiện đề tài
Đề tài được bắt đầu từ tháng 3/2004 và kết thúc vào 15/06/2004. Nó bao gồm các
giai đoạn như sau đây.

Nghiên cứu tổng quan về mạng
máy tính và TMĐT (15 ngày)


Hồn thành dự án 1: Xây dựng
hệ thống mạng Intranet (1
tháng)
Hoàn thành dự án 2: Phát triển
một ứng dụng TMĐT (1,5
tháng)
Kiểm tra và chạy chương trình
(15 ngày)

6


5. Chi phí thực hiện đề tài
Dự án này làm để hỗ trợ những yêu cầu của Công ty thương mại châu Á. Những
ước lượng về chi phí yêu cầu như sau:


Phần cứng:

20.000 USD



Phần mềm:

1500 USD



Nguồn cấp điện:




Ngày công:

Tổng cộng:

570 USD
2200 USD
24.270 USD

VI. Kết luận
Sau những điều tra nghiên cứu, phân tích và ước lượng những u cầu, nhiệm vụ
tơi quyết định thực hiện đề tài: “Xây dựng mạng Intranet và phát triển ứng dụng
thương mại điện tử”.

CHƯƠNG II: MÔ TẢ ĐỀ TÀI
I. Tổng quan về Đề tài
1. Tổng quan
Công ty thương mại châu Á là một tổ chức cung cấp tất cả các thiết bị máy tính, các
thiết bị phần cứng mạng, các thiết bị tin học khác và các dịch vụ mạng cho thị trường.

7


Trong khi mạng Intranet đang nhanh chóng được các cơng ty kỹ thuật thích ứng sử
dụng để chuyển giao thơng tin tới các nhân viên, các khách hàng, các đối tác của họ và
đặc biệt với sự bùng nổ của Internet như hiện nay. Như vậy, Công ty thương mại châu Á
có một kế hoạch thực hiện: “Xây dựng một mạng Intranet và phát triển một ứng dụng
thương mại điện tử ”. Bởi vì, việc kết nối mạng Intranet của cơng ty với mạng máy tính

tồn cầu (Internet) phục vụ cho nhu cầu mở rộng kinh doanh của công ty trên khắp thế
giới.

2. Các yêu cầu
Thiết kế một mạng Intranet và phát triển một ứng dụng thương mại điện tử cho
công ty thương mại điện tử châu Á (ACC: Asial Commercial Company). Các yêu cầu
này được chia thành các giai đoạn thực hiện như sau:

2.1. Giai đoạn 1: Thiết kế một mạng Intranet
Để xây dựng một mạng Intranet chúng ta đi theo ba bước như sau:
 Bước 1: Xây dựng Intranet Backbone
 Bước 2: Hoàn thành Intranet
 Bước 3: Kết nối Internet

2.2. Giai đoạn 2: Phát triển một ứng dụng Thương mại điện tử
Trong phần này, để phát triển một ứng dụng thương mại điện tử chúng ta cần thiết
kế và triển khai một ứng dụng Web phục vụ cho việc quản lý và bán hàng qua mạng của
công ty.

8


Bố cục của trang Web như sau:

a. Trang chủ
Trang chủ có những chức năng sau đây:
 Đăng nhập người dùng: Chỉ những nhân viên của công ty ACC.
 Hai thực đơn thả xuống (Pull down menu) đó là các thiết bị máy tính và các
thiết bị mạng: Dùng cho khách hàng chọn lựa các sản phẩm.
 Thủ tục tìm kiếm: Dùng cho khách hàng muốn tìm kiếm sản phẩm.

 Trợ giúp: Màn hình hiển thị trợ giúp khi nào chúng ta yêu cầu.
 Trình bày những sản phẩm quảng cáo.

b. Các trang Web liên quan khác
Các trang này cho phép hiển thị tất cả các sản phẩm và dịch vụ của công ty cũng
như cho phép khách hàng xem xét, lựa chọn sản phẩm và đặt hàng qua mạng.

c. Các Module chương trình
 Quản lý Khách hàng
 Quản lý Sản phẩm
 Thu thập và Quản lý Đơn đặt hàng

9


II. Tổng quan về mạng máy tính
1. Mơ hình OSI
1.1. Tổng quan về mơ hình OSI
Trong khi thiết kế các nhà thiết kế tự do chọn lựa kiến trúc mạng riêng của mình.
Từ đó dẫn đến tình trạng khơng tương thích giữa các mạng, đó là: phương pháp truy cập
đường truyền khác nhau, sử dụng họ giao thức khác nhau…Sự khơng tương thích đó gây
trở ngại cho sự tương tác của người sử dụng các mạng khác nhau. Trong khi đó nhu cầu
trao đổi thơng tin của người sử dụng ngày càng tăng.
Chính vì lý do này, năm 1984 Tổ chức tiêu chuẩn Quốc tế ISO (International
Organization for Standarlization) đã đưa ra mơ hình tham chiếu cho việc kết nối các hệ
thống mở (Reference Model for Open Systems Interconnection). Mô hình này là cơ sở để
kết nối các hệ thống mở phục vụ cho các ứng dụng phân tán.
APPLICATION




Tầng vật lý (Physical layer)



Tầng liên kết dữ liệu (Data link layer)



Tầng mạng (Network layer)



Tầng giao vận (Transport layer)



Tầng phiên (Session layer)



Tầng trình diễn (Presentation layer)

DATA LINK



Tầng ứng dụng (Application layer)

PHYSICAL


REPRESENTATION

SESSION

TRANSPORT

NETWORK

APPLICATION

Hình 1.1: Mơ hình OSI
Chức năng của mỗi tầng trong mơ hình OSI


Tầng vật lý (Physical): Có nhiệm vụ truyền dịng bít khơng có cấu trúc qua
đường truyền vật lý, truy cập đường truyền vật lý bằng phương tiện cơ, hàm,
thủ tục.

10




Tầng liên kết dữ liệu (Data link): Cung cấp phương tiện truyền thông tin
qua liên kết vật lý đảm bảo tin cậy, gửi các khối dữ liệu (Frame) với các chế
độ đồng bộ hoá, kiểm soát lỗi và kiểm soát luồng dữ liệu cần thiết.




Tầng mạng (Network): Thực hiện chọn đường và chuyển tiếp thông tin với
công nghệ chuyển mạch thích hợp, thực hiện kiểm sốt luồng dữ liệu cần
thiết.



Tầng giao vận (Transport): Thực hiện việc truyền dữ liệu giữa hai đầu nút
(End to End), thực hiện cả việc kiểm soát lỗi và kiểm soát luồng dữ liệu giữa
hai đầu nút. Cũng thực hiện việc ghép kênh (Multiplexing), tách hay ghép dữ
liệu nếu cần thiết.



Tầng phiên (Session): Cung cấp phương tiện quản lý truyền thông giữa các
ứng dụng, thiết lập duy trì, đồng bộ hố và huỷ bỏ các phiên truyền thơng
giữa các ứng dụng.



Tầng trình diễn (Presentation): Chuyển đổi cú pháp dữ liệu để đáp ứng nhu
cầu truyền dữ liệu của các ứng dụng qua môi trường OSI.



Tầng ứng dụng (Application): Cung cấp các phương tiện để người sử dụng
có thể truy nhập vào mơi trường OSI, đồng thời cung cấp các dịch vụ thông
tin phân tán.

1.2. Tầng vật lý
 Chức năng của tầng vật lý:

Tầng vật lý là tầng thứ nhất và thấp nhất trong mơ hình OSI. Tầng này truyền
luồng bít thơ qua phương tiện vật lý (như cáp mạng). Tầng vật lý liên kết các giao diện
hàm, cơ, quang và điện với cáp. Tầng này cũng chuyển tải những tín hiệu truyền dữ liệu
do các tầng trên tạo ta.
Tầng vật lý định nghĩa phương pháp kết nối cáp với card mạng. Chẳng hạn, nó
định nghĩa rõ bộ nối có bao nhiêu chân và chức năng của mỗi chân. Tầng này cũng định
nghĩa rõ kỹ thuật truyền nào sẽ được dùng để gửi dữ liệu lên cáp.
Tầng vật lý chịu trách nhiệm truyền bít (0 và 1) từ máy tính này sang máy tính
khác. Ở cấp độ này, bản thân bít khơng có ý nghĩa rõ rệt. Tầng vật lý định nghĩa rõ mã
hoá dữ liệu và sự đồng bộ hố bít, bảo đảm rằng khi máy chủ gửi bit 1, nó được nhận bit 1

11


chứ không phải bit 0. Tầng này cũng định nghĩa rõ mỗi bit kéo dài bao lâu và được diễn
dịch thành xung điện hay xung ánh sáng thích hợp cho cáp mạng như thế nào.

 Giao thức liên quan đến lớp này:
CCITT X.21: Kết nối 15 chân cho mạng chuyển mạch kênh.
CCITT X.21 BITS: Kết nối 24 chân tương đương với chuẩn EIA RS_232 C.
802.3: (IEEE 802.3) Chuẩn Ethernet.
802.4: (IEEE 802.4) Chuẩn Token.
802.5: (IEEE 802.5) Chuẩn Token Ring.

1.3. Tầng liên kết dữ liệu
 Chức năng của tầng liên kết dữ liệu:
Tầng liên kết dữ liệu là tầng thứ 2 trong mơ hình OSI, nó có nhiệm vụ gửi khung
dữ liệu (data frame) từ tầng mạng đến tầng vật lý. Ở đầu nhận, tầng liên kết dữ liệu đóng
gói dữ liệu thô (dữ liệu chưa xử lý) từ tầng vật lý thành từng khung dữ liệu. Khung dữ
liệu là một cấu trúc logic có tổ chức mà dữ liệu có thể được đặt vào.

Tầng liên kết dữ liệu chịu trách nhiệm chuyển khung dữ liệu khơng lỗi từ máy tính
này sang máy tính khác thơng qua tầng vật lý. Nó cho phép tầng mạng truyền dữ liệu gần
như không phạm lỗi qua kết nối mạng.
Thông thường, khi tầng liên kết dữ liệu gửi đi một khung dữ liệu và chờ tín hiệu
báo nhận từ máy nhận. Tầng liên kết dữ liệu của máy nhận sẽ dị tìm bất cứ vấn đề nào có
khả năng xảy ra trong q trình truyền. Khung dữ liệu nào không được báo nhận hoặc bị
hư tổn trong quá trình truyền sẽ bị gửi trả lại.

 Giao thức của tầng liên kết dữ liệu:
Giao thức của tầng liên kết dữ liệu bao gồm giao thức liên kết dữ liệu đồng bộ và
giao thức liên kết dữ liệu không đồng bộ.
Trong giao thức liên kết dữ liệu đồng bộ gồm có định hướng ký tự và định hướng
bít.
Sự truyền định hướng ký tự được sử dụng chủ yếu đối với trường hợp truyền khối
các ký tự, như file của các ký tự ASCII. Khi khơng có bít bắt đầu hoặc ngừng lại trong
truyền đồng bộ, một phương pháp lựa chọn được thực hiện truyền đồng bộ ký tự cần được
thành lập. Để thực hiện được máy phát cần tăng hai hoặc hơn các ký tự điều khiển truyền.
Các ký tự điều khiển này có hai chức năng. Trước hết chúng cho phép máy thu thu được

12


bit đồng bộ. Hai là chúng cho phép máy thu bắt đầu phiên dịch dòng bit nhận được với
ranh giới chính xác.
Sự truyền đồng bộ hướng bít. Cần thiết cho một cặp các ký tự tại nơi bắt đầu và kết
thúc của mỗi khung cho sự đồng bộ khung, được nối hợp lại với sự bổ sung các ký tự
DLE để đạt được dữ liệu trong suốt. Biện pháp này là một sơ đồ điều khiển truyền hướng
ký tự tương đối không hiệu quả cho truyền dữ liệu nhị phân. Hơn nữa, khuôn thức của
những ký tự điều khiển truyền biến đổi cho tập hợp các ký tự khác nhau, tuy nhiên ngay
cả khi các nội dung khung có thể bắt đầu bằng số nhị phân.


1.4. Tầng mạng
 Chức năng của tầng mạng:
Tầng mạng chịu trách nhiệm lập địa chỉ các thông điệp, diễn dịch địa chỉ và tên
logic thành địa chỉ vật lý. Tầng này quyết định đường đi từ máy tính nguồn đến máy tính
đích. Nó quyết định dữ liệu sẽ truyền trên đường nào dựa vào tình hình mạng, ưu tiên
dịch vụ và các yếu tố khác. Nó cũng quản lý lưu lượng trên mạng chẳng hạn như chuyển
đổi gói, định tuyến, và kiểm sốt sự tắc nghẽn dữ liệu.
Nếu bộ thích ứng mạng trên bộ định tuyến (Router) không thể truyền đủ cả đoạn
dữ liệu mà máy tính nguồn gửi đi, tầng mạng trên bộ định tuyến sẽ chia dữ liệu thành
những đơn vị nhỏ hơn và gửi đi. Tại tầng mạng của máy nhận sẽ ráp nối lại dữ liệu ban
đầu mà máy nguồn gửi đi.

 Giao thức của tầng mạng:
IOS 847: Giao thức tầng mạng và đặc tả địa chỉ của kết nối dịch vụ mạng.
ISO 8208: Giao thức tầng mạng đặc tả cho cơ sở dịch vụ kết nối định hướng trên
đặc điểm kỹ thuật CCITT X.25.
CCITT X.25: Đặc tả cho kết nối dữ liệu các thiết bị đầu cuối đối với các mạng
chuyển mạch gói.
CCITT X.21: Đặc tả cho truy xuất mạng chuyển mạch kênh.

1.5. Tầng giao vận
 Chức năng của tầng giao vận:
Tầng giao vận cung cấp mức nối kết bổ sung bên dưới tầng phiên. Tầng này bảo
đảm gói dữ liệu truyền khơng phạm lỗi, theo đúng trình tự, khơng bị mất mát hay sao
chép. Nó đóng gói thơng điệp, chia thơng điệp dài thành nhiều gói và gộp các gói nhỏ

13



thành một bộ. Tầng này cịn cho phép gói dữ liệu được truyền hiệu quả trên mạng. Tầng
giao vận tại đầu nhận mở gói thơng điệp, lắp ghép lại thành thơng điệp gốc và gửi tín hiệu
báo nhận.

 Giao thức của tầng giao vận:
ISO 8072: Định nghĩa dịch vụ tầng giao vận của mơ hình OSI.
ISO 8073: Đặc tả giao thức tầng giao vận của mơ hình OSI.

1.6. Tầng phiên
 Chức năng của tầng phiên:
Tầng phiên cho phép hai chương trình ứng dụng trên các máy tính khác nhau thiết
lập, sử dụng và chấm dứt một kết nối gọi là phiên làm việc (session). Tầng này thi hành
thủ tục nhận biết tên và thực hiện các chức năng cần thiết (như bảo mật). Nó cho phép hai
chương trình ứng dụng giao tiếp với nhau qua mạng.
Tầng phiên cung cấp sự đồng bộ hoá (synchronization) giữa các tác vụ người dùng
bằng cách đặt những điểm kiểm tra (check point) vào luồng dữ liệu. Bằng cách này, nếu
mạng khơng hoạt động thì chỉ có dữ liệu truyền sau điểm kiểm tra cuối cùng mới phải
truyền lại. Tầng này cũng thi hành kiểm sốt hội thoại giữa các q trình giao tiếp, điều
chỉnh bên nào truyền, khi nào và trong bao lâu, v.v.

 Giao thức của tầng phiên:
ISO 8326: Định nghĩa dịch vụ tầng phiên của mơ hình OSI, bao gồm lớp vận
chuyển 0,1,2,3 và 4.
ISO 8327: Các đặc điểm kỹ thuật giao thức lớp phiên của mơ hình OSI.

1.7. Tầng trình diễn
 Chức năng của tầng trình diễn:
Tầng trình diễn quyết định dạng thức dùng trao đổi dữ liệu giữa các máy tính
mạng. Người ta có thể gọi đây là bộ dịch mạng. Ở máy tính gửi, tầng này diễn dịch dữ
liệu từ dạng thức do tầng ứng dụng gửi xuống sang dạng thức trung gian mà ứng dụng

nào cũng có thể nhận biết. Ở máy tính nhận, tầng này diễn dịch dạng thức trung gian
thành dạng thức thích hợp cho tầng ứng dụng của máy tính nhận. Tầng này cũng chịu
trách nhiệm chuyển đổi giao thức, diễn dịch dữ liệu, mã hoá dữ liệu, thay đổi hay chuyển

14


đổi bộ ký tự và mở rộng lệnh đồ hoạ. Nó cũng quản lý các cấp độ nén dữ liệu nhằm giảm
số bít cần truyền.

 Giao thức của tầng trình diễn:
ISO 8822.23.24: Đặc điểm kỹ thuật lớp trình diễn.
ISO 8649/8650: Đặc điểm kỹ thuật và giao thức các ứng dụng phổ biến và các
phần tử dịch vụ.

1.8. Tầng ứng dụng
 Chức năng của tầng ứng dụng:
Tầng ứng dụng đóng vai trò như cửa sổ dành cho hoạt động xử lý của trình ứng
dụng nhằm truy nhập các dịch vụ mạng. Tầng này biểu diễn những dịch vụ hỗ trợ trực
tiếp các ứng dụng người dùng, chẳng hạn phần mềm chuyển tập tin, truy nhập cơ sở dữ
liệu và E-mail. Tầng thấp hơn hỗ trợ những tác vụ được thực hiện ở mức ứng dụng. Nó có
nhiệm vụ xử lý truy nhập mạng chung, kiểm soát luồng và phục hồi lỗi.

 Giao thức của tầng ứng dụng:
x.400: Đặc điểm kỹ thuật lớp ứng dụng mơ hình OSI đối với q trình truyền thông
điệp điện tử (thư điện tử- Electronic mail).
FTAM: Đặc điểm kỹ thuật lớp ứng dụng OSI đối với truy cập và quản lý chuyển
tập tin.
FTP: Giao thức chuyển tập tin.


1.9. Những đặc điểm của mơ hình OSI
Bảy tầng của mơ hình tham chiếu OSI có thể chia ra thành hai loại: những tầng
trên và những tầng thấp hơn.
Những tầng trên của mơ hình OSI xoay quanh các vấn đề ứng dụng và nói chung
được thực thi chỉ trên phần mềm. Tầng cao nhất, tầng ứng dụng là gần gũi với người sử
dụng hơn hết. Cả những người sử dụng lẫn tầng ứng dụng đều xử lý tương tác với phần
mềm ứng dụng mà trong đó bao gồm một thành phần truyền thơng. Gói tin tầng cao đơi
khi được sử dụng để tham chiếu tới tầng trên khác trong mô hình OSI.
Những tầng thấp của mơ hình OSI định nghĩa phương tiện vật lý của mạng và các
tác vụ liên quan, như đưa bít dữ liệu lên card mạng và cáp. Tầng vật lý và tầng liên kết dữ
liệu được thực thi trên phần cứng và phần mềm. Các tầng thấp khác nói chung chỉ thực thi
trong phần mềm. Tầng thấp nhất, tầng vật lý là gần gũi với môi trường mạng vật lý.

15


Mơ hình OSI cung cấp một cơ cấu tổ chức nhận thức cho truyền thơng giữa các
máy tính, nhưng chính bản thân nó khơng phải là một phương pháp của truyền thơng.
Thực tế truyền thơng có thể được thực hiện bởi việc sử dụng những giao thức truyền
thông. Trong phạm vi của mạng dữ liệu, một giao thức hệ điều hành thiết lập một định
dạng cho những qui tắc và qui ước nhằm quản lý sao cho những máy tính trao đổi thông
tin qua một môi trường mạng. Một giao thức thực hiện các chức năng của một hoặc nhiều
lớp trong mơ hình OSI. Một tính chất mở rộng của những giao thức truyền thông tồn tại,
nhưng tất cả được hướng tới chia thành một trong số các nhóm giao thức như sau: giao
thức mạng cục bộ, giao thức mạng diện rộng, giao thức mạng và giao thức định tuyến.
Những giao thức mạng cục bộ hoạt động tại lớp liên kết dữ liệu và lớp vật lý của mơ hình
OSI, chúng xác định truyền thông qua các phương tiện khác nhau của mạng cục bộ.
Những giao thức mạng diện rộng hoạt động tại lớp thứ ba của mơ hình OSI và xác định
truyền thông qua các phương tiện khác nhau của mạng diện rộng. Những giao thức định
tuyến là các giao thức lớp mạng chịu trách nhiệm xác định đường dẫn và chuyển lưu

lượng chuyển mạch. Cuối cùng, các giao thức mạng là các giao thức lớp trên khác nhau
được tồn tại trong một bộ giao thức đã được qui định.

1.10. Mơ hình OSI và truyền thơng giữa những hệ thống
Thông tin chuyển từ một phần mềm ứng dụng trong một hệ thống máy tính tới một
phần mềm ứng dụng trong một hệ thống khác phải đi xuyên qua các lớp của mơ hình OSI.
Nếu cho ví dụ một phần mềm ứng dụng trong hệ thống A có thơng tin truyền tới một phần
mềm ứng dụng trong hệ thống B, chương trình ứng dụng trong hệ thống sẽ chuyển thơng
tin qua lớp ứng dụng (lớp 7) của hệ thống A. Sau đó lớp ứng dụng của hệ thống A sẽ
chuyển thơng tin cho lớp trình diễn (lớp 6), sau đó chuyển tiếp dữ liệu tới lớp phiên (lớp
5), và cứ như thế cho tới lớp vật lý (lớp 1). Tại lớp vật lý của hệ thống A, thông tin được
đặt vào môi trường mạng lớp này và được gửi ngang qua môi trường tới hệ thống B. Lớp
vật lý của hệ thống B lấy thông tin từ môi trường vật lý hệ thống A và sau đó lớp này di
chuyển thông tin lên trên lớp liên kết dữ liệu (lớp 2), sau đó chuyển chúng được chuyển
lên lớp mạng (lớp 3), và cứ như thế đến khi thông tin được chuyển đến lớp ứng dụng (lớp
7) của hệ thống B. Cuối cùng, lớp ứng dụng của hệ thống B chuyển thơng tin tới chương
trình ứng dụng nhận để hồn thành q trình truyền thơng.

1.11. Các lớp mơ hình OSI và sự trao đổi thơng tin
Mơ hình OSI là kiến trúc chia truyền thông mạng thành bảy tầng. Mỗi tầng bao
gồm những hoạt động, thiết bị và giao thức mạng khác nhau. Phân tầng nhằm định rõ

16


chức năng và dịch vụ ở các cấp độ khác nhau. Mỗi tầng OSI có những chức năng mạng
định rõ, và các chức năng của mỗi tầng giao tiếp với chức năng của tầng ngay bên trên
hoặc ngay bên dưới nó. Chẳng hạn, tầng phiên phải tương tác với tầng trình diễn và tầng
giao vận.
Tầng thấp nhất (1 và 2) định nghĩa phương tiện vật lý của mạng và các tác vụ liên

quan, như đưa bít dữ liệu lên card mạng và cáp. Tầng cao nhất định nghĩa cách thức
chương trình ứng dụng truy cập các dịch vụ truyền thơng. Tầng càng cao, nhiệm vụ của
tầng càng trở nên phức tạp.
Mỗi tầng cung cấp dịch vụ hoặc hoạt động chuẩn bị dữ liệu để chuyển giao qua
mạng đến máy tính khác. Các tầng được phân chia bằng những ranh giới được gọi là giao
diện. Mọi yêu cầu đều được chuyển từ tầng này qua giao diện rồi đến tầng tiếp theo. Mỗi
tầng xây dựng dựa trên tiêu chuẩn và hoạt động của tầng bên dưới.
Mục đích của mỗi tầng là cung cấp dịch vụ cho tầng ngay bên trên và bảo vệ tầng
trên tránh khỏi những chi tiết về các dịch vụ thực sự được thi hành như thế nào. Các tầng
được thiết lập theo cách thức qua đó mỗi tầng hoạt động như thể nó đang giao tiếp với
tầng đối tác của nó trong máy tính khác. Đây là dạng giao tiếp ảo hay còn gọi là giao tiếp
logic giữa những tầng đồng mức. Thật sự là giao tiếp xảy ra giữa các tầng kế cận nhau
trên một máy tính. Ở mỗi tầng, có một phần mềm thi hành một số chức năng mạng nhất
định theo một tập hợp giao thức nhất định.
Trước khi dữ liệu được chuyển từ tầng này qua tầng khác, nó được chia thành
nhiều gói (packet). Gói là đơn vị thơng tin được truyền như một khối thiết bị này tới thiết
bị khác trong mạng. Mạng chuyển gói từ tầng phần mềm này sang tầng phần mềm khác
theo thứ tự tầng. Ở mỗi tầng, phần mềm bổ sung thông tin định dạng hay địa chỉ (address)
cho gói, điều này làm cho gói được chuyển giao đúng nơi trên mạng.
Ở đầu nhận gói đi qua các tầng theo thứ tự ngược lại. Mỗi phần mềm tiện ích trên
từng tầng sẽ đọc thơng tin này trên gói, tước bỏ thông tin đi rồi chuyển lên tầng tiếp theo.
Khi gói được chuyển đến tầng Applicatin, mọi thơng tin địa chỉ đã bị tước đi và gói lại
dạng thức ban đầu mà máy nhận có thể đọc được.
Ngoại trừ tầng thấp nhất trong mơ hình mạng, khơng tầng nào có thể chuyển trực
tiếp thơng tin sang đối tác của mình trên máy tính khác. Thơng tin trên máy tính ở đầu gửi
phải được chuyển qua mọi tầng thấp hơn. Thơng tin này sau đó truyền qua cáp mạng đến
máy tính nhận rồi được chuyển lên từng tầng mạng của máy tính đó, cho tới khi đến được
cùng tầng đã gửi thơng tin trên máy tính đầu gửi. Ví dụ, nếu gửi thông tin từ tầng

17



Network của máy tính A, thơng tin sẽ được di chuyển xuống tầng Data link và Physical
của máy tính này và truyền qua cáp, chạy từ tầng Physical và Data Link ở máy nhận, đến
đích của nó là tầng Network trên máy tính B. Khi gửi thơng tin từ tầng mạng máy tính A
sang tầng mạng máy tính B có thể là địa chỉ mạng và khơng chừng cũng có một số thơng
tin kiếm lỗi được thêm vào gói.
Tương tác giữa các tầng kế cận diễn ra qua một giao diện. Giao diện định rõ tầng
mạng dưới sẽ cung cấp những dịch vụ nào cho tầng trên, và định rõ những dịch vụ này sẽ
được truy nhập như thể chúng đang giao tiếp trực tiếp với tầng tương ứng trên máy tính
khác.

1.12. OSI và TCP/IP

Hình1.12 a: OSI và TCP/IP
Sự tiếp nhận của TCP/IP không mâu thuẫn với những tiêu chuẩn OSI bởi vì chúng
phát triển đồng thời. Trong một số trường hợp, TCP/IP bổ sung cho OSI, và ngược lại.
Vài sự khác nhau quan trọng được tồn tại do nảy sinh từ những yêu cầu cơ bản của
TCP/IP, đó là:
 Một tập hợp chung của các ứng dụng.
 Tạo đường tải động.
 Các giao thức không kết nối tại mức nối mạng.

18


 Kết nối phổ biến.
 Chuyển mạch gói.
Sự khác nhau giữa kiến trúc OSI và TCP/IP đó là TCP/IP liên quan đến các lớp ở
trên mức vận chuyển và những vấn đề tại mức mạng. OSI có cả hai lớp phiên và lớp trình

diễn, trong khi TCP/IP kết hợp cả hai trong một tầng ứng dụng. Do yêu cầu cho một giao
thức khơng kết nối cũng địi hỏi TCP/IP kết hợp tầng vật lý và tầng liên kết dữ liệu của
mơ hình OSI trong một mức mạng. TCP/IP cũng kết hợp tầng trình diễn và tầng phiên của
mơ hình OSI trong tầng ứng dụng của TCP/IP. Hình 1.12b diễn tả cấu trúc phân lớp của
TCP/IP so với mơ hình 7 lớp của OSI. TCP/IP gọi những phần tử mức mạng khác nhau là
những mạng con (subnetworks).

Hình1.12 b: OSI và cấu trúc phân lớp TCP/IP
OSI và TCP/IP không phải là không tương thích, nhưng cả hai đều khơng hồn
tồn tương thích. Cả hai mơ hình này đều có một kiến trúc phân lớp. Kiến trúc mơ hình
OSI thì được định nghĩa nghiêm khắc hơn nhiều và các lớp độc lập hơn so với TCP/IP.
Một vài sự quan trọng hoá đã tạo khoảng cách kết hợp mức mạng, mặc dù nó sớm
trở thành hiển nhiên mà sự tranh cãi diễn ra lập luận hoàn toàn lý thuyết, trong khi sự thi
hành của mơ hình OSI kết hợp hai mức liên kết và vật lý trên một bộ điều khiển thông
minh (như là card mạng). Sự kết hợp của hai tầng chỉ trong một tầng có một lợi ích chủ
yếu: nó cho phép một mạng con sẽ được thiết kế độc lập với bất kỳ giao thức mạng, bởi
vì TCP/IP khơng nhớ tới các chi tiết. Ở đây cho phép quyền sở hữu các mạng độc lập để
thực thi các giao thức TCP/IP cho kết nối bên ngồi những hệ thống khép kín.
Cách tiếp cận lớp đem đến tên TCP/IP. Lớp giao vận sử dụng Transmission
Control Protocol (TCP) hoặc một trong số vài biến đổi như là trình nghi thức gói dữ liệu
người sử dụng (UDP: User Datagram Protocol). Có nhiều giao thức khác đang sử dụng

19


nhưng TCP và UDP là phổ biến nhất. Tuy nhiên ở đây, chỉ có một giao thức cho mức
mạng đó là giao thức Internet (IP: Internet Protocol). Đây là điều đảm bảo hệ thống của
kết nối phổ biến, một trong những mục đích thiết kế quan trọng nhất.
Ở đây một số lượng đáng kể sự thúc đẩy từ phía cơng chúng sử dụng đến việc từ
bỏ mơ hình OSI và bất cứ sự phát triển các giao thức truyền thông trong tương lai. Điều

này làm cho TCP/IP được chiếu cố đến trong sự tranh cãi tuỳ thuộc vào những lý luận
hiển nhiên:
 TCP/IP có một thiết lập chức năng người quản lý.
 Hàng ngàn ứng dụng hiện nay sử dụng TCP/IP và nó cung cấp tốt các giao
diện cho chương trình ứng dụng tài liệu.
 TCP/IP là cơ sở cho hầu hết các hệ thống UNIX, nó dành được sự phân
phối rộng lớn của thị trường hệ điều hành (ngoài các máy sử dụng màn
hình đơn như là PC và Macintosh).
 TCP/IP là nhà cung cấp độc lập.
Sự tranh cãi khá căng thẳng chống lại TCP/IP của chính chính phủ Mỹ, những
người bảo trợ chúng trong lần đầu tiên đủ làm chúng ta ngạc nhiên. Chính sự tranh luận
của họ cho là TCP/IP không phải là một tiêu chuẩn được chấp nhận tồn cầu, trong khi
OSI được cơng nhận. DoD còn bắt đầu di chuyển hết các hệ thống thiết lập từ giao thức
TCP/IP. Một thoả hiệp hầu như chắc chắn xảy ra, với một vài khía cạnh chấp nhận OSI
trong khi vẫn phát triển bộ giao thức TCP/IP.

2. Cấu hình mạng (Network topology)
2.1.Tổng quan
Cấu hình có liên quan tới các biện pháp của mạng máy tính đó là kết nối cáp và các
thành phần khác của mạng là kết nối vật lý. Mỗi topology phù hợp với từng đặc điểm
nhiệm vụ và nó có những ưu điểm và nhược điểm riêng.
Chọn lựa cấu hình phụ thuộc vào:


Khn mẫu và số lượng thiết bị sử dụng.



Kế hoạch ứng dụng và tốc độ truyền dữ liệu.




Yêu cầu về thời gian đáp ứng.



Chi phí.

Những kiểu khác nhau của bộ điều hợp cáp mạng, hệ điều hành mạng và các thành
phần khác, điều đó địi hỏi các topology khác nhau.

20


Topology mạng có thể quyết định thơng tin được truyền giữa tất cả các máy tính
trong mạng. Đối với các thông tin khác nhau yêu cầu topology khác nhau và điều đó có
ảnh hưởng rất nhiều đến mạng.
Topology mạng được gọi tên căn cứ vào phân loại mạng khác nhau của các máy
tính được kết nối.
Topology mạng ảnh hưởng tới khả năng của mạng. Nó có thể quyết định đến các
thiết bị sử dụng, làm sao để các máy tính có khả năng tương tác với nhau trên mạng. Các
topology khác nhau yêu cầu các phương pháp tương tác khác nhau và các phương pháp
này ảnh hưởng rất lớn đến mạng. Tuy nhiên mỗi topology thích hợp với các đặc điểm
nhiệm vụ và chúng có các ưu điểm và nhược điểm riêng.

2.2. Ba kiểu topology chính của mạng máy tính.


Bus




Star



Ring

Cấu hình Bus dùng một phân đoạn đường trục (theo chiều dài của cáp) mà tất cả
các host được kết nối trực tiếp vào đó. Cấu hình Ring nối một host vào vị trí kế và host
sau cùng vịng ra vị trí đầu tiên. Điều này tạo ra một vịng vật lý của cáp. Cấu hình Start
nối tất cả các cáp vào một điểm trung tâm tập trung. Điểm này thường là một hub hay một
Switch.
a. Bus topology:
Trong cấu hình Bus tất cả các thiết bị muốn liên lạc với nhau được kết nối qua một
cáp dài. Khơng có điểm phân phối trung tâm trong trường hợp này. Cấu hình này u cầu
mất ít dây cáp hơn so với cấu hình Start. Cấu hình Bus có một nhược điểm chính: sự thiệt
hại tới bất kỳ thành phần nào của cáp Bus làm vơ hiệu hố tồn bộ phân đoạn mà các máy
tính kết nối tới bus qua những đầu nối.

21


Hình 2.2a: Bus Topology
Phân đoạn bus thường được gọi là đường trục chính bus (backbone bus). Cáp
đường trục chính hoặc phân đoạn cáp này phải được kết thúc tại cả hai đầu nút để ngăn
ngừa sự dội ngược tín hiệu từ điểm đầu và kết thúc của cáp. Các Terminator (điện trở
cuối) là một bộ phận được đặt ở mỗi đầu cáp để hấp thụ các tín hiệu tự do nhằm ngăn
chặn khơng cho tín hiệu dội. Việc hấp thụ tín hiệu sẽ làm thơng cáp và cho phép máy tính
có thể gửi tín hiệu.

Sự kết nối khác nhau của đường trục chính bus được gọi là phân đoạn (segment),
đồng thời qua các Repeater tạo thành một sự mở rộng của cấu hình Bus.
Cáp bus mang thơng báo truyền dọc theo cáp. Trong khi thông báo đi đến, tại mỗi
trạm làm việc máy tính kiểm tra địa chỉ nơi gửi đến bao gồm như xem xét thông báo nếu
nhận thấy nó có phù hợp. Nếu địa chỉ khơng phù hợp, trạm làm việc khơng làm gì hơn.
Nếu trạm làm việc nhận thấy địa chỉ phù hợp chứa đựng trong thông báo, trạm làm
việc xử lý thông báo. Thông báo được truyền dọc theo cáp và có thể tới tất cả các máy
tính kết nối tới cáp đó.
Nếu một trạm làm việc khơng hoạt động nó khơng ảnh hưởng tới vị trí khác từ nó.
 Những đặc điểm:
Tất cả các trạm làm việc kết nối tới cùng phân đoạn cáp
Thông thường sử dụng cho thực hiện Ethernet
Cáp được hoàn thành tại mỗi điểm kết thúc.
Sự nối dây thông thường được thực hiện từ điểm đến điểm.
Trạm làm việc hoặc cáp mắc lỗi sẽ làm cho tồn bộ mạng
LAN khơng hoạt động.
6. Nếu sử dụng 2 dây, thông thường là cáp đồng trục.
1.
2.
3.
4.
5.

22


 Nó làm việc như thế nào?
Cáp bus mang thơng báo truyền dọc theo cáp. Trong khi đi đến trạm làm việc, máy
tính trạm làm việc kiểm tra địa chỉ nơi gửi đến bao gồm thông báo để xem xét nó có phù
hợp hay khơng.

Nếu địa chỉ khơng phù hợp, trạm làm việc khơng làm gì hơn.
Nếu trạm làm việc thấy địa chỉ phù hợp chứa đựng trong thông báo, trạm làm việc
sẽ xử lý thông báo. Thông báo được truyền dọc theo cáp và có thể tới tất cả các máy tính
kết nối tới cáp.
Hình vẽ 2.2.a cho thấy rằng một số máy tính kết nối tới cáp bus, trong trường hợp
này, thực hiện bằng Thin Ethernet. Mỗi máy tính có một card mạng và thiết lập gắn trực
tiếp tới cáp mạng bus thay cho T- connector.
Trong những hệ thống bus, tất cả trạm cho phép truy cập tới cùng mơi trường cáp.
Bởi vậy các trạm của nó có thể đã truyền khi các trạm khác cũng muốn truyền. Như vậy
có 2 yêu cầu đặt ra cho một quá trình truyền trên một mạng bus:
1. Một trạm phải nghe để xác định xem trạm khác có truyền hay
khơng trước khi bắt đầu một quá trình truyền. Nếu mạng bận thì
trạm phải lùi lại và chờ đợi một khoảng thời gian ngẫu nhiên trước
khi truyền trở lại.
2. Một trạm nào đó truyền cần theo dõi mạng để thấy các trạm khác
bắt đầu truyền.

 Có 2 cách thực hiện lắp đặt dây cho mạng bus:
1. 10 base 2 (thin-net, mạng rẻ hơn) trở kháng 50-ohm, cáp sử dụng
đầu nối BNC, máy thu phát cung cấp card.
2. 10 base 5 (Thick Net) trở kháng 50-ohm, cáp sử dụng kiểu kết nối
15-pin AUID và trạm thu phát bên ngoài.
 Nhược điểm:
1.
2.
3.
4.

Giới hạn về độ dài cáp và số trạm làm việc.
Khó để cách ly lỗi mạng.

Một cáp hỏng ảnh hưởng tới tất cả các trạm làm việc.
Khi số trạm làm việc tăng lên thì tốc độ của mạng giảm xuống.

b. Ring topology

23


Trên mạng hình vịng Ring tín hiệu được truyền đi trên vòng theo một chiều duy
nhất. Mỗi trạm của mạng được nối với vòng qua một bộ chuyển tiếp (Repeater) có nhiệm
vụ nhận tín hiệu rồi chuyển tiếp đến trạm kế tiếp trên vịng. Như vậy tín hiệu được lưu
chuyển trên vòng theo một chuỗi liên kết điểm - điểm giữa các Repeter. Do đó cần có
giao thức điều khiển việc cấp phát quyền được truyền dữ liệu trên vòng mạng cho trạm có
nhu cầu. Để tăng độ tin cậy của mạng ta có thể lắp đặt thêm các vịng dự phịng nếu vịng
chính có sự cố thì vịng phụ sẽ được sử dụng.
Tín hiệu cần di chuyển từ thiết bị này đến thiết bị khác và truyền trở lại bởi mỗi
thiết bị cho dữ liệu đi tới nó trên vịng trịn.
Thiết bị cần sử dụng gửi thơng tin duy nhất khi chúng được điều khiển của
“token.” Token là một gói dữ liệu mà địi hỏi các thiết bị có điều khiển. Các thiết bị tiếp
nhận có chọn lọc lên trên token và sau đó dọn sạch nó khi cần dùng cho sử dụng khác để
có thể nhận thơng báo.

Hình 2.2b: Ring Topology
Trong mạng vòng, các trạm làm việc kết nối tới vịng vì thế nếu bất kỳ trạm làm
việc nào bị lỗi có thể bỏ qua.

 Những đặc điểm:
1. Các trạm làm việc kết nối tới vòng.
2. Lỗi các trạm làm việc có thể bỏ qua.
3. Yêu cầu cáp hơn so với Bus.

4. Các đầu nối sử dụng hướng tới một vài vấn đề mục tiêu.
5. Thường sử dụng để thực hiện token ring tại 4 và 16 mbps.
6. Bốn dây thông thường STP hoặc UTP.

24




Ưu điểm:
1. Sự hỏng cáp ảnh hưởng giới hạn đến những người sử dụng.
2. Sự truy cập ngang bằng nhau cho tất cả người sử dụng.
3. Mỗi trạm làm việc có đủ tốc độ truy cập tới vịng.
4. Số lượng trạm làm việc tăng lên hiệu suất giảm không đáng kể.



Nhược điểm:
1. Lắp đặt dây tốn kém.
2. Các kết nối khó.
3. Các card bộ điều hợp đắt.

c. Start topology

Hình 2.2c: Star Topology
Mạng hình sao có tất cả các trạm được kết nối với một thiết bị trung tâm có nhiệm
vụ nhận tín hiệu từ các trạm và chuyển đến trạm đích. Tuỳ theo u cầu truyền thơng trên
mạng mà thiết bị trung tâm có thể là bộ chuyển mạch (switch), bộ chọn đường (Router)
hoặc bộ phân kênh (Hub). Vai trò các thiết bị trung tâm này thực hiện việc thiết lập các
liên kết điểm - điểm (point to point) giữa các trạm.



Ưu điểm:
1. Dễ tăng trạm làm việc mới.
2. Điều khiển tập trung.
3. Mạng tập trung/bộ kiểm tra hub.



Nhược điểm:
Lỗi Hub làm tê liệt tất cả các trạm kết nối tới Hub đó.

25


×